Sign up
THÚ CHƠI TRANH NGÀY TẾT Tạp Bút TRẦN TRỌNG TRÍ
mangvienlong | 09 Feb, 2010, 19:00 | Bài viết của bạn văn | (13 Reads)



 

THÚ CHƠI TRANH NGÀY TẾT

            Tạp Bút  TRẦN TRỌNG TRÍ

 



 

          Thú chơi tranh dân gian và Tranh Tết, nét đẹp tao nhã của tiền nhân đã được khẳng định từ lâu. Vừa hồn nhiên, tươi sáng, vừa lắng đọng hồn dân tộc. Không khí, hình ảnh sẽ đậm đà khởi sắc khi mọi nơi trang hoàng nhà cửa, tô điểm những bức tranh thắm tươi tăng phần trang trọng cho mùa Xuân mới. Tranh Tết thể hiện sâu sắc giá trị thẩm mỹ, triết lý xã hội cùng ý nghĩa nhân văn vô cùng đặc sắc.





         
Không phải dân tộc nào cũng có một phong tục cổ truyền vô cùng đẹp đẽ như dân ta. Tết đến, cùng với "thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ", bánh chưng xanh, không thể thiếu những bức tranh Tết, mới khả dĩ hội tụ đầy đủ ý nghĩa ngày Xuân cả ý vị và sắc hương, tạo nên một phong cách cổ truyền độc đáo thuần chất Việt Nam. Tranh Tết còn thể hiện những ước vọng về cuộc sống thuận hòa - đoàn kết - khỏe mạnh - vui tươi - hạnh phúc - thịnh đạt ... cùng hướng tới những gì lành mạnh Chân - Thiện - Mỹ.

          Tranh khắc truyền thống, tranh dân gian có nguồn gốc lâu đời ở Việt Nam (còn được gọi là Tranh Tết). Có thuyết cho rằng loại tranh này có dưới thời nhà Lý (1001 - 1225) có thuyết nói từ thời nhà Hồ (1400 - 1414) cũng có thuyết nói thời Lê (1533 - 1783). Kiểm chứng lại, qua lịch sử, qua các tư liệu tại Viện Bảo Tàng, nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất nhận xét tranh dân gian xuất hiện cao điểm nhất vào thời nhà Lý. Điều nhận định cho ta biết nguồn gốc xuất xứ của nó còn xa xưa hơn nữa.

          Cứ mỗi dịp Xuân về, Tết đến, một thú vui thanh cao đã gắn liền với những bức tranh con vật : chuột - mèo - trâu - hổ - rồng - rắn - ngựa - dê - khỉ - gà - chó - heo. Hình ảnh những động vật thân quen đó biểu trưng nét đẹp của cuộc sống như một phong cách, một sinh hoạt sống động ở các tác phẩm hội họa trong và ngoài nước. Ngoài ra nó còn nói lên tuổi đời của con người qua thập nhị chi : Tý - Sử - Dần - Mẹo - Thìn - Tỵ - Ngọ - Mùi - Thân - Dậu - Tuất - Hợi gắn chặt với số mạng của đời người. (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=214172

NĂM NAY ĐÀO LẠI NỞ Tạp Bút MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 07 Feb, 2010, 17:48 | Tản văn Mang Viên Long | (16 Reads)


 

N Ă M  N A Y  Đ À O  L Ạ I   N Ở....
..

Tạp Bút


MANG VIÊN LONG




Bài thơ " Ông Đồ" được Vũ Đình Liên sáng tác vào khoảng năm 1936-cách nay đã hơn 70 năm! Đã bảy mươi năm qua-đọc lại " Ông Đồ", chúng ta vẫn còn ngậm ngùi thương cảm cho một thời vang bóng của lớp người cựu học mà bóng dáng "ông đồ" luôn nhắc nhớ để tất cả  phải trài lòng thương yêu, kính mến hơn là chế giễu chê bai! Hình ảnh " tiều tụy của một thời tàn" ( Thi Nhân VN-HT/HC) đã được Vũ Đình Liên ghi lại bằng trái tim yêu thương và một tấm lòng hoài cổ sâu sắc của một nhà thơ tài hoa! Đó là một " cái nhìn"-một thái độ rất nhân bản,đúng đắn, mà cùng thời với Nhà thơ ít ai để ý đến. "Cái nhìn" sâu thẳm  từ tấm chân tình thiết tha rộng mở ấy của Tác giả vẫn còn theo mãi với người đọc cho đến hôm nay...

      Hình ảnh " ông đồ" là hình ảnh của cái cũ, cái đang tàn phai, đang giẫy chết trước sự đổi thay của cái mới- của thế sự, của thời cuộc! Lớp người Nho học đang lui dần vào quá khứ-đã làm xong sứ mạng của mình-  đang dần nhường bước cho phái tân học- cái mới. Nhớ một thời "ông đồ" là hình ảnh luôn được tôn quý, là bậc thầy-người hiền trí, đã khổ công hướng dẫn dìu dắt bao thế hệ tiến về phía trước-sống chan hòa  trong tình người lẽ đạo- góp phần rất lớn cho những giá trị văn hoc, cũng như đạo lý của  dân tộc.

        Đó là thời kỳ " vàng son" của ông đồ, có thể nhận thấy rất rõ nơi phố thị mọi miền mỗi dịp xuân về:

       " Mỗi năm hoa đào nở

          Lại thấy ông đồ già

          Bày mực tàu giấy đỏ

          Bên phố đông người qua ..."



       
Và mọi người đều đã tỏ lòng ái mộ kính mến ông-nhờ ông viết những câu thơ, lời thánh hiền, câu đối Tết-để chưng bày trong nhà - xem đó là niềm vui, niềm hãnh diện  của phong tục nghinh Xuân  đón Tết đã trở thành truyền thống từ bao đời:

        " Bao nhiêu người thuê viết

          Tấm tắc ngợi khen tài

           Hoa tay thảo những nét

           Như phượng múa rồng bay "



        
Cái thời "lẫm liệt" xa xưa ấy nay còn đâu? Hình bóng " ông đồ" tuy vẫn còn lây lất đây đó để níu kéo lại thời khắc êm đềm tươi đẹp của quá khứ-nhưng tủi thay!- chỉ còn đó để chừng kiến " Giấy đỏ buồn không thắm/Mực đọng trong nghiên sầu!" -Chỉ với 4 câu ngũ ngôn tứ tuyệt, Nhà thơ đã dựng lên một bức toàn cảnh  sự " tiều tụy của một thời tàn"! Bức tranh ấy dầu đậm nét buồn-nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó cái đẹp-cái êm đềm của một thời không thể nào quên!

          " Nhưng mỗi năm một vắng

             Người thuê viết nay đâu?

             Giấy đỏ buồn không thắm

             Mực đọng trong nghiên sầu! "
 



         
Để nói lên nỗi lòng của " ông đồ"-cũng là  của lớp nhà Nho thời ấy -Nhà thơ đã rất tài hoa mượn " Giáy đỏ/ nghiên mực"để gởi gắm! Giấy còn buồn không  thắm tươi nữa/ nghiên mực khô đọng im vắng nỗi sầu-thì hỏi lòng người làm sao không sầu thương  luyến tiếc?

           Ông đồ vẫn còn ngồi đây-nơi góc phố chợ nhộn nhịp-nhưng nào có ai hay? Không có đôi mắt nào nhìn ông, biết có ông-sự thờ ơ dửng dưng của người người qua lại-đã cho thấy sự bạc bẽo vô tâm của người đời đối với những giá trị xưa cũ đã từng gắn bó thiết tha trong nhiều thé hệ! Đây cũng là một lời trách cứ rất êm nhẹ, rất sâu sắc dành cho những ai đang vội vã chạy theo cáí mói như một cái ‘ mốt", cái nhãn hiệu thời trang?

          " Ông đồ vẫn ngồi đây

             Qua đường không ai hay

             Lá vàng rơi trên giấy

             Ngoài trời mưa bụi bay "



      
Hình ảnh chiếc lá vàng rơi rụng nằm im lìm trên mặt tờ giấy đỏ không buồn nhặt/ và cơn mưa lất phất đầu xuân ngoài trời lạnh lẽo kia-tô đậm thêm hình dáng " ông đồ" đáng thương, nỗi buồn kia đáng chia sẻ. ! Đây là một hình ảnh tượng trưng đẹp  rất hiếm thấy trong thơ thời bấy giờ!

         Xuân lại vế-hoa đào lại nở-nhưng " không thấy ông đồ già" ? Ông đồ ở đâu?- Ông đồ đã chết cùng với sự suy tàn của Nho học! Một thời kỳ đã sang trang mới. Nhưng với Nhà thơ thì không thể đơn giàn như thế : " Những người muôn năm cũ/Hồn ở đâu bây giờ? ". Câu hỏi cho chính mình mà cũng là cho thế hệ kế tiếp ...

         " Năm nay đào lại nở

            Không thấy ông đồ già

            Những người muôn năm cũ

            Hồn ở đâu bây giờ? "



       
Không lý giải, không tranh luân-qua bài thơ " Ông Đồ"-Vũ Đình Liên đã trải lòng , đã bày tỏ những ưu tư tình cảm và thái độ của mình đối với một " vấn đề lớn" thời ấy: Phài sống như thế nào, cư xử thế nào với "  cái cũ"-với các bậc tiền bối của mình?. Nhà văn Hoài Thanh-Hoài Chân đã không cường điệu khi nói"...Vũ Đình Liên đã để lại cho chúng ta một bài thơ kiệt tác!(...) Theo đuổi nghè văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ.Nghía là đủ để lưu danh, đủ với đời" ( Thi Nhân VN-tr 78/ HT-HC)

Quê Nhà, Những Ngày Đón Tết Canh Dần
2010

MANG VIÊN LONG  

 

Ô N G  Đ Ồ

V ũ  Đ ì n h  L I ê n



Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua


Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay


Nhưng mỗi năm một vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu


Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay


Năm nay đào lại nở

Không tháy ông đồ già

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

VĐL


L Ã O  T Ú  T À I

V I n h  B a  dịch



Niên niên đào hoa khai

Hựu kiến lão tú tài

Lộ biên trình mặc chỉ

Nghinh xuân nhân vãn lai


Đa khách mãi tha tự

Vô biên thán hảo tai!

Phi long dữ vũ phụng

Nhất bút trung thượng đài


Ai giả tòng niên thiểu

Hà phương tự an bài

Hồng chỉ giảm quang sắc

Hàn mặc nghiễn trung ai


Lào nhân thượng thử địa

Hành nhân bất tri thủy

Lạc diệp hòang hồng chỉ

Thiên không khinh vũ phi


Kim niên đào mãn khai

Một kiến lão tú tài

Thiên cổ nhân hà tại

Hồn hề bất quy lai?

VB

     

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=213798

THƠ CHO MÙA XUÂN Chùm Thơ VŨ TRỌNG QUANG
mangvienlong | 06 Feb, 2010, 18:48 | Bài viết của bạn văn | (18 Reads)


   

Xuân đã đến/ Tết gần kề-Nhà Thơ Vũ Trọng Quang vừa gởi
cho trang nhà chùm thơ viết cho mùa Xuân-gọi là " chút quà" tặng
cho tôi! Xin được chia sẻ cùng Quý Bạn/ Và cám ơn VTQ nhé!
MVL


TỨ TUYỆT


Mũi tên chim én
mãi trên đường bay
từ hoa nở đến
đến tận hoa phai

CHU KỲ


Chiếc lá đẹp nghiêng rơi
níu giữ chiều ba mươi
cô gái quét khoảnh khắt
đứng tiếc giao mùa trôi

HOA XƯƠNG RỒNG


Từ gió cát mặt trời
lá rùng mình gai nhọn
dâng giọt máu tặng Ngừoi
nở hoa đỏ thầm lặng

MẸ & TÓC XUÂN EM


Mẹ thương đan tóc xanh em
ba mươi phai nắng bên thềm vàng rơi
em thưa lựa tóc bạc Người
ngày xuân thiếu nữ một thời hồng xa

TƯƠNG ĐỐI THIẾU NỮ & TRĂNG


Đêm  buông hết thảy thanh xuân
ngày vàng khỏa thân trăng xanh
triệu năm ánh sáng lồ lộ
trăng vàng khỏa thân ngàn xanh

V Ũ  T R Ọ N G  Q U A N G

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=213631

YÊN LAN, CỐT CÁCH MỘT ĐỜI THƠ ( Hồi Ký Kỳ 63-Kỳ Cuối Cùng) Lâm Bích Thủy
mangvienlong | 05 Feb, 2010, 20:24 | Bài viết của bạn văn | (15 Reads)


ĐÔI LỜI BÀY TỎ:

      Sau gần một năm đăng tải tập Hồi  Ký " VỀ NGƯỜI CHA LÀ THI SĨ"
của Lâm Bích Thủy-Trưởng Nữ của Nhà Thơ Yến Lan hiện đang sống
 và làm việc tại Tp Hồ Chí Minh-đến nay/  Kỳ thứ 63 là kỳ cuối cùng!
      Theo lời của LBT/ Cô sẽ chỉnh sửa sắp xếp lại-để Tập Hồi ký viết về
người Cha thân yêu được hoàn thiện hơn. Theo LBT-điều mãn nguyện
nhất là Cô đã " nói được khá nhiều điều " về" Người Cha Là Thi Sĩ"của
mình-để chia sẻ cùng Bạn Đọc...
       Nguyện vọng sau cùng là mong muốn Tập Hồi Ký sẽ được ấn hành
trong một ngày gần nhất! Cô mong mỏi những Tập Thể, Nhà XB hay cá
nhân " tiếp tay" cùng Cô để ước nguyện  của Cô và Gia đình sớm thành 
sớm thành hiện thực!
        Xin liên hệ số Điên Thoại: LBT : 0835566477 hay 0932735373
        Riêng cá nhân tôi-đã hoàn tất lởi hứa với LBT trước giờ " Ông
Táo Vê Trời" !

MVL


 

 Y Ế N  L A N ,  C ỐT  C  Á C H   M Ộ T  Đ Ờ I   T H Ơ   


   Cả cuộc đời Yến Lan đi nhiều, những chuyến đi hành trang nhẹ tênh, chỉ có tâm lòng sâu nặng với cuộc sống. Những năm cuối đời, không gian của nhà thơ thu hẹp trong căn nhà nhỏ bên cổng chợ thị trấn Bình Định. Nhìn ông thiêm thiếp trên giường bệnh với tấm chăn mỏng, ít ai nghĩ ông đang làm thơ. Đôi tay run rẩy vì chứng bệnh liệt rung, hằng ngày, ông đọc cho người bạn đời, bà Lan những bài thơ tứ tuyệt xinh xẻo như những bông hoa chợt nở ra trong những giấc mơ. Hơn 400 bài thơ tứ tuyệt được ông sáng tác phần lớn vào cuối đời, trên giường bệnh. Bao cảnh đời, tình đời được ông trân trọng, tinh lọc để hiện ra với vẻ đẹp của thứ ngôn ngữ cô đọng, trau chuốt giống như những bức phù điêu được chạm khắc bởi bàn tay của nghệ sĩ bậc thầy. Thơ tứ tuyệt của ông mang đậm phong vị Đường thi song vẫn phảng phất cái không khí mơ hồ bảng lảng những bài kệ của các bậc thiền sư. Ông viết về mẹ trong cái không gian ảo như còn "vang vong tiếng mẹ hò trăng tự thuở nào", những lá trầu chập chờn trong ngọn gió nam nom như những "Thếp ca dao". Ông viết về sự "vô thường" luôn dẫn dắt những người yêu nhau đến trước cảnh chia phôi. Ông viết về niềm vui sống bình dị, nhưng đằng sau cái vẻ rất đời thường ấy ẩn chứa cả một cuộc tự thanh lọc để giữ chất người của chính mình:


                                   
Trưa đọc Nam Hoa Kinh

                                    Tối nằm không hóa bướm

                                    Mừng mình chủ được mình


Bài tứ tuyệt cuối cùng bà Lan chép lại không lâu trước ngày ông đi vào cõi vĩnh hằng được ông đặt tên
 
                                Thơ không cùng:

                                    Ngày tháng soi chung gương chẳng mờ

                                    Bút xoay vần nối rộng hồn thơ

                                    Chỉ thương mái tóc dài vô vọng

                                    Vén mãi chưa thành chuyện ước mơ.

"Chuyện ước mơ của mái tóc dài là chuyện gì vậy? Chỉ có bà Lan biết rõ. Sau ngày nhà thơ Yến Lan qua đời, trong câu chuyện thân tình, môt lần bà Lan nói đến cảnh nghèo cơ cực đeo đẳng suốt cuộc đời vợ chồng nhà thơ. Vào những ngày trọng bệnh, một hôm, nhà thơ Yến Lan nhận được thông báo tài trợ sáng tác của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhà đang túng, có được hai triệu đồng để thuốc thang, ông mừng lắm. Rồi một ngày ông tươi tỉnh nói với vợ. Bà xem tôi làm được 200 bài tứ tuyệt rồi đây. Đủ bản thảo tập thơ rồi! Bà báo cho Hội Nhà văn để các anh em yên tâm về khoản tài trợ.   (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=213458

YẾN LAN TRONG LÒNG BẠN ĐỒNG NGHIỆP ( HK-Kỳ 62) LâmBichs Thủy
mangvienlong | 05 Feb, 2010, 20:04 | Bài viết của bạn văn | (12 Reads)


 

YẾN LAN, TRONG LÒNG BẠN ĐỒNG NGHIỆP : 




          
 
 Cảm nhận về những bài thơ cuối đời của nhà thơ Yến Lan   
 

    
  

    Là người sống hết mình với quê hương và thơ, tới cuối đời nhà thơ Yến Lan vẫn làm nhiều thơ, mỗi bài thơ là một mảng tâm hồn ông mang ước vọng tiếp tục dâng hiến nghệ thuật thơ ca cho đời và cả tâm trạng nuối tiếc tuổi thanh xuân

  Trong bài viết này tôi chỉ xin chọn một số bài thơ ông sáng tác vào những năm cuối đời ở tuổi tám mươi: "Vô đề, Đêm hoa quỳnh nở nhớ Chế Lan Viên, Trăng chin" để ghi lại những cảm nghĩ của một người thuộc lứa tuổi con cháu của ông và không nguôi lòng yêu quí, ngưỡng mộ thơ ông 

  Các bài thơ nêu trên đều là thơ tứ tuyệt, thất ngôn. Đặt trưng của thơ tứ tuyệt là hàm súc, lời ít, ý nhiều, mỗi từ mỗi câu vang xa, ý bay bỗng ở ngoài lời. Tuy theo thể tứ tuyệt -"một thể chuyển tiếp của phong cách cổ phong với phong cách luật thi" nhưng thơ tứ tuyệt của nhà thơ Yến Lan rất mới, rất hiện đại về tứ thơ cũng như về hình ảnh ngôn ngữ, và nhạc điệu.

   Thơ chính là cuộc sống. Từ những chi tiết sống động trong đời thường qua đôi mắt tinh tế và tâm hồn nhạy cảm nhà thơ đã làm cho nó trở nên thi vị biết bao. Sự cảm nhận thực tế bằng xúc cảm thẩm mỹ thi vị ấy làm cho thơ ông vừa nhẹ nhàng thanh tao vừa sâu xa, lắng đọng


                                   
Thu qua in nhạt vó trăng mòn

                                    Lóm đóm vườn cam nép má son

                                    Ngoảnh lại khuất dần mùa rụng lá

                                    Cành còn dâng tặng quả cô đơn                       

                                       (Nuối)

Nhìn trời thu thấy vó trăng mòn, nhìn vườn thu thấy cam nép má son, ngoảnh lại với thu qua thất mùa lá rụng khuất dần..Tất cả gợi lên sự hao khuyết, sự nuối tiếc biết bao mùa thu đẹp đã qua. Nhà thơ nghĩ không biết nỗi cô đơn trong ông có thể kết thành quả ngon để "dâng tặng" cho đời được không? Nhưng tình yêu cuộc sống , yêu thơ tràn đầy trong trái tim ông đã trở thành bất cập trước tuổi già sức yếu nên ông tự nhủ thầm:  (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=213453

THƯ TỪ VSA ( Vietnamese Student Association)
mangvienlong | 05 Feb, 2010, 14:38 | Bài viết của bạn văn | (7 Reads)


 

Sau bài viết của Bs- Nhà Thơ Trần Như Luận-Chúng tôi vừa

nhận được Mail từ VSA ( Vietnamese Stundent Asociation).

Nhận thấy đây là một thông tin cần thiết  cho HS/SV và người

có quan tâm đến vấn đề du học-xin được chia sẻ cùng Quý bạn


MVL...



          THƯ TỪ VSA

( Vietnamese Student Association )




Vietnamese Student Association tại các tỉnh, thành phố khắp thế giới được thành lập nhằm mục đích giao lưu giúp đỡ các sinh viên Việt Nam, và tham gia vào các hoạt động của trường như một tổ chức chính thức, giới thiệu về Việt Nam với bạn bè các nước thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ. Các thành viên là những người chủ trương cộng đồng không có thành kiến và nhận sứ mệnh mang lại cơ hội tiếp cận giáo dục tới các học sinh và sinh viên Việt Nam.

 

VSA luôn luôn hoan nghênh sự tham gia của tất cả những ai có mối quan tâm về sinh viên Việt Nam. Hãy giúp chúng tôi tạo thêm cơ hội cho sinh viên Việt Nam có thể vừa học và vừa làm để có thêm thu nhập và kinh nghiệm. Hãy khuyến khích VSA của bạn tham gia chương trình VSAintern, VSAtutor, VSAlibrary và VSAlanguage! Nếu bạn muốn tham gia, cứ vui lòng liên hệ với VSA tại cộng đồng địa phương.

 

VSAintern

Mục tiêu của chương trình thực tập VSAintern nhằm giúp cho các sinh viên tự khẳng định mình, vận dụng những kiến thức đã học một cách có khoa học và sáng tạo vào cuộc sống. Các bạn sẽ được nhà trường cấp thư giới thiệu để xin thực tập tại các công ty/cơ quan mà các bạn muốn đến. Ban cố vấn nhà trường cũng sẽ cung cấp cho các bạn các thông tin về nơi có thể đến xin liên hệ thực tập. Sinh viên tham gia chương trình thực tập này sẽ có dịp quan sát, tiếp cận với thực tế và vận dụng những lý thuyết đã học trên giảng đường. Sau khi hoàn tất đợt thực tập, các bạn sẽ rút ra được nhiều bài học qúi báu. Đây chính là bước khởi đầu, là hành trang vào đời của các bạn.

Email thành viên VSA tại cộng đồng địa phương đế biết thêm chi tiết.

 

VSAtutor

Dịch vụ VSAtutor ra đời nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu học tập và nghiên cứu của con em quý phụ huynh. VSAtutor mong muốn đáp ứng mọi nhu cầu học tập và rèn luyện cho tất cả học sinh ở mọi cấp, mọi trình độ và trên hết, quý vị phụ huynh tạo cơ hội cho sinh viên Việt Nam có thể vừa học và vừa làm để có thêm thu nhập.

Email gia sư dạy kèm tư gia: thành viên VSA tại cộng đồng địa phương đế biết thêm chi tiết.

 

VSAlibrary

Dịch vụ cho thuê sách ra đời để phục vụ nhu cầu yêu sách, yêu văn học của các bạn, những người có niềm đam mê đọc sách. VSAlibrary mong muốn đem đến cho các bạn những giây phút thư giản thoải mái bên cuốn sách và trên hết, các bạn tạo cơ hội cho sinh viên Việt Nam có thể vừa học và vừa làm để có thêm thu nhập.. VSAlibrary mong muốn được các bạn ủng hộ, cổ vũ để VSAlibrary có thể mở rộng và cập nhật thêm nhiều đầu sách mới để phục vụ các bạn ngày một tốt hơn.

Thuê sách : Bạn có thể thuê sách với mức phí bằng 50% giá tiền cuốn sách / 5 tháng tính từ ngày mượn.

Khi đăng ký thuê sách, bạn phải đặt cọc mức tiền bằng giá tiền cuốn sách và phải bảo quản tài liệu đó. Số tiền đặt cọc này sẽ được hoàn trả lại khi bạn đọc trả sách (sau khi đã bù trừ phí thuê sách). Trong trường hợp có bất cứ hư hỏng nào (viết, vẽ, làm rách, ...), bạn đọc sẽ phải đền bằng toàn bộ giá trị đặt cọc này (mua luôn cuốn sách đó).

Email người cho thuê sách : thành viên VSA tại cộng đồng địa phương đế biết thêm chi tiết.

Địa điểm nhận sách : (vui lòng hẹn với người cho thuê sách trước khi đến).

 

VSAlanguage Table practice Vietnamese        

                             Bàn VSA Ngôn ngữ thực hành kỹ năng nói tiếng nước ngoài

Time: 6:00 pm - 8:00 pm every Friday      Thời gian: 18:00 - 20:00 mỗi thứ sáu

Where: VSA Dining Hall                         Địa điểm: Phòng ăn VSA

Contact Person: VSA members              Người Liên hệ: thành viên VSA tại cộng đồng địa phương.

 

VSAlanguage Table là cơ hội cho các thành viên quan tâm đến việc thực hành kỹ năng tiếng Việt của mình qua một bữa ăn tối giản dị. Chúng tôi cố gắng nói chuyện hoàn toàn bằng tiếng Việt trong bữa ăn này. Chúng tôi luôn chào đón mọi người đến đây để tìm hiểu và mang lại cơ hội tiếp cận giáo dục tới các học sinh và sinh viên Việt Nam.

Chúng tôi sử dụng cơ hội này để gặp nhau, hãy đến ăn với chúng tôi - ngay cả nếu bạn đến chỉ để thuê / tặng / nhận sách VSAlibrary. Chúng tôi hy vọng bạn sẽ tham gia cùng chúng tôi thứ sáu này! Thành viên và khách hàng mới luôn luôn được hoan nghênh.
VSA

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=213409

CHÀO XUÂN CANH DẦN : Thư Viết Từ Trái Tim - TRẦN NHƯ LUẬN
mangvienlong | 04 Feb, 2010, 22:02 | Bài viết của bạn văn | (44 Reads)


 

     Chào Xuân Canh Dần:


   
THƯ VIẾT TỪ TRÁI TIM

   Trần Như Luận



           Quy Nhơn, những ngày cuối năm Kỷ Sửu

Bạn Việt thân mến,

Tôi rất vui và xúc động khi bạn có lời chào và hỏi thăm tôi về những điều cần nhắn nhủ trước khi bạn rời Việt Nam để đến Mỹ, nơi mà bạn sẽ gắn bó trong suốt bốn năm của bậc đại học, nơi mà bạn và những người cùng trang lứa sẽ dốc tâm học tập với ước mơ sẽ có ngày vinh quang quay trở về, cùng với mọi người, chăm lo xây dựng quê hương ngày càng rạng rỡ.

Như bạn từng biết khi chứng kiến mối quan tâm, lo lắng và sự tạo điều kiện hết sức chu đáo của gia đình, ngày nay, mặc dù chính phủ đã rộng mở trong chủ trương đưa một bộ phận ngày càng nhiều sinh viên, học sinh ra nước ngoài để học và giành được những đỉnh cao về khoa học, công nghệ, song, việc được du học du học có hiệu quả thì không phải lúc nào cũng thật dễ dàng. Bạn đã được gia đình và nhà nước tạo những điều kiện ban đầu hết sức thuận lợi. Đó là một may mắn lớn so với hằng trăm, hàng ngàn bạn khác, cùng thế hệ.

Tôi nhắc tới điều đó hẳn không phải là thừa. Vì chắc bạn cũng biết, trong hằng chục năm qua, đã có hằng ngàn bạn trẻ Việt Nam từng ra nước ngoài với một tâm trạng vừa cởi mở, háo hức trước một chân trời bao la rộng mở, nhưng cũng vừa xao xuyến, buâng khuâng, chứa chan cảm xúc khi phải xa lìa mảnh đất mà mình từng gắn bó trong suốt hằng chục năm trời, mảnh đất đã cưu mang mình, đã nâng đỡ mình, đã từng ấm nồng lên trong những bước chân chập chững đầu đời.

Rồi năm tháng chất chồng, việc học hành bận rộn và kho tàng tri thức chuyên ngành đã dần dần chiếm hết thời gian và tâm trí của các bạn ấy. Bên cạnh đó, nền văn minh vật chất với những tiện nghi ngày càng nhiều, cùng với những hứa hẹn cho sự phát triển kinh tế gia đình đã thôi thúc không ít bạn ở lại Mỹ hoặc các nước phương Tây với ý định vừa nhanh chóng phát huy vốn kiến thức gặt hái được ở nhà trường, vừa có nhiều điều kiện để làm giàu, sớm đền đáp công ơn các bậc sinh thành và cưu mang cả anh chị em ruột thịt.

Tôi không có ý định chê bai các bạn trẻ đã phải chọn con đường đó. Bằng cách này hoặc bằng cách khác, dù đang ở nước ngoài hay đang sống trong lòng đất mẹ, tôi biết mọi người Việt Nam đều luôn hằn sâu mối tình cảm thiêng liêng dành cho tổ quốc. Dù đang ở Toronto, California, Sidney hay Moskva, trái tim của các bạn luôn đập những nhịp đập Việt Nam. Trong tâm khảm của các bạn, hai tiếng Việt Nam vẫn là một âm thanh êm đềm nhất, trìu mến nhất. Tôi đã từng ở hải ngoại và đã từng có những rung động chân thành như thế. Dù đi tới đâu, những đứa con yếu dấu của người mẹ Việt Nam lam lũ và khốn khó vẫn không bao giờ quên tấm lòng bao la của Mẹ.

Nhưng bạn Việt thân mến, nếu xét cho cùng, thì việc định cư ở nước ngoài sau khi tốt nghiệp ở bậc đại học để nhanh chóng làm giàu nơi đất khách quê người trong lúc đất nước mình, bà con ruột rà mình đang rất cần đến những khối óc, trái tim và bàn tay vun xới của các bạn, tôi nghĩ, đó là một việc mà những người sống có đạo lý, sống có nội tâm chẳng nên làm.

Tôi đã rất trăn trở trước khi viết ra những điều tâm huyết này. Việt thấy đó, hằng ngày chúng ta đã từng ăn bát cơm Việt Nam, uống bát nước Việt Nam. Chúng ta chịu ơn đâu phải chỉ đơn giản là cha mẹ, những người sinh ta ra và nuôi dạy ta nên người, mà chịu ơn cả những bác nông dân chân lấm tay bùn, những người đầu tắt mặt tối chỉ biết làm ra hạt gạo để nuôi sống cộng đồng, chịu ơn những người gánh hàng rong cho ta những chiếc bánh tráng thơm giòn, những chiếc bánh chưng nặng tình dân tộc, chịu ơn bác đạp xích lô đưa ta tới trường thuở nhỏ, chịu ơn cả những người lính biên phòng gìn giữ non sông nơi rừng sâu nước độc hay cả nơi hải đảo bạt ngàn. Chưa nói tới họ, Việt thấy ngay cả ở thị thành, nơi mà nền văn minh vật chất đã du nhập tới từ hằng trăm năm qua, cuộc sống của đa số đồng bào ta cũng vẫn còn hết sức khó khăn. Nhiều bà mẹ, bà chị phải gánh gồng suốt từ sáng tinh mơ đến khi tắt nắng nhưng bữa cơm của họ dưới những mái tranh tạm bợ vẫn hết sức nghèo nàn. Nhiều bà lão tóc đã bạc phơ, lưng đã còng, gối đã mỏi mà vẫn phải lặn lội đi bán vé số kiếm sống xung quanh các khu nhà ổ chuột. Nhiều chú công nhân lam lũ làm ăn suốt buổi mà vẫn lận bận vì không đủ sức nuôi cả nhà mấy miệng ăn.

Đất nước chúng ta còn nghèo so với mặt bằng kinh tế của rất nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Nói như vậy, hẳn các bạn cũng biết là tôi ngụ ý muốn kêu gọi các bạn khi tốt nghiệp ra trường hãy nên ngoái lại nhìn về cái nôi mà từ đó các bạn đã ra đi. Hãy nên ngoái lại nhìn về cái mảnh đất chôn nhau cắt rốn đã mang nặng nghĩa tình cưu mang, đùm bọc các bạn thuở ấu thơ. Hãy nên ngoái lại nhìn về cái quá khứ lịch sử thấm đẫm ân tình mà tại đó mỗi tấc đất đều in đậm dấu chân của các bậc tiền nhân từng đem cả xương máu và trí tuệ hun đúc nên một đất nước Việt Nam có một nền văn hóa vô cùng đặc sắc ngày hôm nay.

Thật vậy, không dễ gì các bạn có thể tìm thấy trên thế giới một nền văn hóa đa sắc màu nhưng lại chứa đựng những yếu tố bổ sung và hoàn thiện lẫn nhau kỳ diệu đến như vậy. Trong cái mà ngày nay chúng ta gọi là tinh hoa văn hóa Việt Nam vừa có dấu ấn của văn hóa Trung Hoa vừa uyên bác vừa thiên về thực dụng, vừa có dấu ấn của văn hóa Ấn Độ vừa sâu sắc vừa mang nặng xu hướng tâm linh, đồng thời nó cũng mang sắc thái của các dân tộc có lịch sử lâu đời tại các vùng Việt Bắc ở phương Bắc, văn hóa Sa Huỳnh độc đáo ở Miền Trung và các vùng của đất nước Phù Nam xưa ở phương Nam. Trải qua đã gần bốn ngàn năm, nền văn hóa rực rỡ ấy không hề phai mờ đi mà cứ tiếp tục phát huy cho dù đã có lúc phải anh dũng đương đầu với nhiều xu hướng tương đối trái ngược trong nền văn minh vật chất phương Tây.

Việt Nam chúng ta là một nước đã dạn dày kinh nghiệm trong rất nhiều lĩnh vực. Nó đã kinh qua những cuộc chiến tranh khốc liệt. Nó cũng đã trải qua những cuộc thăng trầm do thiên tai, đói kém, mất mùa triền miên. Nó cũng từng đem cả nền văn hóa của nó ra để đối chọi, đọ sức, rồi đồng hóa luôn nhiều nền văn hóa khác trên thế giới. Nhưng bao giờ cũng vậy, Việt Nam vẫn là một nước có nền văn hóa rất đặc sắc. Dân tộc Việt Nam vừa dạn dày kinh nghiệm trong chiến đấu chống thiên tai, địch họa, vừa sắc sảo, ngoan cường trong việc duy trì và phát triển một nền văn minh không lẫn vào các nền văn minh khác. Đi nhiều nơi, sống nhiều nơi, rồi các bạn sẽ dần cảm nhận ra điều đơn giản mà thiêng liêng ấy.

Gần đây, do ít nhiều ảnh hưởng của văn minh Âu Mỹ vừa trọng thực dụng vừa thiên về hưởng thụ vật chất, không ít thanh niên vội vã bỏ quên những giá trị tinh thần quý báu để đua chen cùng xã hội phồn hoa nơi chốn lạ quê người. Nhiều người trong số họ phải chờ mãi đến khi tóc chớm bạc mới nhận ra là mình đã lầm. Họ không thể tìm thấy tình làng nghĩa xóm nơi đất khách; thay vào đó là cuộc sống đèn nhà ai nấy rạng. Họ không thể tìm thấy những kỷ niệm đáng trân trọng của thuở thiếu thời; thay vào đó là những cuộc cạnh tranh đầy cạm bẫy. Họ không thể tìm thấy tình máu mủ,  sự chân chất hy sinh, tính cương nghị, trọng nghĩa khinh tài; thay vào đó là tiền và tiền. Ai không trả giá để có được đồng tiền lạnh lẽo trong tay thì suốt đời không bao giờ cất đầu lên được.  

Trở về cùng quê hương, các bạn vừa có tình thương yêu chan hòa của gia đình và bè bạn, vừa có được cơ hội to lớn để đóng góp sức mình vào việc xây dựng quê nhà. Đã có vốn hiểu biết sâu rộng, các bạn sẽ có nhiều triển vọng trong việc phát triển làm ăn, vừa cống hiến sức mình cho xã hội, vừa đem lại lợi ích thiết thực cho gia đình. Trong khi cuộc đua chen nơi các nước châu Âu và Mỹ ngày càng bức bách, quyết liệt, thì cơ hội mở ra tại các nước như Việt Nam dành cho các nhà đầu tư ngày càng hết sức thuận lợi. Chắc các bạn đã biết, Việt Nam được xếp vào một trong 11 nước thuộc nhóm N-11 tức là nhóm các quốc gia có sự tăng trưởng kinh doanh và tăng trưởng tiêu dùng cực tốt. Tại đây, mật độ dân số cao, cơ hội đầu tư rộng mở, các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội đều đang trên đà phát triển thuận lợi. Không dễ gì một tổ chức lớn như Tập đoàn tài chính đầu tư Goldman Sachs (Mỹ) lại xếp Việt Nam vào danh sách các nước dễ phát triển cơ hội đầu tư. Xây dựng đất nước để được nhìn đất nước mình lớn mạnh lên sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới; xây dựng đất nước để được nhìn thấy bà con thôn xóm mình ngày càng tươi vui, hạnh phúc trong cuộc sống sung túc, ấm no; xây dựng đất nước để trả ơn những người đã từng dìu dắt ta nên người, các bạn cứ nghĩ coi, xây dựng đất nước trong vòng tay ấm áp của quê cha đất tổ như vậy chẳng phải là một hạnh phúc lớn lao hay sao?                                                                                               T.N.L
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=213287

NGHĨ VỀ MUA NẮNG TRỜI XUÂN Tạp Bút TRẦN HUIỀN ÂN
mangvienlong | 04 Feb, 2010, 11:29 | Bài viết của bạn văn | (24 Reads)


GIỚI THIỆU SÁCH MỚI:


        M â y  t r ắ n g  D I N H  P H O A N
       
       Tập Tạp Bút   TRẦN HUIỀN ÂN
               Nhà Xuất Bản VĂN HOC
               Ấn Hành Tháng 01 năm 2010



               " MÂY TRẮNG DINH PHOAN " / tập Tạp Bút-" là những suy nghĩ, những cảm nhận tản mạn tôi ghi chép lại trong vòng hơn mười năm nay" ( Mấy Lời Cuối Sách)- Toàn tập gồm 63 bài viết ngắn-hầu hết viết về Quê Hương Phú Yên-nơi Tác giả đã được sinh/lớn lên/ đang sống và làm viêc.
              Đây là Tác Phẫm thứ 11 của Tác Giả-bao gồm Thơ/ Truyện/Biên Khảo.
              Với giọng văn từ tốn-chừng mực/mà thật lôi cuốn-sâu sắc/ Tác Giả đã ghi lại những suy tư/ cảm nhận thật linh động-đầy đủ tư liệu cần thiết cho lời " cảm nhận/ suy nghĩ" của mình. Đây còn là một tập " ghi chép" rất  công phu-bổ ích cho người đọc ...
              Xin chân thành cám ơn Tác Giả-và xin được giới thiệu cùng Quý Bạn Đọc!
              Bạn đọc nào cần sách-xin vu lòng thư về: Ông TRẦN SĨ HUÊ số 20/3 Chu Mạnhk Trinh-Tp Tuy Hòa ( Phú Yên).
              Sau đây là một Tạp Bút dược trích từ " Mây Trắng Dinh Phoan"...


              NGHĨ VỀ MƯA NẮNG TRỜI XUÂN


                                                                                                            
                                   

          Đọc tập hồi ký viết tay thấy cha tôi kể chuyện hồi những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ trước song thân tôi "lưu lạc" vào Nam Kỳ. Sáu bảy năm trời xa quê, nhìn "thiên hạ" đón xuân ông cảm khái ngâm rằng:

                             Xuân mãn nam thiên phong thủy cựu

                             Nhơn tồn khách địa tuế thời tân.

          Hồi đó Tây chia nước ta thành ba kỳ, ba chế độ cai trị khác nhau. Dân Trung Kỳ vào Nam Kỳ coi đây là đất khách. Xuân về tết đến... đem lại thời gian mới nhưng người vẫn còn nơi đất khách nhớ về quê cũ. (Tương tự, Nguyễn Bính từ Bắc Kỳ vào đến Huế đã làm thơ rằng Chén rượu ly hương, trời, đắng lắm, rồi trong Hành phương nam cũng từng cảm khái với Đêm mưa đất khách). Thế nhưng, nghiệm trong câu trước thì dẫu phương nam hiện tại (lúc ấy) có là đất khách, cha tôi vẫn hiểu mình đang sống dưới trời nam, không riêng cho một kỳ nào. Khắp cả trời nam mọi người cùng đón xuân với phong tục tập quán tự ngàn xưa. Vậy là cha tôi không cô đơn nơi khách địa, ông đã bắt gặp cả phong thủy cựu bàng bạc khắp nơi giữa buổi tuế thời tân, bởi vì xuân mãn nam thiên, bởi vì mùa xuân không bao giờ lỗi hẹn.

          Rồi khi tôi vừa chào đời, song thân tôi trở về quê cũ. Tôi đã sống những ngày thơ ấu trong không khí vùng cao nguyên mùa đông lạnh buốt gió bấc mưa dầm. Dần dần mưa tạnh, run run chút nắng mong manh, lớp đất đóng rong trên mặt sân bóc lên những miếng bằng miệng chén, vỡ ra giòn vụn dưới bàn chân cho tôi sự thích thú nhẹ nhàng. Vài ba buổi chiều rồi năm bảy buổi chiều. Cái nắng như người bệnh yếu ớt ẻo lả ấy dần dần bình phục, mỗi hôm đậm thêm một chút,  dần dần không biết tự lúc nào vẻ chói chang rực rỡ hiện rõ, trong màu sắc còn có hương thơm và hình như có cả vị ngọt. Chúng tôi ngớ ra y như con thú rừng ngẩng đầu vươn cao tầm nhìn để đánh hơi trong gió và thấy được: tết sắp tới rồi. Tuổi nhỏ chúng tôi chỉ biết có tết, sau này lớn lên, hồi tưởng mới nói : mùa xuân đang đến. (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=213196

TRANG THƠ TÌNH MÙA XUÂN Nhiều Tác Giả
mangvienlong | 02 Feb, 2010, 18:13 | Bài viết của bạn văn | (84 Reads)


 

T R A N G  T H Ơ  T Ì N H  M Ù A  X U Â N



Nhiều Tác Giả :  TRẦN HUIỀN ÂN &   HOÀNG LỘC & LINH PHƯƠNG &

HY VĂN & TIẾN THẢO& VŨ MIÊN THẢO



EM TRONG LÒNG TA

Trần Hiền Ân



Vì bông vạn thọ

Sắc nắng thêm vàng

Vì lời em gọi

Mà mùa xuân sang


Vì cành trắc bá

Da trời thêm xanh

Vì đôi mắt biếc

Hạt sương long lanh


Vì môi em thắm

Màu mây ửng hồng

Vì em soi bóng

Suối nước ngời trong


Ta về xóm nhỏ

Bước chân bình yên

Hàng cau trước ngõ

Nửa vầng trăng nghiêng


Con dường phương thảo

Giọt rượu hoàng hoa

Em cười mộng ảo

Như gần như xa

THÂ

NỔI CHÌM HẠT LỆ


Hoàng Lộc



hạt lệ ta hạt lệ người

kể như đã thấm vào nơi tuyệt tình ?

hạt lệ em hạt lệ mình

có khi rớt ở biển xanh mất rồi ?

em từng khóc giữa ngày vui

giữa đêm trăng khuyết giữa lời thơ xưa ?

ta từng khóc với thờ ơ

với em - bất tận cõi bờ thời gian...

em bưng hạt lệ lên ngàn

để xin hoá thạch đầu non một đời ?

ta cầm hạt lệ về khơi

chìm tan với biển quên trời phù vân ?

sao không úp hạt lệ gần

lên vai nhau khóc một lần rồi thôi ?

HL



NGUYÊN ĐÁN

Linh Phương

Tặng em Dạ Hương



Tháng giêng hoa vàng đón tết

Phố phường chạm ngách mùa xuân

Giao thừa ngủ quên nằm mộng

Sớm mai rát ngực dậy thì


Em gõ vào tim anh nhé !

Nốt nhạc của ngày vui xưa

Đỡ đau tình người năm cũ

Buồn rơi theo tiếng nguyệt cầm


Xanh non lộc biếc nhú mầm

Rót mật mềm môi con gái

Nụ hôn đầu tiên khờ dại

Hồn như bị bỏ bùa mê


Trăm năm thương mãi câu Kiều

Cứa lòng nhớ hoài đôi mắt

Long lanh liếc ngang- liếc dọc

Càn khôn nghiêng ngã dưới chân


Tháng giêng em về quê hương

Cùng anh têm trầu cánh phượng

Cau sáu bửa đôi thêm nồng

Trong veo đất trời nguyên đán


LP


MỘT THOÁNG XUÂN VIỄN XỨ

Huy Văn


                       

Dù bể dâu cuốn đời gìông bão
Vẫn nhớ hoài suối tóc vờn bay
Em về giữa không gian huyền ảo
Dáng chiêm bao, kỷ niệm tràn đầỵ

Nhớ Em thuở môi cười, mắt biếc
Tình hồng đan tay dệt ước mơ
Giữa bấp bênh của thời kiếp nạn
Tình đơn sơ mà đẹp không ngờ !

Nắng đọng trên tóc Em lóng lánh
Đường đan tay cây lá trở mình
Ong bướm cũng vì Xuân nâng cánh
Mênh mang hồn ngập bóng hoa xinh.

Thoáng về trong giấc xuân viễn xứ
Là mắt Em man mác sương đơì
Mảnh khảnh bay trên đôi cánh áo
Là mây trơì trầm bổng ngàn khơi

Thầm thì giữa âm vang mộng mị
Là lơì tim nồng ấm, dịu dàng
Hồn mở ngỏ, tình Em khải thị
Trên cành xuân, lộc biếc miên man.

Lung linh kỷ niệm về trong mộng
Xuân lòng vừa nở đoá nghinh tân
Đêm trở giấc riêng mình đối bóng
Nhớ Xuân xa,
thoáng hiện mơ gần.

HV


ĐƯỜNG VỀ

Tiến Thảo



Đã ở trời Tây xa vạn dặm

Mà khi Tết đến củng mong về

Mới biết ly hương không ly tổ

Nỗi lòng đau đáu một miền quê.


Bởi trót sinh từ dòng giống Việt

Mang hồn chim Lạc cứ bay vòng

Sông núi chập chùng trong huyết quản

Tình nhà nợ nước ngọn đèn chong


Lắm lúc xứ người đêm lạnh giá

Tuyết rơi trắng xóa ngập sân nhà

Mùi bánh chưng xanh thơm trí tưởng

Bếp hồng ngày cũ ấm đường qua


Mai đào giục bước  mùa hội ngộ

Tiếng cười rộn rã cả sân ga

Tay bắt mặt mừng cùng xuân mới

Tình người thắm thiết giữa ngàn hoa.

TT



XUÂN VỀ NHỚ QUÊ

Vũ Miên Thảo



lâu rổi một thoáng quê hương

ba chiều nhớ - bốn chiều thương...nhói lòng

những ngày se bấc, tàn đông

cây xanh màu lá chờ mong...ngày về

bộn bề chi nữa cõi mê

áo cơm-danh phận trả về phù sinh

về quê nhìn lại chính mình

không thôi, thành kẻ bạc tình cọng rau

nhiều lần xuân trước- xuân sau

bẽ cong lời hứa, nghẹn ngào nhớ quê!

VMT

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=212875

NỖI BUỒN KHÔNG TÊN GỌI Truyện Ngắn TRẦN MINH NGUYỆT
mangvienlong | 01 Feb, 2010, 17:04 | Bài viết của bạn văn | (35 Reads)


 

NỖI BUỒN KHÔNG TÊN GỌI

@


Truyện Ngắn


TRẦN MINH NGUYỆT




           
Quyên về tới khu tập thể, thì trời đã tối mịt.Mùa đông ngày ngắn đêm dài- mưa lất phất, rì rào, dai dẵng choáng ngợp chung quanh. Tiếng côn trùng đang râm ran tấu khúc nhạc đêm ẫm ướt buốt lạnh. Mới hơn 7h mà ở khu tập thể mọi người  đã đóng  kín cửa đi ngủ cả rồi. Đêm trở nên tĩnh lặng lạ thường.Chỉ có phòng Quyên và Chị Ngân là còn sáng đèn. Ngày nay Quyên dạy 9 tiết,sau đó Quyên còn dạy thêm một nhóm nữa, nên cảm thấy thấm mệt. Nhưng cô  vẫn cố gắng  ngồi chấm cho xong 2 xấp bài 1 tiết để ngày mai kịp trả cho học sinh. Niềm vui duy nhất của Quyên bây giờ là những đám học sinh quanh cô-chúng hồn nhiên, nghịch ngợm mà thật đáng yêu.
   -Quyên ơi! Ăn cơm đi, Ngân đói lắm rồi-Tiếng Ngân vọng vào.
  -Dạ! Gì chứ ăn là em ra ngay-Quyên tự cười với câu nói của mình.
  - Quyên này, em dạy đến tối mới về vậy là nguy hiểm lắm em à...
   -Học trò chở em đi mà chị- Quyên cười cười- không sao đâu. Đi một nhóm hơn 10 người, ai dám chọc mà chị lo.?Với lại em chị có võ mà-chị không biết sao?
        Hai chị em Quyên cười vui vẻ.
       Chị Ngân về trường trước Quyên một năm. Dạy cùng môn với cô, hai chị em cô ở cùng phòng đã hơn 10 năm rồi. Ai cũng nói 2 người dạy cùng môn, cùng phòng khó mà ở với nhau thân tình được, vậy mà ngược lại chị Ngân và cô tình thân thiết như chị em ruột trong nhà. Bản tính chị Ngân hiền dịu, ít nói và luôn cam chịu.Lúc Quyên về trường chị đang làm tổ trưởng, chị dạy khá giõi và chị đã giúp Quyên rất nhiều về chuyên môn. Quyên càm thấy mình được như ngày nay cũng nhờ sự chỉ bảo tận tình của chị.
      Ông trời đôi khi cũng không được công bằng hay sao mà chị hoàn thành tốt công việc của một tổ trưởng,là mẩu người hết lòng vì học sinh thân yêu,nhưng không được lòng ông Phương- hiệu trưởng của trường.Ông tìm cớ cách chức tổ trưởng của chị và đưa cô Hạnh mới về trường lên thay. Cô Hạnh trẻ- xinh xắn, hát hay, năng nổ, nhưng chuyên môn thì còn phải học hỏi thêm nhièu nơi chị .Giáo viên trong tổ, trong trường không bằng lòng trước sự thay đổi  đột ngột ấy, phản đối ngay trong cuộc họp- nhưng ông Phương vẫn luôn giữ ý mình- ông lại nói "Tổ trưởng không có nghĩa là dạy giỏi"?
       Chị Ngân bị cú sốc làm tổn thương nặng, vốn đã ít nói giờ càng câm lặng hơn. Chị dạy và ở luôn trên lớp,không xuống văn phòng vào giờ giải lao nữa. Chị ít nói chuyện với ai, ngoại trừ với Quyên thôi.Nhìn chị  sống cam chịu lặng lẽ  vậy Quyên cũng đau xót, bức rức lắm . Hạnh làm tổ trưởng được nửa năm,không hiểu vì lý do gì- cô cứ tìm mọi cách bắt bẻ để khiêu khích, châm chọc chị Ngân. Dù luôn nhẫn nhịn-chi Ngân cũng không thể im lặng trước nhưng lời xỉa xói ám chỉ mình. Và những cuộc họp tổ thường biến thành những giờ cải vả, to tiếng giữa hai người. Đỉnh điểm là cuộc họp tổ cách đây một tháng.
      Hạnh tự đắc- giọng sang sảng: :" Tôi đã được tín nhiệm của Ban Giám hiệu cử  làm tổ trưởng, còn chị không có năng lực- tốt hơn hết là  nên cầu  chữ" bình an "đi !"
      Chị Ngân bàng hoàng-nét  mặt tái xanh- nói lớn: " Tôi đã làm việc hết lòng, đưa tổ đi lên,mỗi năm tỉ lệ tốt nghiệp đều cao so với mặt bằng chung của tỉnh, dựa vào đâu  cô nói tôi không có năng lực"
    Hạnh đốp lại  :" Chị thì làm được gì,chẳng qua tại học sinh học giỏi thôi,Tôi không tranh luận với chị nữa, chị chỉ đáng nói với con của tôi thôi." Hạnh " bồi thêm": " Đồ dốt.".  Chị Ngân nghẹn lời- ngồi lặng lẽ trước sụ an ủi, can ngăn-và  bất bình của vài bạn đồng nghiệp.  Tối hôm đó chị Ngân khóc thật nhiều và cả đêm trằn trọc không ngủ
được. Giọng nói rổn rảng của Hạnh như cứ vang dội trong đầu...
      Bài kiểm tra số 3 được phát ra, và sau đó- chị Ngân phát hiện  trong tiếng xầm xì , to nhỏ. của đám học sinh- Chị nghiêm giọng :
  -Thủy! Sao em hỏi bài bạn?
  -Thưa cô em không có hỏi, em chỉ thấy không công bằng về đề kiểm tra.Sao có một số bạn biết trước bài kiểm tra vậy cô?-Thủy nhỏ nhẻ đáp.
      Chị Ngân giật mình: " Em nói sao?Ai biết đề? Cô  vừa mới lấy đề ở phòng vi tính nhà trường mà ? "
  - Thưa cô, nếu Cô không tin em thì xem bài bạn Nam ...?- Giọng Thủy vẫn rắn rỏi.
  - Nam! Sao em biết trước đề? Ngân đến bên cạnh-giọng nghiêm khắc.
  - Thưa cô, em không biết đề trước - em tự làm mà ...Nam ấp úng đáp.
  - Vậy vở này ở đâu ra? Quyên cầm tập vở trên bàn của Nam lên nhìn lướt qua -Em mà không nói thật, em không là học sinh của cô nữa- Giong Ngân buồn buồn.
  -Dạ!-Nam dò xét nhìn lên gương mặt Ngân- Cô tha lỗi, vở này em học thêm ở nhà cô Hạnh cô à...
       Ngân điếng người . Kiểm tra xong, Ngân gặp Hạnh ở văn phòng. Cô đến ngồi bên Hạnh - giọng trách cứ nhẹ nhàng: " Cô Hạnh! Sao cô dạy thêm mà dạy đề kiểm tra vậy?"
  -Em dạy bao giờ? Hạnh nhìn đứng vào mặt Ngân-Chị đừng ngậm máu phun người, chị tưởng làm vậy là hạ được uy tín của tôi sao? Hạnh- nhếch cười- Chị làm mất danh dự của tôi, tôi sẽ kiện chị lên hiệu Trưởng..."
        Buổi họp tổ căng thẳng vì có sự tham dự của ông Phương- hiệu trưởng và cô Thảo, thanh tra của trường.
    Mở đầu-  ông Phương nói :" Cô Ngân vì trả thù cá nhân mà kiếm chuyênj nhằm hạ uy tín, và làm mất danh dự của tổ trưởng - Ông nhìn quanh một lượt -Tôi  thay mặt nhà trường -yêu câu cô phải xin lỗi cô Hạnh và chịu kỷ luật cấp trường! "
     Chị Ngân  uất nghẹn không nói được lời nào. Nước mắt bỗng long lanh.
     Thầy Phương lại hỏi-giọng đầy quyền uy: :" Mấy thầy cô trong tổ thấy tôi quyết định vậy có được không?"
    Giáo viên trong tổ ai cũng thương cho chị Ngân vô tội nhưng không dám đứng lên phản đối. Họ đều biết được rằng sự chống lại ý của hiệu trưởng là một chuyện không dễ dàng, yên ổn chút nào? Họ đành miễn cưỡng chọn sự im lặng .Quyên cũng lặng im và cảm thấy nỗi buồn cuồn cuộn trong lòng . Cô  đã xem Ngân như là chị ruột của mình nhưng nếu phản đối lại quyết định  thiên vị của hiệu trưởng thì sau này cô biết chống đỡ làm sao? Nếu cứ tiếp tục im lặng- có nghĩa là đã đồng ý-  thì lòng cô ray rức không nguôi. Mặt Quyên nóng bừng lên- cô nghĩ thầm: " Tình nghĩa chị em bao năm chia sẻ-sống chung, lẽ nào ta sớm quên đi chỉ vì miếng cơm manh áo? "
  " Quyên! Cô nghĩ sao?" Tiếng ông Phương vang lên- cắt đứt dòng suy nghĩ của cô.
    Cô giật mình nhìn ông Phương, cô Thảo, rồi nhìn qua chị Ngân. Quyên đưa mắt nhìn quanh các bạn đồng nghiêp thật châm. Bỗng dưng Quyên  có càm giác như chị Ngân chị giống như một " tội đồ" sắp bị đem đi hành hình vậy.Quyên thấy xót xa thương chị .

    Giọng Quyên to-rõ:
   -Em không đồng ý với cách giải quyết của thầy-Quyên nói chậm rải- Tại sao cô Hạnh làm lộ đề, mà chị Ngân thì bị chịu kỉ luật vậy -thưa thầy?
    Ông Phương đập bàn :" Sao cô dám chắc chắn cô Hạnh làm lộ đề? Cô có bằng chứng gì không? -Ông cười gằn-Hay  cô lại đố kị với cô Hạnh  nữa?"
    Cơn tức giận trong lòng Quyên đã làm tan biến  nỗi  lo sợ ban đàu. Cô nghe giọng mình nói rất rõ:  " Nếu thầy cứ quyết định đem chị Ngân ra kỉ luật, em sẽ gởi tất cả bằng chứng về chuyện này xuống thanh tra sở Giáo Dục trong ngày mai..."
     Ông Phương lặng im-  mặt tái nhợt -giây lâu ông nói: " Tôi là người giải quyết, cô không được đưa đi đâu cả. Cô trình bằng chứng cụ thể ra, nếu không cô là người vu cáo  và sẽ bị lãnh kỷ luật nặng hơn cô Ngân thì dừng có kêu..." .Cuộc họp tạm kết thúc mà chưa có quyết định nào...
        Tối về- nghĩ lại, Quyên cảm thấy rất lo ngại. Sáng hôm sau, cô và chị Ngân lên lớp sớm hơn thường lệ để  lấy chữ kí của học sinh xác nhận là cô Hạnh đã dạy trước ở nhà nội dung của đề kiểm tra. Nhiều em đã rất đồng tình xác nhận . Chúng hồn nhiên ký vào tở " báo cáo" như đang làm một việc tốt đẹp. Quyên đem bằng chứng này trình cho hiệu trưởng và cũng không quên pho to lưu lại một bảng. Sau đó- ông Phương đã phải đọc kỉ luật cấp trường với cô Hạnh.  Nhưng Quyên và chị Ngân cảm thấy một nỗi buồn không tên gọi len nhẹ vào lòng mình. . Cũng từ buổi sáng hôm đó- chị em cô dù có nổ lực làm việc đến đâu cũng không hê được công nhận .Danh hiệu" lao động giỏi" cuối năm cũng bị cắt với lời buộc tội đã " Gây chia rẽ nội bộ" ?

       Quyên và chị Ngân cũng đã hiểu ra, chọn cho chính mình một niểm vui-an ủi chính đáng mà không có danh hiệu gì! Cà hai đều  tận tâm hơn- giúp đỡ- dạy dỗ cho học sinh thân yêu của mình. Đó là niềm vui-niềm hảnh diên không bao giờ mất!


T R Ầ N  M I N G  N G U Y Ệ T

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=212686

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ YẾN LAN ( HK Kỳ 61-Tiếp theo ) Lâm Bích Thủy
mangvienlong | 01 Feb, 2010, 09:40 | Bài viết của bạn văn | (22 Reads)


V Ề  N G Ừ Ơ I  C H A  L À  T H I  S Ĩ
Hồi Ký ( Kỳ 61)

L ÂM  B Í C H  T H Ủ Y

             V Ô  C Ù N G  T H Ư Ơ N G  T I Ế C

                           N H À  T H Ơ  Y Ế N  L A N


HƯU THỈNH@ GIANG NAM@ NG THANH MỪNG@ PHẠM HỔ
@THÚY TOÀN @ HOÀNG CẦM@ TRẦN NINH HỒ@
NGUYỄN VIẾT LÃM@ HOÀNG MINH CHÂU@
@THANH THẢO@ TẠ VŨ@LƯU NHI DŨ@
NGUYỄN THỤY KHA@ HOÀI ANH@
XUÂN TÙNG...


 

                    Thương nhớ    

                                                     

     Giếng loạn Trường thơ bóng tháp Chàm khắc khoải

     Thân mảnh mai đầu lãng đãng bút tơ măng

      Biển động Qui Nhơn tay gầy run hướng lái

   Đến bây giờ thuyền đâu hẳn Bến My Lăng

   Ông già buông câu gieo sầu đầy sóng rập

   Hàn Mặc Tử kêu vàng rơi ơi Bích Khê

   Chế Lan Viên ngoái nhìn thế gian va đập

   Anh lang thang ngoài động réo nẻo về

   Hàn rồi Bích cả bạc đầu Quách Tấn

   Ai sau cùng đếm tuổi hỏi trời mây

   Chỉ từng giọt thấm khát khao vô tận

      Thơ buông rồi là sải cánh hạc hồng bay

Loạn rồi yên. Như tang điền nguyên bến đợi

Phẳng lặng tờ-Bình Định lắng thời gian

 Những ngọn bất ủ men đã lên đèn le lói

       Thức ngàn xanh cánh én ngủ nụ phong lan

                                                   Hoàng Cầm


Với
con người ấy, với cốt cách trầm tư đầy bản lĩnh ấy. Yến Lan đã đi qua những thập kỷ chằng chịt những biến động, những giao lưu của thế kỷ này, mà xem ra thơ ông lúc nào cũng rất chung thủy với tính cách ông, con người ông. Biết chữ Hán, bên cạnh ông là một thi sĩ nhiều hoài cổ như Quách Tấn: Yên Lan vẫn viết Bình Định 1935, một đầu đề thơ như những ghi nhận tức thì của phóng sự thời đại. Biết tiếng Tây lại bên cạnh những nhà cách tân lớn như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên ; khi cảm hứng Yên Lan vẫn bình tĩnh làm những bài thơ để thả hồn mình về với cảnh tình xưa, nhưng bằng một cách nhìn rất mới, kể cả khi ông dùng lại những thể thơ rất cũ của Đường thi ..Và với Yến Lan, cả trong những bài thơ tự do, phá cách nhất, ông vẫn giữ được cái nhạc - điệu - ngầm đầy quyến rũ của ngữ điệu ngôn ngữ Việt Nam. Có thể nói với một nội lực phong phú, Yên Lan luôn giữ được bản sắc tâm hồn mình, viết thơ mình, biết cân bằng xưa và nay giữa rất nhiều biến động của ngoại cảnh.

  Vị trí của Yến Lan lớn, nhỏ đến đâu trong thi đàn nước nhà, điềui đó còn chờ sự lắng đọng của nhận thức, phẩm bình và thời gian; nhưng có điều dễ thấy ở Yến Lan: Ông là một thi tài thật sự đặc sắc!

  Đã từ lâu, có thể do một thói quen nghề nghiệp, cũng có thể do một sở thích đọc xong một văn tài đặc sắc nào, tôi thường ghi bằng thơ chân-dung-tinh-thần của những văn tài ấy. Trong tập thơ nhỏ của tôi mới xuất bản gần đây, 1996 ở phần "thấp thoáng trăm năm" tôi có ghi được bằng thơ những cảm nhận về hai mươi văn tài Việt Nam của thế kỷ XX, thì có đến ba văn tài thuộc nhóm thơ Bình Định

  Và với Yến Lan, nhà thơ cuối cùng đã ra đi của nhóm thơ Bình Định lẫy lừng ấy tôi viết:

            Run rẩy một nhành trăng

Làm sao câu được cá  

Tự đặt ra bến lạ

Cho thuyền mình đi về

                                                                                                Trần Ninh Hồ


Ngày ấy, Xuân Khai thường xuyên ở trên thành Bình Định, thỉnh thoảng mới xuống Qui Nhơn gặp anh em. Trong nhóm thơ Qui Nhơn anh là người được đào tạo trong trường không nhiều nhưng tài năng bẩm sinh của anh đã cho anh sớm có những bài thơ hay. Không khí, tinh thần của quê hương đã giúp cho Nhóm Thơ Qui Nhơn, trong đó có Xuân Khai có được một phong cách dậm bản sắc dân tộc trong sáng tác. Riêng ở Xuân Khai thơ anh có một vị phong nhã, một phong sắc Phương Đông khá rõ. Ngay cả cách ăn mặc của anh cũng nói lên điều ấy. Xuân Khai thường mặc áo dài Sa-tanh đen, mang guốc gỗ, tính điềm đạm, cử chỉ khoan hòa. Chúng tôi thường gọi đùa anh là Giang Châu Tự Mã (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=212578

DANH NHÂN PHẬT GIÁO VN SINH VÀO NĂM DẦN Huyền Nữ Dương Chi (ST/BS)
mangvienlong | 30 Jan, 2010, 21:04 | Bài viết của bạn văn | (63 Reads)



 

DANH NHÂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

            SINH VÀO NĂM DẦN


Trần Thái Tông            Đẹ Tam Tổ Huyền Quang

                                             Thiền Sư Quảng Nghiêm
Tuệ Trung Thượng Sĩ


          *Thiền sư TRƯỜNG NGUYÊN (Canh Dần 1110): Sư họ Phạm, người làng Trường Nguyên, huyện Tiên Du. Khi xuất gia được thiền sư Đạo Huệ ở chùa Quang Minh truyền tâm ấn. Sau, Sư vào núi Vệ Linh ẩn tích, ăn rau rừng, hạt dẻ, làm bạn với thiên nhiên, tụng kinh niệm Phật suốt năm lặng lẽ nên không ai hay biết. Vậy rồi danh tiếng của Sư cũng lan truyền đến kinh đô. Vua Lý Anh Tông muốn triệu kiến mà Sư không chịu đến, vua phải sai bạn cũ của Sư là đại thần Lê Hối đến khuyên mời. Sư nhận lời cùng đi, nhưng đi đến chùa Quán Hương lại sực tỉnh hối tiếc, bèn trốn về. Để giải thích việc "đổi ý giờ chót" ấy, Sư nói với chúng đệ tử : "Ta đã thân khô lòng nguội, đối với thế tục, phù phiếm hư ngụy có đáng là gì? Có lẽ là do chí hạnh của ta mà chưa thuần nên còn bị cái lòng lợi danh làm khốn!". Mồng 7 tháng 6 năm Chính Long Bảo Ứng (1165), Sư cảm thấy thân thể khác lạ, bèn gọi đệ tử đến, đọc lời kệ : "Ở nơi bóng trần / Thường lìa bóng trần / Lòng dạ trắng trong / Cùng vật không thân / Tài bằng trời đất / Vượt cá nhân luân / Dưỡng nuôi muôn vật / Cùng vật vui xuân / Gái sắt đứng múa / Người gỗ đánh trống". Đọc xong, Sư xả bỏ ngũ uẩn ra đi, thọ 56 tuổi.


         
*Thiền Sư QUẢNG NGHIÊM (Nhâm Dần 1122): Sư họ Nguyễn, người Đan Phượng, từ nhỏ mồ côi cha, theo hầu cậu là thiền sư Bảo Nhạc, được cậu khai tâm điểm đạo. Sau khi cậu mất, Sư đi hành cước khắp nơi để tham vấn thiền học. Nghe tiếng thiền sư Thiền Trí thuyết pháp ở chùa Phúc Thánh, hương Điển Lãnh, Sư tìm đến xin làm đệ tử. Một hôm nghe Sư Thiền Trí giảng "Tuyết Đậu Ngữ Lục", đến đoạn đối đáp về vấn đề sinh tử, Sư đắc pháp. Từ đó danh tiếng của Sư lan truyền khắp chốn. Sau , Sư đến trụ trì ở chùa Thánh Ân, hương Siêu Loại, có Thượng thư Bộ Binh là Phùng Giáng Tường hâm mộ danh tiếng của Sư, mời về truyền giảng tại chùa Tịnh Quả, tăng lữ gần xa kéo đến xin thọ giáo rất đông. Đệ tử thân cận của Sư là Thường Chiếu, sau này cũng là một thiền sư xuất chúng. Ngày 15 tháng 2 năm Canh Tuất (1190), Sư lâm bệnh, gọi chúng đệ tử đến, đọc bài kệ : "Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ/ Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh/ Nam nhi tự hữu xung thiên chi/ Hưu hưởng Như Lai hành xứ hành". (dịch : "Thoát tịch diệt xong, bàn tịch diệt / Sau vô sinh, hãy nói vô sinh / Làm trai lập chí xông trời thẳm/ Theo gót Như Lai luống nhọc mình!"). Đọc xong Sư chắp tay, an nhiên thị tịch, thọ 69 tuổi, được Thượng thư Phùng Giáng Tường làm lễ hỏa thiêu, xây tháp phụng thờ.


         
*Thiền sư TỊNH LỰC (Canh Dần 1170): Sư họ Ngô tên Trạm, quê ở Cát Lăng, Vũ Bình. Thuở nhỏ, Sư rất thông minh, lớn lên càng giỏi về văn chương, nghệ thuật và chữ viết. Hữu duyên cho Sư gặp Thiền sư Đạo Huệ, tâm dừng nơi cảnh Phật, mặc cỏ cây, phước tuệ song tu. Trải qua nhiều năm giữ tâm càng vững chắc, Sư vâng lời thầy thẳng lên núi cất một thảo am gọi tên Vương Trì (ở làng Cương Việt, Vũ Kinh) rồi trụ trì nơi đó. Trong mười hai giờ, Sư lễ Phật sám hối, được niệm Phật tam-muội, giọng bổng tiếng trầm của Sư nghe trong vắt. Học trò theo học rất đông. Sư thường giảng kinh Viên Giác cho môn đồ nghe,  nghĩa lý chỗ nào chẳng ổn, đích thân Sư cải chánh. Đến niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo thứ hai (1175), một hôm Sư cáo bệnh, gọi môn đồ tề tựu mà dạy : "Các ngươi! Tất cả các người học đạo lấy tâm siêng năng cúng dường Phật, không gì khác hơn chỉ cầu dứt được các nghiệp ác. Tâm miệng niệm tụng, tin hiểu nghe nhận, ở chỗ vắng vẻ yên lặng, gần thiện tri thức. Nói ra lời hòa nhã, nói phải thời đúng lúc, trong tâm không khiếp nhược. Liễu đạt nghĩa lý, xa lìa ngu mê, an trụ chỗ bất động. Quán tất cả pháp vô thường vô ngã, vô tác vô vi. Nơi nơi lìa phân biệt, ấy là người học đạo, nay phần hóa duyên của ta đã xong". Sư lại nói kệ : "Trước tuy nói kiết, sau gọi hung/ Từ đời Thái Tổ kiêng chẳng tùng/ Vì thấy rồng lên làm Phật tử/  Chợt trông chuột hiện lặng vô cùng!". Dứt tiếng, Sư ngồi ngay thẳng an nhiên thị tịch, vào năm 1233, thọ sáu mươi bốn tuổi.


         
*TRẦN THÁI TÔNG (Mậu Dần 1218): Tên thật là Trần Bồ, sau đổi thành Trần Cảnh, nhà nghiên cứu Phật học nhà thơ, và là vị vua đầu tiên của nhà Trần, quê quán ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là Nam Định). Làm vua năm 7 tuổi, ở ngôi 32 năm, làm Thái thượng hoàng 19 năm. Trước khi truyền ngôi cho con trai là Thái tử Trần Hoảng (sau là vua Trần Thánh Tông), ông đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt chống lại cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông, với thắng lợi vẻ vang. Ông trở thành một vị minh quân, và cũng được tôn xưng như một Thiền Sư. Ông qua đời vào năm 1277, thọ 59 tuổi, tác phẩm để lại gồm : Khóa hư Lục, Thiền Tông Chỉ Nam, Lục thời Sám Hối Khoa Nghi .
..

          *TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ (Canh Dần 1230): Thiền sư, tên thật là Trần Tung, hay Trần Quốc Tung, là con trưởng của An Sinh Vương Trần Liễu, anh ruột của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, tước hiệu Hưng Ninh Vương. Ông là người hướng dẫn vua Trần Nhân Tông vào cửa Thiền, từng tham dự cả 3 lần kháng chiến chống Nguyên Mông. Sau khi kháng chiến thành công, ông được phong chức Tiết Độ Sứ cai quản phủ Thái Bình, nhưng không lâu sau ông lại lui về ấp Tịnh Bang lập Dưỡng Chân Trang để tu học pháp Thiền. Ông được vua Trần Thánh Tông tôn làm đạo huynh. Nhiều áng thơ bài kệ do ông sáng tác được kiết tập trong Thượng Sĩ Ngữ Lục được lưu truyền rất nổi tiếng. Ông viên tịch vào năm 1291, thọ 61 tuổi.


         
*Đệ tam Tổ HUYỀN QUANG (Giáp Dần 1254): Thiền sư nhà thơ đời Trần, người làng Vạn Tải, châu Nam Sách (nay thuộc Bắc Ninh), tên thật Lý Đạo Tái. Nhà nghèo, nhưng từ thiếu thời ông đã lộ tư chất thông minh, học giỏi. Sau đỗ cả thi Hương, thi Hội, Đệ Nhất Giám Tiến Sĩ (Trạng Nguyên), ông được bổ làm việc trong Viện Nội Hàn của triều đình, đón tiếp sứ giả Trung Hoa, nổi tiếng thi văn kiệt xuất. Sau, ông buông bỏ hết chức tước địa vị, từ chối cả việc làm phò mã của vua Anh Tông, quyết chí xuất  gia cầu Đạo tham thiền, theo hầu "Phật Hoàng" Trần Nhân tông. Đến khi Đệ Nhị Tổ là Pháp Loa truyền y bát cho ông, ông trở thành vị tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Năm 77 tuổi, ông truyền y bát cho Quốc Sư An Tâm, lui về thiền thất tịnh dưỡng. Ba năm sau, năm Giáp Tuất 1334, ông qua đời, thọ 80 tuổi, Tác phẩm lưu lại đến nay chỉ còn 24 bài thơ trong Việt âm thi tập, Trích diễm thi tập.


         
*NGÔ THÌ NHẬM (Bính Dần 1746): Cư sĩ nhà văn  đời hậu Lê Tây Sơn, tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiên, còn gọi là Ngô Thời Nhiệm, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh. Ông xuất thân gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, quê ở huyện Thanh Oai, Hà Tây (nay thuộc Thanh Trì, Hà Nội). Ông thi đỗ Giải Nguyên năm 1768, rồi Tiến Sĩ Tam Giáp năm 1775. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm quan ở bộ Hộ dưới triều Lê Trịnh. Năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho ông chức Binh bộ Thượng thư. Sau  khi  Quang Trung mất, ông lui về nghiên cứu Phật học. Đến khi Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn, ông và một số quan triều Tây Sơn thì bị đánh bằng roi tại Văn Miếu, sau trận đánh đòn, ông về nhà thì qua đời. Tác phẩm còn để lại : Hải Dương chí lược, Hy Doãn thi văn tập, Xuân Thu quản kiến...


         
*NGÔ LỢI (Canh Dần 1830): Tu sĩ, khai sáng đạo Từ Ân Hiếu Nghĩa, quê ở Bình An - Định Tường (Tiền Giang), lúc 20 tuổi, ông viết Đà- La-Ni Kinh, dài 223 chữ Hán, mà sau này trở thành quyển kinh quan trọng của tông phái. Năm 1872, ông cất chùa ở xã Bình Long, rối lấy đó làm cơ sở truyền đạo. Ông đã đi nhiều nơi vừa trị bệnh, vừa thu nhận và dạy tín đồ thuyết "học Phật tu nhân, báo đáp tứ ân". Năm 1876, ông đưa một số đệ tử vào vùng Núi Tượng theo để khai hoang, lập chùa miếu và mở thôn ấp mới. Năm Canh Dần 1890, ông mất vì bệnh tại thôn An Hòa, gần Núi Tượng, lúc 59 tuổi. Ngoài bản Đà- La-Ni Kinh, ông còn truyền dạy cho tín đồ nhiều bài cung văn sớ điệp, nhiều nghi tiết cúng lễ, ghi chép lại thành tập sách Ngọc Lịch Đồ Thơ Tập Chú.


         
*THIỀU CHỬU (Nhâm Dần 1902): Nhà văn hóa, dịch giả và tu sĩ, tên thật là Nguyễn Hữu Kha, quê quán ở Trung Tự - Đông Tác (nay thuộc Đống Đa - Hà Nội). Bút hiệu Thiều Chửu có nghĩa là cái chổi quét bụi, tâm nguyện của ông là "Cây chổi quét bụi ấy sẽ làm trong sáng Giáo hội qua ngòi bút cải cách của mình", và "hằng ngày phải lau quét bụi trần tham nhiễm, đừng để gương lòng vẩn đục bởi phiền não vô minh che lấp". Từ nhỏ nhờ  đức tính kiên trì tự học, ông đã am hiểu chữ Hán, Nho giáo và Phật giáo, lại thông thạo các tiếng Anh, Pháp, Nhật. Ông cho ra đời bản dịch Khóa Hư Lục vua Trần Thái Tông, làm quản lý và biên tập cho tờ báo Đuốc Tuệ, tham gia thành lập Hội truyền bá Quốc ngữ, đảm nhận việc dạy chữ Hán, giảng kinh và chủ trì các khóa lễ ở trường Phật học Phổ Quang. Năm 1946, Hồ Chủ tịch đã mời ông ra làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong chính phủ lâm thời, nhưng ông từ chối để tiếp tục việc giảng dạy cho các lớp Phật giáo, cùng Cô nhi. Ngoài bộ Hán Việt Tự Điển có giá trị vượt thời gian, ông còn dịch 14 bộ kinh căn bản của đạo Phật, viết các sách về Phật học. Bị vu cáo, cộng với sự thương cảm cho nhiều nông dân bị hàm oan trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam mà cảm thấy mình bất lực, ông đã tự vẫn vào năm Giáp Ngọ (1954) tại tỉnh Thái Nguyên, lúc 52 tuổi.


         
*Đại đức THÍCH QUẢNG HƯƠNG (Bính Dần 1926): Nhà sư vị pháp thiêu thân, pháp danh Nguyên Diệu, pháp hiệu Bảo Châu, nối pháp dòng Lâm Tế Liễu Quán đời thứ 44, thế danh Nguyễn Ngọc Kỳ, quê tại Tuy An - Phú Yên. Năm 1943, Sư xuất gia tu học ở chùa Kim Cang- Phú Yên. Năm 1949, Sư cầu Pháp và thọ Cụ Túc giới với Hòa Thượng Liễu Tôn, nhận chức Thư ký của chi hộ Phật giáo An Hiệp. Sau năm 1950, Sư vào học tại Phật học Viện Nha Trang, được cử làm Giảng sư tại tỉnh Hội Phật giáo Đà Lạt. Năm 1961, Sư được kiêm nhiệm trụ trì và Giảng sư tại tỉnh Hội Phật giáo Dak Lak. Vì thấy Phật giáo bị đại nạn, nên Sư phát nguyện tự thiêu vào ngày 5/10/1963, khi 37 tuổi, tại bồn binh chợ Bến Thành - Sài Gòn, để đấu tranh cho Chánh Pháp.

                                                                                      HUYỀN NỮ DƯƠNG CHI

                                                                                         (Sưu tầm & Biên soạn)

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=212296

MÙA XUÂN Ở TRÊN CAO Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 27 Jan, 2010, 20:28 | Truyện Mang Viên Long | (32 Reads)


 

MÙA XUÂN Ở TRÊN CAO


Truyện Ngắn
M A N G  V I Ê N  L O N G





           Cứ một ký lô cọng lá dừa được vuốt sạch-Hiên mua lại với giá năm ngàn đồng.Mỗi ký cọng lá dừa, Hiên bó được ba cây chổi. Mỗi cây chổi đem ra chợ bán được năm ngàn loại tốt, và bốn ngàn loại thường. Hằng ngày vợ cồng Hiên ngồi suốt từ sáng sớm đến  tối mịt, mỗi người bó được từ 15 đến 20 cây chổi!

           Hiên thường nhận làm chổi lá dừa-còn Mân-chồng nàng, nhận làm chổi đót; vì chổi lá dừa dễ làm,nhẹ nhàng, và cũng " dễ ăn" hơn. Đót mua vào 350 ngàn đồng một ký, nếu được chọn vuốt chải ngay ngắn sạch sẽ  trước, thì mỗi ngày Mân bó được 20 cây. Giá bán có 3 loại: Loại đặc biệt bán giá 22 ngàn đồng, loại tốt giá 20 ngàn, loại thường giá 17 ngàn dồng một cây. Hiên đã có lần tính thử, cứ một ký đót sẽ kiếm được một trăm ngàn đồng tiền công lãi. Mân dã có lúc làm quên trưa, một ngày bó được 20 cây! Trong hai chục cây chổi ấy-anh phải chia cho lão Năm- Bụng và dì Sáu hết hai chục ngàn đồng cho mỗi người một ngày tiền công còng lưng vuốt dót, làm sạch-sắp xếp ngay ngắn  cho anh. Ngày đầu gọi lão Năm -Bụng và dì Sáu đến giúp- Mân nói với vợ: " Mình chia sẻ cơm cháo cho Bác Năm, dì Sáu nghe em? Mình kiếm được miếng cơm, thì hai người cũng có bát cháo mà! Còn con Nghĩa, thằng Tình-mình nên để cho con nó có thời gian mà học...Đời tụi mình đã lỡ vậy-không lẽ để con cả đời cắm đầu xuống mấy cọng đót, cọng lá dừa ? Nhìn thấy tụi nó cắm cúi vào bó đót suốt ngày, anh không yên tâm được em à!".

          Hiên ngước nhìn chồng với tia nhìn yếu ớt, chậm-vì nỗi buồn lo trĩu nặng và nhiều đêm thức khuya bên bó chổi trong ánh đền điện tròn đỏ quạch:

•-         Em cũng đã nghĩ vậy mà! Hiên thở dài-tháng Chạp này công việc nhiều, chổi bán được-chúng không thể kham nỗi đâu?

•-         Ăn uống thì quanh quẩn chí có mắm, với rau, thức khuya dậy sớm vậy, anh ngại Tết chúng đau thì thêm khổ!-Mân tiếp tục buột dây nhựa quanh bó chổi đang làm dang dở...

          Lão Năm -Bụng sống một mình nơi góc phía sau hiên đình làng từ ngày vợ lão mất vì bệnh xơ gan! Lão đã phải bán đi thửa vườn và căn nhà tranh còn lại để trả tiền nợ đã vay  lo chửa chạy thuốc men cho vợ từ nhiều tháng trước. Trả  nợ xong, còn  một ít dể làm vốn kiếm ăn thì đứa con trai duy nhất lưu lạc ở Saigon nghe tin đã trở về gầm gừ hạch sách lão rồi lấy  hết khoản tiền  còn lại mới chịu ra đi! Lão Năm buồn. Ngã bệnh-và chiếc bụng của lào ngày một lớn lên. Hàng xóm thường gợi  tên thứ Năm của lão kèm theo chữ " Bụng" để phân biệt với lão Năm- Kèn trong ban tang lễ của đình.Cả hai đều sống chui đụt hai bên ngôi đình làng như đôi bạn chí cốt-như hai đám rong bèo tình cờ bị trôi  dạt vào chân cầu ...

          Tình cảnh của dì Sáu cũng thật cay đắng: Trước, nhà dì cũng thuộc loại khá giả trong thôn. Ruộng đôi ba mẫu. Vườn cây ăn trái vài hecta. Vợ chồng dì sớm  chiều trà thuốc thong dong một thời. Sau năm 75-ruộng thì  giao nộp cho hợp tác xã,còn vườn cũng được " hiến" để xây cất nhà kho . Gia đình dì Sáu được cấp cho một khoảnh đất ở cuối thôn. sau lưng ngôi trường tiểu học. Ông Sáu xin vào làm cai trường , còn dì Sáu thì hằng ngày với mẹt bánh kẹo cốc ổi ngồi trước cổng trường, kiếm từng dồng bạc lẻ của đám học sinh nghèo khó! (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=211741

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC NHÀ THƠ YẾN LAN ( HK Kỳ 60 ) Lâm Bích Thủy
mangvienlong | 26 Jan, 2010, 10:32 | Bài viết của bạn văn | (51 Reads)


V Ề  N G Ừ Ơ I  C H A  L À  T H I  S Ĩ
Hồi Ký ( Kỳ 60)

L ÂM  B Í C H  T H Ủ Y

             V Ô  C Ù N G  T H Ư Ơ N G  T I Ế C

                           N H À  T H Ơ  Y Ế N  L A N
HƯU THỈNH@ GIANG NAM@ NG THANH MỪNG@ PHẠM HỔ
@THÚY TOÀN @ HOÀNG CẦM@ TRẦN NINH HỒ@
NGUYỄN VIẾT LÃM@ HOÀNG MINH CHÂU@
@THANH THẢO@ TẠ VŨ@LƯU NHI DŨ@
NGUYỄN THỤY KHA@ HOÀI ANH@
XUÂN TÙNG...


Hai chị em : LÂM BÍCH THỦY & LÂM TÚ THỦY
 

   Sau khi ba tôi ra đi, bạn đồng niên, vong niên, người yêu thơ viết, tôi xin đăng lại những bài  mang tính chất đánh giá và phát họa chân dung nhà thơ Yến Lan để các bạn tham khảo. Chẳng là có nhiều người muốn biết về chân dung thật của ông .Tôi tin rằng sự đánh giá của họ về tài thơ và đạo đức của nhà thơ sẽ giúp nhiều cho những người cần khi nghiên cứu một trong nhiều nhà thơ của Việt Nam ở thế kỷ XX.

  

Hôi Nhà Văn Việt Nam                   Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

                                                       Đọc lập-Tự do - Hạnh phúc

 

                                    Hà Nội, ngày 6 tháng 10 năm 1998

Kính gửi:

    -Tỉnh Ủy tỉnh Bình Định          

    - Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Định

    - Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bình Định


        
Các đồng chí kính mến!

         Hội Nhà văn Việt Nam vô cùng xúc động khi đột ngột nhận được tin cụ Yến Lan, nhà thơ xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại, người con thân yêu của Bình Định đã tạ thế

        Nhà thơ Yến Lan (lức Lâm Thanh Lang) sinh ra trên đất Bình Định 82 năm trước, trong một gia đình nghèo khó và sớm có lòng yêu nước, yêu quê hương. Trước cách mạng, Yến Lan đã tích cực hoạt động yêu nước trong nhà trường, viết kịch diễn cải lương, lập quỉ cứu tế xã hội. Yến Lan tham gia cách mạng tháng tám, cướp chính quyền ở huyện An Nhơn và là Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện An Nhơn ngay từ tháng 9 năm 1945. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp Yến Lan đã lần lượt tham gia nhiều công tác kháng chiến: Trưởng ban tuyên truyền khu vực Bình Định: Ủy viên Ban Chấp hành Chi hội Văn Nghệ Liên Khu Năm kiêm chấp hành Phân hội Văn Nghệ Bình Định

 Tập kết ra Bắc 1955 ông tiếp tục có nhiều đóng góp cho Hội Nhà văn, cho Nhà xuất bản Văn học, trong công tác biên tập cũng như đào tạo các tài năng trẻ.

         Trong sáng tác, gần 60 năm liên tục ông đã cống hiến nhiều chuyện ngắn, kịch thơ, ca kịch trường ca và thơ, ở thể loại nào cũng có thành tựu.

        Chính vì vậy, cùng với Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tế Hanh và nhiều nhà thơ cùng thế hệ Yến Lan đã có nhiều đóng góp lớn cho văn học và để trở thành bậc thầy mẫu mực cho nhiều thế hệ các nhà văn noi theo.

         Chúng ta cùng chia sẻ nỗi buồn đau và tổn thất to lớn.  Tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam sẽ tổ chức long trọng lễ tưởng niệm nhà thơ Yến Lan.

         Tham gia lễ tang tại Bình Định, chúng tôi trân trọng cử nhà thơ Giang Nam, nguyên Ủy viên Đảng Đoàn, Ủy viên Ban thư ký Hội Nhà văn Việt Nam thay mặt Hội Nhà văn tham gia Ban Tổ chức

         Chúng tôi được biết, trước khi mất, nhà thơ Yến Lan có để lại một di chúc và tỏ ý mong muốn về nơi an nghỉ cuối cùng.

        Chúng tôi kính mong các đồng chí giúp đỡ để ý muốn cuối cùng của nhà thơ xuất sắc của chúng ta được toại nguyện.

     Xin cảm ơn các đồng chí và gửi đến các đồng chí lời chào kính trọng.

                                                                        TM HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

                                                                    PHỔ TÔNG THƯ KÝ THƯỜNG TRỰC

                                                                         Nhà thơ Hữu Thỉnh                                                                                                    

 

Vô cùng thương tiếc nhà thơ Yến Lan

           

         Nhà thơ Yến Lan tên thật là Lâm Thanh Lang, sinh ngày 2/3/1916, tại thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn thuộc tỉnh Bình Định.

         Đã từng đảm nhiệm các công tác: Ủy viên văn hóa cứu quốc Bình Định, Ủy viên văn hóa kháng chiến Nam Trung Bộ, Trưởng đoàn kịch Liên Khu 5, Biên tập viên Nhà xuất bản Văn học... (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=211455

NƠI CUỐI CÙNG NHÀ THƠ YẾN LAN ĐẾN Hôi Ký ( Kỳ 59) Lâm Bích Thủy
mangvienlong | 24 Jan, 2010, 11:01 | Bài viết của bạn văn | (37 Reads)


 V Ề  N G Ừ ƠI  C H A  L À  T H I  S Ĩ
Hồi Ký ( Kỳ 59)

LÂM BÍCH THỦY   
       
                     NƠI CUỐI CÙNG NHÀ THƠ YẾN LAN ĐẾN!


 

             Nơi cuối cùng nhà thơ Yến Lan đến!

             Chết rồi thì nằm đâu chẳng được, miễn có nơi để đến. Đó là Nghĩa trang của Thị Trấn Bình Định( An Nhơn). Như vậy quê hương An Nhơn đã ưu ái cho nhà thơ của mình rồi, so với bác Quách Tạo và chí sĩ Phan Khôi trước đây nhà thơ Yến Lan - ba tôi cũng có phần hơn rồi!  

 Nhưng cứ nghĩ đến tôi thấy tiên tiếc làm sao ấy, nếu như ngay trước đó, lời đề nghị này đến sớm hơn có lẽ khác chăng?  "Chúng tôi được biết, trước khi mất, nhà thơ Yến Lan có để lại một di chúc và tỏ ý mong muốn về nơi an nghỉ cuối cùng.  Chúng tôi kính mong các đồng chí giúp đỡ để ý muốn cuối cùng của nhà thơ xuất sắc của chúng ta được toại nguyện.   (Nguyễn Hữu Thỉnh)"

            Rất lâu, ngày trước khi ba mất, tôi được nghe bàn tán về nơi cuối cùng dành cho nhà thơ một khi ông về với cát bụi. Người thì đoán "Chắc họ sẽ đưa ông vào nghĩa trang của tỉnh (ở Qui Nhơn)", người thì bảo "Họ sẽ đặt ông nằm cạnh Hàn Mặc Tử" để sau này có điều kiện có thể sẽ qui tụ toàn bộ người của "Tứ Hữu Bàn Thành" về một nơi thành lập "Đồi thi nhân" nơi du lịch đầy thơ mộng, đầy huyền thoại của thành phố biển Qui Nhơn...  (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=211123

TRANG THƠ MỚI CỦA TRẦN HOÀNG VY
mangvienlong | 23 Jan, 2010, 16:28 | Bài viết của bạn văn | (38 Reads)


 

Tôi đã được đọc Thơ Trần Hoàng Vy từ  thập niên 60-/ khi chúng tôi còn là sinh viên-hay " thầy giáo trẻ"đang ở vào tuổi trên 20 một chút!

Thơ Anh luôn  ghi lại những xúc cảm gần gũi,thân thiết-bằng hơi thơ êm nhẹ mà sâu lắng/ giản dị mà vi tế- được chắc lọc từ cuộc sống vốn bề bộn và  nhiễu nhương! Tôi yêu Thơ Anh còn vì phong cách sống an nhiên mà Anh phả vào Thơ, cũng như đã thể hiện trong đời thường...

Xin cám ơn Nhà Thơ Trần Hoàng Vy đã gởi cho chùm Thơ viết về mùa Xuân-khi mùa Xuân đang đến như một cuộc hội ngộ tình cờ - để được cùng nhau" cụng ly từ xa" ( chữ của Nhà Thơ VTQ)! Xin hân hạnh dược chia sẻ cùng Quý Bạn đọc...

MVL


LỘC ĐẦU NĂM.



Biêng biếc cành khoe non tơ

Mắt sương bịn rịn loang tờ lá thơm


Ngày treo trong gió đường rơm

Xanh nhu nhú lộc mùa đơm xuân nồng


Chậu thiên thanh lấm tấm bông

Cành năm ngóai bỗng ửng hồng nắng lên...

THV




VIẾT Ở AN KHÊ.



mấy chặng mưa phùn, mấy chặng hoa

đường lên dốc xuống lạnh tím da

sim, mua, cười cợt ta trong gió

bùn quánh lên người như...son pha!


cứ mãi mù mưa, lả chả mưa

mây sũng chờ mai phơi nắng trưa

ghé thăm bạn cũ làm thầy giáo

cắm rễ ở buôn người Gia Rai.


bạn chưa...đóng khố, hút thuốc tẩu

da đã xanh màu rêu với...thông

bạn chưa có vợ người bản xứ

mà ché, mà chiêng treo ở phòng.


lúc xưa bạn mộng giang hồ...xứ

nên nỏ với gùi, dăm mũi tên...

ừ để coi chơi, tay cầm phấn

mai mốt về xuôi nuôi chí bền!


trò chuyện chưa bưa, rượu cạn bầu

mà mưa từng chặp cứ không đâu

học trò mấy đứa nhìn qua cửa

thương bạn, thương trò ở vùng sâu...#


THV


NGÀY HOÀNG MAI.



Ngày rất nhẹ, khói trầm thơm nhẹ

nắng vừa giêng, vàng sắc xuân thì

mỏng mảnh cánh mai rơi rất khẻ

khắc vào thềm, lối em vừa đi.


Ngày hoàng mai, mai vàng cổng gió

mắt nhìn mềm lá dịu dàng sao?

ai thả câu thơ vào sắc biếc

rùng mình búp nụ nắng chong chao.


Thì cứ vàng mơ phai ngày rộ

tôi thèm áo nọ lụa nguyên trinh

xin thức dưới hoàng mai nâng rượu

ngày vàng trong biếc lá lung linh...#


THV


LÚNG LIẾNG SÔNG THU BỒN.



Khi nào sông ra biển

gửi chút tình ta theo

thuở mắt em lúng liếng

chạm cái nhìn trong veo.


Sông nghiêng chiều phố cổ

lang thang mây giang hồ

bỗng nhiên mà nhớ Bắc

gợn sóng lòng lô xô!


Nhớ sông Hồng...ngái ngủ

cuộn bên mình đêm sương

đèn ai soi lúng liếng

bỗng nhiên mà...nghe thương.


Khi nào, Thu Bồn ơi

nghe bờ sông giọng Bắc

khúc ca trù chơi vơi

sông sóng đầy hai mắt.


Bỗng nhiên mà nhớ Bắc

cho lòng thuyền hoang mang

lúng liếng đêm khoan nhặt

sông. Sao trời mênh mang!


TRẦN HOÀNG VY.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=210988

THÀNH KÍNH CẢM NIỆM NGÀY ĐỨC PHẬT THÀNH ĐẠO Mang Viên Long
mangvienlong | 19 Jan, 2010, 20:43 | Tản văn Mang Viên Long | (50 Reads)
  


 

THÀNH KÍNH CẢM NIỆM

NGÀY ĐỨC PHẬT THÀNH ĐẠO

           ( Ngày Mồng 8 tháng 12 âm lich)

            Tản Văn MANG VIÊN LONG


 Cách nay hơn 2500 năm - năm 528 TL (1) Đức Phật Thế Tôn đã tìm thấy chân lý Tối Thượng, sau 49 ngày đêm nổ lực, tinh tấn thiền định. Với quyết tâm cao tột, sau 6 năm tu khổ hạnh chưa thỏa được chí nguyện; Đức Thế Tôn đã đến bên cội Bồ Đề miền Bách Ga Xuyên nhặt cỏ làm sàn tọa, và nguyện rằng: "Ta nguyện ngồi nơi đây, nếu không thành đạo thì dầu xương tan, thịt nát, cũng không rời khỏi gốc cây này!". Với đại tâm đại nguyện ấy, ròng rã suốt 49 ngày đêm tọa thiền; Ngài đã chứng đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Giác - trở thành bậc thầy vĩ đại của Trời Người...

      Phật ngôn đầu tiên mà Ngài đã thốt lên sau khi giác ngộ, chứng được đạo quả Vô Thượng Bồ Đề được ghi lại như sau :

                  "Lang thang bao kiếp sống

                  Ta tìm nhưng không gặp

                  Người xây dựng nhà này

                  Khổ thay, phải tái sinh

      Ôi! Người làm nhà kia

      Nay ta đã thấy ngươi

      Ngươi không làm nhà nữa

      Đòn tay người bị gãy

      Kèo cột ngươi bị tan

      Tâm ta được tịch diệt

      Tham ái thảy tiên vong"

             (PL 153 - 154 -Bản dịch TT. Thích Minh Châu)

313

      Trong thời gian khởi đầu, Đức Thế Tôn đã suy nghĩ đến giáo lý giải thoát sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh cao thượng; còn chúng sanh thì luôn chìm sâu trong ái dục, định kiến, chấp ngã, với nhiều chấp trước làm thế nào để con người có thể chấp nhận giáo lý ấy ? Với trí tuệ nhiệm mầu của bậc Đại Giác Ngộ, Đức Thế Tôn đã quan sát thế gian, và thấy rằng : "Dù sống trong nghiệp quả bất đồng, mỗi chúng sanh đều có hạt giống Giác Ngộ - đều có Phật tánh, như hoa Sen dầu sống trong bùn đen, tanh hôi, vẫn có lúc vươn lên, tỏa hương thơm ngát" (2) . Với ba lần thỉnh cầu và phát khởi thiện nguyện hộ trì giáo pháp của Phạm Thiên - Đức Thế Tôn quyết định gióng lên tiếng trống pháp và bắt đầu thực hiện sứ mạng của mình. Ngài tuyên bố : "Cửa bất tử rộng mở cho những ai chịu nghe...". Và trong gần 50 năm thị hiện còn lại trên cõi đời, Đức Thế Tôn đã dành trọn cho công cuộc hoàng cực Nam bên ven sông Gange (sông Hằng) - nơi nào cũng có bóng dáng và pháp âm Ngài...

      Hơn 2500 năm trôi qua - chân lý Tối Thượng mà Đức Đạo Sư đã truyền dạy; đã vượt ra ngoài lãnh thổ An Độ nhỏ bé, tỏa rộng và thấm nhập trên khắp hoàn vũ mang lại biết bao nguồn an lạc, hạnh phúc cho cả loài người ... Con đường đưa đến Giác ngộ, giải thoát khổ đau - xa lìa sinh tử luân hồi lần đầu tiên được Đức Lộc Uyển (Sannath - ngoại ô Varasani) đã được tiếp nối, phát triển rực rỡ, đến mọi chân trời...

      Ngày Đức Thế Tôn thành Đạo, chính là ngày vầng thái dương kỳ diệu vĩ đại nhất xuất hiện trên thế gian này. Anh sáng nhiệm màu, vĩnh hằng ấy - luôn luôn tỏa rộng, sưởi ấm, ngát hương giải thoát và an lạc cho khắp cõi trời, người! Đức Thế Tôn thị hiện đản sanh trên cõi đời, chỉ vì "an lạc của số đông, vì hạnh phúc của số đông; xuất hiện vì lòng thương tưởng đời, vì lợi ích, an lạc, hạnh phúc cho chư Thiên và loài người" (Tăng Chi I).

      Chúng ta - những người con Phật, đều hiểu được rằng, dầu sanh thân Phật chỉ trụ thế trong 80 năm - gần 50 năm hoằng hóa độ sanh ; nhưng "trên thế gian này, không có nơi nào nhỏ bằng hạt cải, mà Đức Phật không xả thân, cứu người, giúp đời!". Sanh thân Phật dầu phải chịu luật sanh diệt - vô thường ; nhưng báo thân và pháp thân Phật là vĩnh hằng, không ngừng đem lại lợi lạc và hạnh phúc cho tất cả chúng sanh. Cảm nhận được ơn nghĩa sâu xa, to lớn ấy - một triết gia phương Tây, đại diện cho giới trí thức thế kỷ 20 - đã thốt lên : "Đức Phật là một nhà đạo đức vĩ đại, một bậc kỳ tài, mà chúng ta được thấy trên hoàn vũ này!" (Albert Schweitzer). Cùng chung dòng cảm niệm kính Ngưỡng biết ơn ấy: H.G. Wells đã tán thán : "Trong số các nhân vật siêu phàm, tôi chỉ thấy có một người - Đó là Đức Phật!".

      Ngày nay, chúng ta - những người con Phật, đã diễm phúc được sống trong biển pháp nhiệm mầu; được hưởng từng giọt pháp nhũ linh diệu ; được sưởi ấm và dẫn đường bởi ngọn đuốc vô lượng quang của Đức Phật - sẽ làm gì, để báo đền sự hy sinh cao cả, lòng từ bi rộng lớn, hoài vọng thiết tha của Đức Bổn Sư ?

316

      Thành kính tưởng nhớ, và bày tỏ lòng biết ơn nhân ngày Đức Phật thành đạo một cách đúng đắn nhất, có ý nghĩa nhất, là phải  làm theo lời dạy sau cùng của Đức Bổn Sư trước giờ nhập Niết Bàn :

      -" Này Ananda, không nên tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như Lai theo cách như vậy (3) Bất cứ Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nào sống đúng với chánh pháp, tự mình ứng xử hợp với Đạo, có hành động chân chánh, thì người đó, tôn trọng, đảnh lễ, tán thán, quý mến Như Lai một cách tốt đẹp nhất!" (4).

      Nguyện cầu cho tất cả chúng ta, được nhiều duyên lành - luôn được nghe nhận pháp âm vi diệu của Đức Bổn Sư để kiếp này được an lạc đi theo đúng con đường mà Đức Thế Tôn đã chứng ngộ, dẫn dắt ; vượt qua được biển khổ trầm luân...


Lập Tâm tịnh thất Mồng 8 tháng 12 âm lịch
Huệ Thành
MANG VIÊN LONG

(1) Theo Phật Quang Đại Tự Điển : (Phật Quang XB xã - 1995):

-29 tuổi xuất gia (có thuyết nói là 19 tuổi)

-35 tuổi thành đạo (có thuyết nói là 30 tuổi)

(2) Lịch sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni - Gia Tuệ.

(3) ý chỉ những lời tán thán, ca ngợi, dâng hoa, lễ lạy suông (N.viết) chú trọng hình thức bề ngoài.

(4) Kinh Di Giáo

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=210120

MỘT THOÁNG HƯƠNG XUÂN ( Tản Văn) TT. THÍCH THIỆN ĐẠO
mangvienlong | 17 Jan, 2010, 17:04 | Bài viết của bạn văn | (165 Reads)



MỘT THOÁNG HƯƠNG XUÂN

Tản Văn
TT.THÍCH THIỆN ĐẠO


 

            Mùa xuân thiên nhiên hòa cùng mùa xuân lòng người tạo nên khúc giao hưởng mênh mông sâu lắng. Núi sông cây cỏ hoa lá chỉ đẹp khi lòng người thật sự có an lạc hạnh phúc. Thiên nhiên vốn không đẹp, không xấu, mà thay đổi sắc màu theo quy luật xuân hạ thu đông trong khi lòng người thì luôn luôn so đo kén chọn.

          Trước một phong cảnh đẹp, những người có tâm hồn nghệ sĩ biết thưởng ngoạn, những du khách tham quan thư giãn sẽ cảm nhận được hết vẻ đẹp tự nhiên chung quanh, nhưng với những người khô khan về cách sống, nghèo nàn về nội tâm, hay đang có phiền não khổ đau bức bách trong lòng thì cảnh đẹp kia thật vô nghĩa, chả có gì đáng yêu thương. Thiên tài Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều, đã nhận xét về sự liên hệ giữa tâm và cảnh bằng hai câu thơ mới nghe như đơn giản nhưng nghiệm lại thì rất sâu sắc :

"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ".

          Qua hai câu thơ trên, ta thấy rằng ngoại cảnh bây giờ không còn độc lập nữa, mà đã bị lung lay theo lòng người. Sông bây giờ không phải là sông, núi không phải là núi, cảnh sắc bên ngoài không còn vô tư tự nhiên như chính chúng, mà đã bị phủ màu sương khói của lòng người mê chấp. Khi tâm còn rong ruổi tìm cầu, còn bị buồn vui chi phối thì cảnh vật cũng mất vẻ tự chủ độc lập, và đã bị tâm thức định kiến thổi vào luồng khí lạnh mờ ảo bất định.

          Đức Phật đã dạy rõ về sự quan trọng của tâm thức rằng: "Tâm như họa công, có khả năng vẽ nên các cảnh sắc của cuộc sống". Tâm thức con người vừa sáng tạo, vừa làm chủ, vừa chỉ đạo và cũng vừa thực hiện.

          "Tâm dẫn đầu, tâm làm chủ, tâm tạo tác". (kinh pháp cú).

          Thuật ngữ Phật học thường gọi là "duy tâm" hay "thức biến" để khẳng định quan điểm nêu trên.

          Hành giả học Phật, nhất là ở thời đại kỹ thuật như hiện nay, càng phải nắm bắt sâu sắc, thể hiện có phương pháp tư tưởng "duy tâm" để chứng minh giáo lý Phật đà đồng hành soi sáng các thành tựu của khoa học, và đừng để nền giáo lý đó bị hiểu lệch lạc như trước đây.

          Nhà thơ Chế Lan Viên cũng đã trùng hợp với tinh thần giáo lý Phật giáo khi diễn đạt cảm xúc:

"Tôi có chờ đâu, có đợi đâu

Đem chi xuân đến gợi thêm sầu

Với tôi tất cả đều vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau".

          Mùa xuân không có khổ đau, nhưng vì lòng người thường đau khổ nên mùa xuân cũng nhuốm thương đau. Đây là một hiện thực sống động đối với các Thiền gia và nghệ sĩ. Sự tương quan tương tác giữa nội tâm và ngoại cảnh, giữa chủ thể và khách thể là sự tương quan duyên khởi:

"Cái này sanh, cái kia sanh

Cái này diệt, cái kia diệt".

          Bằng con mắt đạt ngộ thấu suốt lẽ sanh diệt, diệt sanh của vạn vật, trong sanh có diệt, trong diệt có sanh và trên mọi sự đối đãi tự nhiên, có cái vượt trội không đến không đi không còn không mất, vô thỉ vô chung, thường hằng bất biến, đó chính là chơn tâm thật tánh, là Như Lai tàng sở trụ, là Niết Bàn trụ tướng Thường Lạc Ngã Tịnh, Thiền sự Mãn Giác đã thấy được điều chúng ta không thể thấy, nhận ra được cái chúng ta không thể nhận ra :

"Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai".

          Lẽ thường xuân tàn thì hoa rụng, xuân không tàn thì hoa không rụng. Xuân không tàn là tâm xuân là xuân vĩnh hằng. Hoa không rụng là hoa giác ngộ, là hoa chơn tâm, là cành hoa vượt trên mọi sự biến thiên đối đãi.

          Chúng ta có thể xác tín rằng khi tâm thức chúng ta không còn bị bụi trần che mờ, khi ánh sáng giác ngộ chiếu rọi qua từng ngọn cây cọng cỏ, mọi ngõ ngách tâm hồn, khi hành giả rũ sạch buông bỏ tất cả tình thức, thì bộ mặt thật của vạn hữu vũ trụ sẽ hiển lộ như chính nó, mà không có bóng mờ nào chi phối được, đó chính là Bản Lai Diện Mục, là Chơn Tâm Thường Trụ đã hòa nhập vào thể tánh vô biên vô ngại của vạn vật :

"Khai thời cái thập phương

Nhiếp thị quán tự tại".


                                                     TT .   
THÍCH THIỆN ĐẠO
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=209678

Ă N T Ế T Ở C H Ù A Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 16 Jan, 2010, 07:07 | Truyện Mang Viên Long | (36 Reads)


Truyện ngắn Mang Viên Long


(Kính tặng thầy Thiện Đạo)



               Saigon vào những ngày gần cuối tháng Chạp ngày đêm hối hả ầm ào như những đợt sóng cuồn cuộn khiến Thạch càng cảm thấy rõ hơn sự lẻ loi, trơ trọi của mình giữa lòng thành phố.Từ ngày được xí nghiệp cho nghỉ Tết- lãnh tháng lương thưởng và túi xách quà tặng-Thạch có thởi gian đi long rong ngoài phố hơn để rồi lần nào quay trở về nhà Nhơn cũng với tâm trạng ray rức bất an.Chỉ còn mươi hôm nữa là đến Tết rồi-nhưng Thạch chưa biết mình sẽ đón cái Tết ở đâu ? Nhìn người xe qua lại tấp nập nhộn nhịp trước mặt-lòng Thạch càng hoang mang lo lắng. Mọi người bươn chải tất bật với bao công việc dồn dập cho cái Tết, cho cơm áo, nhưng mỗi người đều có một chốn để trở về -nhất là vào dịp cuối năm để đón chờ năm mới cho dù là một túp lều tranh dột nát ngoại ô . Còn Thạch?-Anh thường lẩn thẩn tự hỏi-có ai trong làn sóng người đang trôi chảy kia không có nơi để trở về trong ngày Tết như anh không? Có lẽ có-nhưng dù ở gầm cầu, vỉa hè-góc chợ hay công viên-họ cũng đều có một mái " gia dình"! Thường ngày, đạp xe đến xưởng , anh vẫn luôn nhìn thấy một " gia đình" gồm đôi vợ chồng tật nguyền và hai đứa con chui ra chui vào nơi túp lều vải thủng rách ở một góc công viên mà thầm nghĩ đến thân phận mình. Hai hôm liền, dù không có việc gì-Thạch vẫn ra phố-đi lông bông quanh mấy con đường quen thuộc để nhìn ngó mọi người chuẩn bị đón Tết như một kẻ nhàn rỗi thong dong...
             Nhìn vào những ngôi nhà ấm áp ánh đèn, hoa chưng rực rỡ hay rồn rã tiếng nói cười thơ trẻ-Thạch thèm quá một nơi chốn đoàn tụ cho đời mình. Trước đây, Thạch cũng mơ hồ nhìn thấy nỗi bất hạnh của một kẻ không còn nơi chốn sum họp, nhưng cho đến lúc này-thì nỗi bất hạnh ấy đã luôn hiện ra trước mắt anh trong từng căn phố mà anh đã đi qua... Người con gái đầu của anh có chồng ở tận Vĩnh Long, anh không thể về nơi ấy để làm buồn lòng con trong những ngày đầu năm mới. Còn cậu con trai nhỏ đang sống với mẹ ở quê chắc cũng mãi vui xuân,-đón Tết với bè bạn mà không có thời gian để nhớ đến người cha đang lang bạt nơi này? Có lúc ,Thạch cảm thấy dường như tất cả không ai biết có sụ hiện hữu của anh trên cõi đời này? Thạch dã sớm mồ côi cả cha mẹ từ thưở lên tám- từ thuở ấy, Thạch trơ trọi giữa đời -làm sao có được một người mẹ yêu thương che chở để quay về mỗi lần sa cơ, cô độc? Anh đã có nhiểu dịp để biết rất rõ, ngoài tình yêu thương biển trời của mẹ cha- anh không thể hy vọng nương tựa vào một nơi nào khác được nữa!
Hình như Nhơn đã nhận ra nơi Thạch nỗi phiền muộn khó nói từ vài ngày qua-nhất là khi vợ Nhơn bất chợt hỏi ngày nào anh trở về quê với gia đình?- Nhơn nhìn Thạch-nói giúp bạn : " Ông ấy còn quyến luyến thêm vài ngày để ăn Tết Saigon sớm mà...". Thạch cười: " Vé tàu chưa chen vào được chị à! Đêm 30 tôi nằm ở gầm xe tải có mặt ở nhà là tốt rồi! ". Vợ Nhơn tin vậy vì chỉ biết Thạch vào Saigon tìm vìệc là để giúp đỡ gia đình ở quê đang gặp khó khăn, không hề biết chuyện Thạch ra đi vì tờ quyết định cho phép ly hôn của tòa án theo đơn yêu cầu của vợ anh! Sau gần một buổi tâm tình nơi chiếc quán cóc đầu hẽm khi gặp lại nhau đầu tiên - Nhơn đã đề nghị" " Thôi, cậu về ở với gia đình mình-nhà hơi chật nhưng không sao- Saigon tuy nhiều nhà cao cửa rộng vậy chứ khó có chỗ cho những người như bọn mình chen vào đâu! À, còn chuyện buồn của cậu- chỉ hai đứa mình hiểu với nhau thôi-không nên cho mấy bà biết thêm làm gì cho phiền! ".Thạch im lặng. Cảm thấy nỗi bất hạnh của đời mình như một tai ương cho người khác?.Và anh cũng không hề muốn đem nỗi buồn đau riêng mình làm phiền lụy cho ai-dù là những người thân .Trước khi tìm gặp lại Nhơn-Thạch đã đến thăm Lộc, Minh, Thân- để mong tìm sự hướng dẫn-giúp đỡ,nhưng cả ba người bạn học đồng hương cũ đều khéo léo từ chối nhận Thạch về chung sống-cho dù chỉ tam thời trong những ngày chờ xin việc . Nhà của Lộc tuy nhiều tầng rộng vậy nhưng có lẽ sẽ khó có thể kê thêm một chiếc giường bố vào nơi nào cho tiện giữa chốn sang trọng ấy? Minh thì giàu sang quyền chức cũng lại càng khó có thể thu xếp chỗ nào trống trong lòng anh cho Thạch trú ngụ? Còn Thân ( ....). Bây giờ -Nhơn đã hứa xin giúp việc cho anh ở xí nghiệp bao bì xuất khẩu mà Nhơn đang làm quản đốc -lại tự ý yêu cầu anh về sống chung với người cháu gọi bằng chú đang ở trọ học trên căn gác xép nhà anh-Thạch vô cùng cảm động, không ngờ rằng người bạn thuở nào thời trung học láu lỉnh thường quấy phá anh-nay lại cưu mang anh nhiều đến vậy? Nhưng bây giờ- trong những ngày Tết sắp đến, anh biết dấu mặt nơi đâu? Dấu nỗi buồn nơi đâu giữa cái thành phố hoa lệ rộn ràng này? (Xem tiếp)
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=209402

MỠI LẦN XUÂN, ĐỜI TÔI-TÔI LẠI BẮT ĐẦU Tiểu Luận Mang Viên Long
mangvienlong | 13 Jan, 2010, 14:37 | Tiểu luận Mang Viên Long | (36 Reads)


 

MỖI LẦN XUÂN

ĐỜI TÔI,TÔI LẠI BẮT ĐẦU......
            
           Tiểu Luận
           MANG VIÊN LONG


               Chúng ta có ước mong hay không, mùa Xuân vẫn đến . Như lệ thường. Không sai hẹn. Giống như :

                  "Cây mai trên rừng

      Cũng lén coi lịch

      Thấy ghi chữ "Tết"

      Kết nụ tưng bừng..."

      ("Lịch của loài cây" trong "Hồn nhiên Tuổi Ngọc" Thơ Võ Hồng)

      Ba bài thơ viết về mùa Xuân trong tập "Ngày nở hoa cuộc đời" của Tống Anh Nghị (Nhà xuất bản Văn Nghệ TP HCM- 1995) đã luôn là nguồn suối mát - mùa Xuân của đất trời và của lòng người, với niềm hân hoan trong sáng, với bao niềm tin, kỳ vọng ở "Xuân mới" trong tương lai.

                  "Đặt bút viết - nghe lòng thơ vận chuyển

                  Cây rung cành mạch nhựa sống rung cây"

                  ...Vạn thanh âm, cả trời đất giao hòa

                  Hương tinh khiết nhập thân tâm hóa trẻ.

                                                      (Mỗi lần Xuân, đời tôi, lại bắt đầu)

      Nhà thơ đến với Xuân, nhìn ngắm Xuân, cảm Xuân, suy tư về Xuân- giống như đến với cuộc đời: luôn đến - với lòng khát khao, nhìn ngắm với tâm tư, cảm nhận trong niềm an lạc, và suy tưởng với niềm tin tưởng mãnh liệt... Nguồn cảm hứng "cuộc sống chuyển mình rực sáng, lung linh đèn nến rạng chùa xưa" trong thơ Tống Anh Nghị đã truyền đạt mạnh mẽ tới tâm hồn người đọc, khiến lòng người cũng phơi phới, tin yêu, hy vọng...

                  ...Mà bạn hay chăng

                  Mỗi lần Xuân

                  Đời tôi, tôi lại bắt đầu..."

                  "Lòng trẻ ấm nhờ Xuân hồng đem tới

                  Tình dài mỗi chữ, ý đậm từng câu

                  Này bạn thân thương ơi

                  Đời tôi, tôi lại bắt đầu!".

      Điệp khúc "Đời tôi, tôi lại bắt đầu" là một lời tỉnh giác, hay còn là một cảnh báo cho những tâm hồn ủy mị, sầu não, hay thất vọng. Mùa Xuân bắt đầu cho một năm mới. Đời sống cũng lại bắt đầu từ mùa Xuân. Mùa Xuân có nắng ấm, trời xanh, hoa nở, vạn vật chuyển hóa sinh động; thì lòng ta - đời ta, cũng phải như xuân. Phải "bắt đầu" với niềm tin trong sáng, với niềm hy vọng bao la như thế:

                  "Xuân về đó, Xuân lại về

                  Gió bão mười phương rồi cũng yên cũng tạnh

                  Lồng lộng giữa trời bát ngát sơn khê"

                                                                  (Bạn ơi, Xuân lại về)

      Với tác giả, "Xuân - Thường- Còn vẫn nơi bạn, nơi tôi", đó là mùa Xuân miên viễn, chân thật, rất cần cho mọi người...

                  "Xuân về kia

                  Chim gọi đàn reo hót

                  Bướm tung tăng bay tìm bạn vui chia

                  Giai âm kinh chùa khoan thai dịu ngọt

                  Rất hồn nhiên cả thiên hạ chúc Xuân..."

      Thơ (văn) là người. "Vạn âm thanh, cả trời đất giao hòa; hương tinh khiết nhập thân tâm hóa trẻ"...

                  Bạn ơi, bạn hiền ơi!

                  Xuân hoa thơm hay là Xuân lộc biếc

                  Đuốc tuệ bằng tâm nghiệp sáng nơi nơi

                  Ý ý đẹp cho lời lời tốt thiệt

                  Thân vững vàng chi ngọn sóng trùng khơi!

      Đó chính là sứ mạng của thơ, chứ không phải điều gì khác :

"Lòng với  lòng hoa ngát đất hương từ

                  Lòng với lòng chim reo trời pháp Phật

                  Mừng Xuân hồng, mừng vàng thếp hồn thơ"

      Bài thơ thứ ba - "Bạn ơi , Xuân đời sống đẹp" là một bản tình ca; ca ngợi mùa Xuân, ca ngợi cuộc sống, ca ngợi đất trời của một tâm hồn quá đỗi hồn nhiên, khoáng đạt :

                  ... "Nay lại tiếp bốn phương Xuân giao cảm

                  Đâu phân vân chi những ái ngại gần xa

                  Đâu băn khoăn chi những e dè giả tạm

                  Đâu cam kết chi vì lát mứt, chung trà

      Trong bài "Nguồn vui ánh sáng" ông có ghi "trao về bạn, người tâm hữu cùng khao khát nguồn giải thoát".

                  "Như tuổi nhỏ, Xuân hồn nhiên trong sáng

                  Cuộc sống số đông, lẽ nào bạn hay tôi giới hạn

                  Cho miệng cười, cười thật hồn nhiên

                  Tay bắt tay - cho tay thật nắm liền

                  Với Xuân mới, khởi đầu năm trải rộng..."

      Ba bài thơ viết về mùa Xuân của Tống Anh Nghị được sáng tác từ năm 1988 - 1989 và 1991 - cách nay hơn 10 năm; nhưng những tình cảm Xuân dạt dào của ông, những hoài bão cùng niềm tin yêu nồng nhiệt dành cho đạo, cho đời của ông luôn khơi dậy trong tôi một niềm thao thức:

                  "...Chỉ có pháp hiện tại

                  Tuệ quán chính ở đây

                  Không động không rung chuyển

                  ... Biết vậy nên tu tập

                  Hôm nay nhiệt tâm làm

                  Ai biết chết ngày mai?...

                                          (Kinh Nhất Dạ Hiền)

      Xuân về. Xuân đang về. Dáng Xuân quả thật đáng yêu, đáng trân trọng biết bao! Mỗi giây phút Xuân đi qua, lại để trong tôi bao âm vang tuyệt diệu, nhiệm mầu. Tôi biết yêu Xuân hơn, quý Xuân hơn nhờ ba bài thơ Xuân của Tống Anh Nghị:

                  "... Mỗi lần Xuân

                  Đời tôi, tôi lại bắt đầu!

                  Tim thức dậy, trí bình minh mở cửa..."

      Được đón Xuân, sống với Xuân hết lòng như thế, thì còn gì hạnh phúc hơn nhỉ?

H U Ệ  T H À N H
M A N G  V I Ê N  L O N G

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=208937

TRỊ DỨT BỆNH HO BĂNG PHƯƠNG PHÁP ĐƠN GIẢN/ BẠN ĐỌC
mangvienlong | 12 Jan, 2010, 18:32 | Bài viết của bạn văn | (166 Reads)


 

ĐÔI LỜI THƯ GỞI:


Trong một tuần, tôi đã nhận dược 3 lần E mail của bạn Văn

gởi cho kèm theo bài viết về " Cách trị ho đơn giản..." của VDN

sưu tầm! Nhân lúc đang bị càm-ho/ tôi đã thử thực hành  cách trị

liệu dân gian này! Sau vài lần , tôi đã thấy hiệu nghiệm. Tôi đã làm

theo không chỉ ban đêm trước khi đi ngủ, mà làm vậy suốt ngày. Nhận

thấy không có gì trở ngại trong sinh hoạt và không tốn thời gian.

Xin chuyễn đến Quý Bạn  kinh nghiệm quý báu này-và xin cảm ơn quý

Bạn Văn đã gởi cho!

MVL-



CÁCH TRỊ HO ĐƠN GIẢN NHƯNG MẦU NHIỆM



Việt Duơng Nhân sưu tầm

Dưới đây là cách trị khỏi ho rất giản dị, không tốn kém, mà hiệu quả thật là thần diệu :

Một số Bác sĩ và Khoa học Gia ở bên Quebec, Canada tình cờ khám phá ra rằng khi bạn bị " ho hành hạ " bất kể là ho phát xuất từ cảm lạnh, cúm, sốt, dị ứng hay ho đã lâu mà không khỏi !... "
Buổi tối trước khi lên giường ngủ, bạn hãy thoa dầu nóng ngay dưới gan bàn chân và đi vớ thật ấm để ngủ. Sáng hôm sau thức giấc bạn sẽ thấy triệu chứng ho giảm hẳn. Hãy lập lại vài ba lần như thế tối trước khi đi ngủ thì cơn ho của bạn sẽ dứt tuyệt." Chẳng cần phải đi Bác sĩ hay tốn tiền mua các loại thuốc ho ở ngoài thị trường vừa tốn tiền mà còn day dưa lâu khỏi !

Các Bác Sĩ Canada lấy làm ngạc nhiên và đang còn trong vòng nghiên cứu tại sao một sự việc rất đơn giản như thế mà hiệu quả trị được ho một cách bất ngờ ngoài sức tưởng , dứt tuyệt và không còn ho nữa ? Cá nhân tôi ngay lúc ấy cũng đang bị ho khem thế là tôi thử áp dụng ngay vì đâu thấy gì là hại đâu.

Mà kỳ lạ thay quý vị ơi ! Chỉ trong 2 ngày thôi, mỗi tối thoa Bengay (Gel nóng)vào ngay gan bàn chân và đi vớ thật ấm, sau 2 ngày cơn ho của tôi đã ra đi không trở lại.

Tuy khỏi ho nhưng tôi cũng ngờ ngợ hay là có một trùng hợp ngẫu nhiên nào? tôi liền áp dụng cách này ngay cho vợ tôi cũng đang bị ho cả gần một tháng trời mà không khỏi. Quả nhiên chỉ sau một ngày thôi, sáng hôm sau cơn ho của bà ấy đỡ hẳn. Vợ tôi thực hành cách trên thêm 2 hôm nữa bệnh ho dứt tuyệt. Thích quá đúng là duyên lành mới biết được cách trị ho tuyệt hảo mà các Khoa học Gia Gia Nã Ðại đã tìm ra, tôi liền phone cho tất cả các người thân, các bạn bè quen biết hoặc bất cứ ai thân hay sơ gặp gỡ trên đường đời... tôi liền chỉ cho mọi người cách trị ho giản dị và độc đáo này. Tôi có ghé vào một chỗ châm cứu và tò mò hỏi cái quan trọng hay huyệt đạo nào có ở dưới gan bàn chân ? Và tôi được họ cho biết rằng ngay dưới Gan bàn chân có một
Ðại huyệt rất quan trọng của cơ thể gọi là Huyệt Dũng Tuyền .
Xin quý vị hãy phỗ biến rộng rãi cách trị ho thần diệu này đến với mọi người để cúng dường thế gian và gây nhân lành cho quý vị.

Kính cẩn

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=208791

TRANG THƠ TÌNH LÂM CHƯƠNG
mangvienlong | 11 Jan, 2010, 20:46 | Bài viết của bạn văn | (36 Reads)


T R A N G  T H Ơ  T Ì N H 

     L Â M  C H Ư Ơ N G


 

Đ Ờ I  T A  R Ấ T  T Ầ M  T H Ừ Ơ N G




Ta ở nhà thuê. Nghèo. Thất nghiệp

ít bạn bè lui tới làm thân

lấy trà rượu một mình khuây khoả

dù không vui cũng tiếng cười khan.


Ta ốm yếu. Thường hay bệnh vặt

mưa nắng nhiều, sổ mũi ho hen

trời trở gió, đau xương thấp khớp

sức trói gà nên ngại bon chen.


Đêm ngủ muộn. Nhà un khói thuốc

mắt nhập nhoè chữ nghĩa. Đèn soi

bài thơ viết nửa chừng, cạn ý

vợ buồng trong ngái ngủ. Khuya rồi.


Mai thức dậy thấy mình vẫn thế

vẫn rong rêu, râu tóc bờm xờm

thân cũ quá dường như đóng bụi

trong cái vòng lẩn quẩn áo cơm.


Ta biết ta bất tài vô tướng

lại chây lười, lêu lõng rong chơi

tri thiên mệnh đâu cần năm chục

thuở đầu xanh ta đã biết rồi.


Cũng có lúc buồn tình ngẫm nghĩ

muốn vô chùa, cạo trọc, đi tu

nhưng còn tiếc cái mùi tục luy

dứt không đành nên khó làm sư.


Người xưa lánh đời lên núi ẩn

ta lánh đời chẳng biết đi đâu

thôi, đóng cửa ngồi nhà uống rượu

túy ngoạ trên giường... quắt cần câu.
 

Chẳng lý chuyện yêu đời hay chán

sống tàng tàng nhưng cứ sống chơi

có kẻ chê rằng vô tích sự

lời thị phi ta bỏ ngoài tai.


Người quân tử ăn chẳng cầu no

ta phàm phu quen thói hàm hồ

lấy dĩ thực vi tiên làm trọng

và giữ lòng thanh thản nhàn cư.


Ai chí lớn bao đồng thiên hạ

ta trí cùn lo việc tu thân

không làm thiện cũng không làm ác

chỉ làm người đi đứng hai chân


T Ì N H  Ơ I !



tình ơi, về lại tháng ba

ghé thăm một chút cho ta đỡ buồn

lục trong ngăn kéo, thỏi son

tình đi ngày ấy hãy còn bỏ quên

biết ta vẫn giữ tình riêng

tình cho về trọ một đêm với tình

gừng cay muối mặn làm tin

gương chung soi bóng ta mình có đôi

dẫu mai đất lở sông bồi

tình đi tình ở, thì thôi cũng đành

lửa rơm nếu lạnh tro tàn

tình ơi nhớ nhé, mỗi lần điểm trang

cái đau dao cắt đâu bằng

trăm năm nát đá phai vàng, đau hơn.



L Â M  C H Ư Ơ N G
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=208649

PHÁN XÉT LỖI NGƯỜI Tạp Bút MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 09 Jan, 2010, 13:34 | Tản văn Mang Viên Long | (199 Reads)



 

      P H Á N  X É T  L Ỗ I  N G ƯỜI

     
      Tạp Bút

      MANG VIÊN LONG

Pink lily lotus blossoms

     
Người ưa dòm ngó, xét nét, phê phán người khác thường ít khi có thời gian biết được lỗi mình! Đó là một " lẽ thường " trong đời sống mà ít ai chịu để tâm suy xét? Nếu hằng ngày chúng ta cứ chằm chằm nhìn vào người; luôn để mắt, để tâm dõi theo từng việc làm của người, thì thời gian nào yên tĩnh rổng rang để còn nhìn lại chính mình ? Như vậy là chúng ta đã đánh mất thời khắt rất quý báu cho đời sống của mình rồi!.Mất đi giây phút chiêm nghiệm thiêng liêng dành cho đồi sống mình mà đáng lẽ ra mình phải được thụ hưởng . Và cuối cùng,  chúng ta sẽ dần mất đi cơ hội để tiến bộ, chuyễn hóa-để tự hoàn thiện ...    Đã vậy , tâm ta luôn luôn dính mắc vào " chuyện người"- luôn bị " chuyện người" lôi kéo, đưa đẩy-dồn nén, rồi ngày đêm " nghĩ ra" sơ hở, bới móc khiếm khuyết-(dù là rất nhỏ nhặt hay tuân theo mệnh lệnh chủ quan rất phiến diện ) -để lớn tiếng hay huênh hoang phán xét, buột tội này nọ (...)- Đó là một việc làm hại mình mà người hiểu rõ Chánh Pháp không thể  có- người con Phật không thể quên lãng!

      Suốt ngày tâm ta cứ chạy loanh quanh dõi theo người, nhìn ngó ra ngoài - thì  thời gian đâu để " nhìn lại chính mình"  nữa? Không có một khoảng lặng yên  an tịnh nào để nhìn lại coi thử " bản mặt./con người" mình thế nào-thì làm sao mà biết dược những loạn động rất vi tế đang đêm ngày khuynh đảo  trong tâm mà ngăn chặn, chuyễn hóa kip thời?- Làm sao  có thể mong  cầu  để có được sự đổi thay của cuộc sống mình trở nên trong sáng,tốt đẹp?

       Lục Tổ Huệ Năng cũng đã day: " Chớ dòm ngó vào lỗi người, mà hãy nhìn vào lỗi mình" . Trong truyện ngắn " Cửa Tùng Đôi Cánh Gài"-Thầy Nhất Hạnh cũng đã nói rõ điều ấy qua nhân vật " chàng dũng sĩ" xuống núi với chiếc gương thần trong tay của Sư phụ ban cho để " hộ thân" trên bước đường hành Đạo trừ gian, diệt ác-cứu đời. Nhưng qua bao tháng ngày vị dũng sĩ trẻ có tấm lòng " thiết tha cứu đời " chỉ chuyên chú nhìn vào gương để thấy lỗi người mà chưa hề nhìn  vào gương để một lần nhìn thấy " gương mặt" thật của chính mình sau bao năm rời xa Sư phụ trên đường mãi mê " diệt ác, trừ gian"?  Và cuối cùng, chàng đã mỏi mệt, bất lực- trở về núi tìm lại Sư phụ mong nhờ cứu giúp . Tâm chàng đã bị điên đảo nhiễu nhương , nên không thể tự mở được đôi cánh cửa Tùng để lên núi gặp Sư phụ được? ( đôi cánh cửa tùng ấy chỉ dành cho những bậc có tâm hồn thanh tịnh trong sáng mới mở được). Nhờ người bạn nhỏ đồng tu tình cờ xuống núi lấy nước gặp gỡ, nhắc nhở-chàng đã tự soi mình vào chiếc gương thần kia-và than ôi!- chàng chỉ kịp thét lên một tiếng thất thanh rồi quỵ ngã-vì ảnh hiện trong gương là một con quỷ kỳ dị!?

        Chàng dũng sĩ trẻ tuổi đầy nhiệt huyết kia  chỉ mãi lo dòm vào " chiếc gương thần"để tìm lỗi ngừơi mà " diệt trừ" với lòng tự hào rằng chính mình mới là ngưởi hoàn thiện, cao quý- trong khi chưa có đủ thời gian tu luyện để trang bị đầy đủ " công lực uyên thâm"  cho chính bản thân mình!. Và chàng  đã trở nên " một loài quỷ kỳ dị" tù hồi nào mà chính mình cũng chẳng hay?

          Trong triết lý sống  của Đạo Phật- chúng ta vẫn luôn thấy có sự khuyến khích  " góp ý/phê bình"-nhưng việc làm ấy phải được xuất phát từ " Tâm Từ Bi"-nghĩa là, luôn vì người- mong muốn cho người được hoàn thiên, tốt đẹp. Chỉ vì sự tốt đẹp an lành cho người mà " góp ý/ phê bình"- chứ tuyệt nhiên không có ý nghĩ gì khác! Những người làm được điều này Đức Phật gọi là " bậc hiền trí". Kinh. Pháp Cú ( Phấm Hiền Trí-76) đã có dạy rõ" Người gặp được người hiền trí chỉ bày lầm lỗi và khiển trách mình những chỗ bất toàn- hãy nên kết thân cùng họ xem như bậc trí thức chỉ cho kho tàng bảo vật. Kết thân với người trí lành mà không dữ". Trong đời sống thực tế , " bậc hiền trí" đầy đủ trí tuệ và đức hạnh xem ra còn quá ít ỏi-mà kẻ " tham sân si mạn nghi tà kiến"thì ...hơi nhiều!

          Nếu một người luôn phê phán chỉ trích, buột tội người khác- về trí tuệ không hơn được ngừòi mà đạo hạnh cũng kém cỏi ( đôi khi còn tệ hại hơn)-thì liệu có thể tin tưởng vào những lời thô thiển, nông cạn, đầy rẫy oán thù ấy-mà nghe theo hoăc đánh giá người khác ư?. Một người bạn vong niên của tôi vừa than phiền rằng-" ông bạn trẻ" của ông dã nặng lời chỉ trích  ông thế này thệ nọ trong lúc ông  không hề  vậy- ngược lại- " cậu ta" thì " lung tung" đủ chuyên  trên đời (...)  ai ai cũng thấy. cũng biết?  .Người bạn trẻ còn lớn giọng hăm dọa " nghỉ chơi" với ông trong lúc kẻ đáng "" nghỉ chơi" là cậu ta!  Ông tâm sự: Đã bao lần, ông muốn có lời "góp ý" với cậu ta về những việc làm " tri/hành không hợp nhất"-lời nói và việc làm mâu thuẫn nhau bi thãm- nhưng cứ nghĩ lại mình chưa được là " bậc hiền trí"nên không dám mở miệng! Người xưa đã dạy" Phải uốn lưỡi 3 lần trước khi nói"-uốn lưỡi 3 lần là để suy nghĩ điều mình nói có chân xác, đúng đắn hay không? Uốn lưỡi 3 lần là để " lựa lời " nói hòa nhã, có đem lại lợi ích thiết thực cho người nghe mình nói hay không? .Sau cùng, Ông đã "chọn " sự im lặng  mà " không oán cừu, không sợ hãi". Ngày nay-người "chịu khó " uốn lưỡi 3 lần như vậy thật hiếm thấy? Cũng chính ví lẽ ấy nữa-mà lời nói thô bạo, khiếm nhã-đôi khi thật cay độc, ác tâm- đã có cơ hội phát triển nẩy sinh, làm đảo điên thêm cho cuộc sống của mọi người!

           Việc " phán xét lỗi người" là một điều cần làm-cần có- vì mối quan hệ chung  trong  cộng đồng,để giúp nhau hoàn thiện; dựng xây đời sống ngày một tốt đẹp-an lạc- nhưng nếu việc " phán xét" ấy không  vô tư, không đúng đắn, không chính xác (..),- Nối tóm, là không  được phát xuất từ " Tâm Từ Bi" cao thương vị tha-thì sẽ vừa hại người, và hại chính bản thân mình! Có một điều  hiển nhiên ai ai cũng biêt rồi-là " Nói thì dễ/ Làm thì khó"-nhưng dường như chẳng ai chịu " để tâm" mà " uốn lưỡi 3 lần" trước khi phê phán, chê trách người khác cả? .Ở đời,  chê người thì dễ-mà tự chê mình thì dường như không hề có? Biết tự " phán xét" mình, tự " chê" mình mới là điều khó và đáng làm biết bao?

           Đức Phật cũng đã ân cần khuyến dạy: "Nếu muốn khuyên người khác nên làm như mình-trước hãy sửa mình rồi sau mới sửa người. Tự sửa mình vốn là điều khó nhất" ( Kinh Pháp Cú-159/ Phẫm Tự Ngã).Và " Tự thắng mình con vẻ vang hơn thắng kẻ khác. Muốn thắng mình phải luôn luôn tiết chế lòng tham dục!" ( PC/104-Phẫm Ngàn)

           Xem vậy, chuyện " Phán Xét Lỗi Người" không thể là việc dễ làm mà chúng ta có thể tùy tiện; ngược lại- rất cần hôi đủ nhiều điều kiên của tự thân nghiêm nhặt mới có thể hoàn thành được trọng trách  cao quý của một " Bậc hiền trí" với tâm nguyện " giúp đời/ cứu người"!  Thiển nghĩ -lời dạy của Đức Phật trong Phẫm Pháp Trụ mãi mãi là lời mà người con Phật phải hằng ghi nhớ-để tự hoàn thiện mình trong cuộc sống vốn nhiều phiền lụy-khổ đau: "Chẳng phải cậy nhiều lời cho là người Trí- nhưng an tịnh không cừu oán , không sợ hãi mới là người có Trí"...


Tháng 01 năm 2010

Huệ Thành

Mang Viên Long

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=208270

VỀ NGƯỜI CHA LÀ THI SĨ ( Kỳ 58) HK Lâm Bích Thủy
mangvienlong | 07 Jan, 2010, 18:11 | Bài viết của bạn văn | (37 Reads)

V Ề  N G Ừ ƠI  C H A  L À  T H I  S Ĩ
HK ( Kỳ 58)

L Â M  B Í C H  T H Ủ Y

Lâm Bích Thủy-Trưởng nữ Nhà Thơ YL




 

        CÁI GIÀ HẨM HIU



      Hơn ai hết, khi ba tôi nhận biết quỉ thời gian của mình chẳng còn là bao

            Tay bưng thuốc đắng nhìn xuyên chén

            Năm tháng còn trên mấy đốt tay.

Sau khi đọc cho má tôi chép câu thơ trên, ông không nói gì thêm. Nhiều lần thấy ông mệt lã, bà đi gọi xe cấp cứu nhưng ông ngăn lại. "Đừng!, cứ để tôi nằm ở nhà, không sao đâu!"

 

Những tháng, ngày gần cuối ba tôi thường nghĩ đến người thân đã khuất. Ông gọi má đến cạnh, kể về cuộc đời bi thảm của người cậu. Bằng tâm trạng ngậm ngùi, âm sắc chứa chan sầu bi, pha chút xót xa:

  Cậu của ba tôi là một người chân chất, hiền lành, hay lam, hay làm. Cậu có cô vợ đẹp nhưng vì  nghèo, biết chi là nịnh đầm, suốt ngày chỉ cúi mặt ở sông nước. Cô vợ trẻ mơn mỡn như búp măng. Đôi mắt ước đa tình của cô nói lên cái bản tính lẳng lơ.. Ngày ngày cậu ra sông làm công việc chèo đò, để lại cô vợ trẻ ở nhà làm nội trợ. Một hôm có anh bán gỗ ghé qua xin nước uống.. Trong căn nhà lá lụp xụp, xiu vẹo sao có người thiếu phụ nhìn ngon con mắt. Anh ta thử liếc mắt đưa tình, vợ cậu chấp nhận cái liếc mắt ấy và lẳng lơ lườm lại,. Thấy vậy anh chàng bán gỗ không bỏ lở cơ hội, chả chớt chọc ghẹo, làm quen. Rồi sau đó, tiếp theo ngày nào cũng được mợ đáp lại tình người bán gỗ. Từ đó anh bán gỗ cắm cây si tại nhà cậu, ngày qua ngày âm thầm dụ dỗ người thiếu phụ dâm dục này. Dần lâu tình cảm hai người không thể sống thiếu nhau. Cô vợ thấy chồng mình đi suốt ngày, nghèo vẫn hoàn nghèo, trong lòng nảy sinh so sánh . Thế rồi cô ta  quyết định theo hẳn người bán gỗ.

  Để hợp thức hóa mối tình vụng trộm, hai kẻ dâm phụ bàn cách hại cậu. Chúng bỏ thuốc độc vào bát canh rau muống nấu với tép tươi. Nhìn bát canh, cậu cảm động, tưởng vợ thương mình vất cất công bồi bổ, cậu cố húp cho hết. Nào ngờ đó là bát canh định mệnh! Cậu chết, cô vợ trẻ theo ngay người bán gỗ bỏ làng ra đi biệt xứ. Kể xong, ông bảo má lấy giấy bút chép bài thơ vừa hé ra

Thuở ông ngoại bút nghiêng lận đận

Câu đối trướng đã chán nghề gieo vận

Sinh ra mẹ tôi xinh gái nhất làng

Không hát xướng, chống chèo, chỉ ham may vá

Bọn chài lưới thường vào đổi cá

Trả công khâu từ chiếc yếm, cái màn

Hăm mấy tuổi đầu, mẹ mới sang ngang

Trên đôi mắt vừa gạt khô ngấn lệ..

"Mẹ tôi"

  Khi đau nặng, ba tôi rất sợ nằm bệnh viện. Dù đau yếu trong ông vẫn toát ra vẻ hóm hĩnh bản chất. Tôi thích cái dí dõm của ông thể hiện trong thơ:

Nghe báo trên trời thiếu một sao

Đàn chim kinh ngạc hoảng nhìn nhau

Có người đã thức nhiều đêm trắng

Tìm mãi không ra trống chỗ nào

                                                Mất sao

                                                9/7/1998

Gặp khi con cháu vắng nhà , một mình trong căn phòng chật hẹp ông cảm thấy nhớ bạn, ông mong được tâm sự. Nhưng bạn ông cũng lần lượt ra đi, lòng ông tan nát bởi sự cô đơn là thật.

  Đơn điệu

Thư bạn từ nay cứ vắng dần

Ngày già hiên trắng những vành tang

 Bên vui sáng nhạt phương trời cũ

 Sớm tối chuông chùa một điệu ngân

                                                (3/1993)

         Say một mình

Một đĩa dưa chua mấy củ hành

Trăng tàn, gió lạnh, bịp cầm canh

Ai rằng rượu đế quê mà bốc

Lảo đảo tình riêng mộng tỉnh nhanh  

           Khóa sương

Chấp chới đường thôn lá trúc bay

Sương giăng mù mịt khóa rừng tây

Bỗng nhiên mất hướng đường quê bạn

Lật sách tìm thơ lạnh ngón tay (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=207941

TRANG THƠ TÌNH MÙA XUÂN 4 Nhà Thơ Nữ
mangvienlong | 07 Jan, 2010, 13:23 | Bài viết của bạn văn | (146 Reads)



 

TRANG THƠ TÌNH MÙA XUÂN 2

BỐN TÁC GIẢ NỮ :

        

        Q U Ỳ N H & T H U  N G U Y Ệ T &

        TRẦN MINH NGUYỆT& LÊ THỊ KIM



Q U Ỳ N H

thơ viết cho ngày đầu năm mới


lại một mùa em đi qua
là mùa xuân áo lụa hồng lên chùa lễ Phật
con chuồn chuồn đỏ bay cao bay thấp
bờ dâm bụt ngày xưa hoa thắp sáng ngõ em về
ngây thơ ơi,
giọt nắng đậu vai người
em nhí nhảnh tóc buộc chùm vắt vẻo
rơi trong gió có giọng cười trong trẻo
bầy chim non xao xác góc sân trường

lại một mùa vấn vương
là mùa cô nhỏ ép nhành cỏ non vào trang sách cũ
nghe thoảng một mùi hương quyến rũ
yêu thương ơi,
xa lắc tuổi thơ rồi

đi qua mùa tươi non nghe hơi thở đất trời
nghe gió hát xôn xao,
nghe lời tự tình của hàng cau trước ngõ
nghe chấp chới bài tụng ca của những con chuồn chuồn đỏ
nghe anh thì thầm
yêu em, yêu em ...

Q



T H U  N G U Y Ệ T


MỘT NỬA VẦNG TRĂNG




"
vầng trăng ai xẻ làm đôi

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường..."

Câu thơ xưa bỗng bình thường

Khi hôm nay kẻ lên đường là em.

Mình chia tay nhau trong đêm

Vầng trăng mới nửa bên thềm sân ga

Trên tay em một đóa hoa

Hoa chưa nở hết như là tình yêu

Chia tay ngày trước vui nhiều

Người ta đã trọn tình yêu vợ chồng

Vầng trăng đã kịp tròn trong

Người ta xẻ nửa cho chồng mang theo

Mình giờ còn lắm gieo neo

Tình yêu chờ đợi bao nhiêu tháng ngày

Chưa nồng đã vội chia tay

Nụ hôn mới nửa, đường dài mới đi

Chị Hằng mở nửa đôi mi

Vầng trăng mới nửa lấy gì xẻ đôi.

Nhưng mà lạ lắm anh ơi

Không chia trăng vẫn đủ đôi cho mình

Trăng theo em, trăng theo anh

Như tâm hồn của chúng mình vẫn chung.

TN

( vanchuongviet.org)



TRẦN M I N H  N G U Y Ệ T


CÙNG ANH DU XUÂN



SÁNG


Sáng nay- xuân  mở  trang năm mới...
Khoảnh khắc giao thời của núi sông,
Ước hẹn tay nhau vào lễ Phật!
Tình thơm hương khói  níu bâng khuâng...


TRƯA


Cùng nhau đối ẩm Ô Long trà,
Âm  thầm xuân lén  tận hồn ta...
Ướp hương trà ngọt sâu trong máu,
Khoảng khắt trời xuân bỗng chói lòa!


CHIỀU


Gió nhẹ theo mây - chiều cố quận...
Gò cao đôi bóng  khóc người xưa !
Cô tịch trời xa- lòng khắc khoải,
Vô thường xin gởi tình xuân đưa!


TỐI


Nguyệt Lão se duyên chẳng tính ngày ...
Tình  sâu đâu dễ chút thơ ngây ?
Xuân ấm bên đèn thơ dệt mộng,
Ngày  Xuân  một thoáng  để lòng say!

TMN

( nguyetlinh.vnweblogs)

LÊ THỊ KIM

XA MÀ GẦN



m nóng git l tình
Đ
m hương mà trong vt
V
n git l nguyên tinh
Không không mà s
c sc

Làm sao ai bi
ết được
Gi
t l thu cài trâm
Đam mê mà tĩnh l
ng
C
a mt thi xa xăm


Anh xa mà g
n lm
M
i tình thưở môi thơm
Ch
như là chiếc lá
Đ
làm mm không gian

Ta bao gi
vn vy

V
t thoát theo năm tháng
Tình yêu theo năm tháng
V
i vi cùng mông lung

Ch
c cây mi biết
Mình trú ng
nơi đâu
Ch
đt tri mi biết

Tình mình thiên thu s
u.

LTK

( My Opera hoadongphuong blogs)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=207893

THƠ XUÂN: NGÀY ĐẦU NĂM MỚI Huy Văn
mangvienlong | 05 Jan, 2010, 14:10 | Bài viết của bạn văn | (142 Reads)

THƠ XUÂN : NGÀY ĐẦU NĂM MỚI   HUY VĂN


 

NGÀY ĐẦU NĂM MỚI



Ngày đầu năm đất trời sao dịu vợi!
Vòng thời gian- lần nữa- lại bắt đầu
Cánh phiêu du mỏi mòn ngoài mấy cõi
Vừa tung mây đã thấy nặng mưa mau.


Mưa phất phơ giữa mùa đông rét mướt
Cho ngày sương nhuộm trắng bóng trời mây
Lòng cũng lạnh theo chập chờn bụi nước
Và mưa ơi! Buồn quá nỗi vơi đầy!


Vài ngụm đắng uống đời ta lang bạt
Nhìn qua hiên: mưa trải hạt lưu ly
Trong lòng dâng những đồng vọng thầm thì
Lời hoài cảm hay hương xưa đọng lắng?


Ngày chậm trôi cho hồn thêm xa vắng
Buồn vu vơ  theo mưa bụi, màn sương
Thương một mảnh đời trầm như dấu lặng
Âm thầm trôi theo hiện thực vô thường.


Xưa thân lạc giữa vàng thau thời cuộc
Nay lan man chân bước lạc cuối đời
Vẫn là những chập chùng trong mơ ước
Khi thiên di lạc cánh chốn mù khơi.


Ngày đầu năm trải lòng vào quá khứ
Ngược thời gian quên hiện thực: mưa rơi!
Tìm ảnh ảo của ngọt bùi xưa cũ
Biết đâu chừng còn chút nắng. Thương ơi!


HUY VĂN
(  01-01-2010 )

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=207516

VỀ NGƯỜI CHA LÀ THI SĨ ( Kỳ 57) HK Lâm Bích Thủy
mangvienlong | 03 Jan, 2010, 09:50 | Bài viết của bạn văn | (46 Reads)



V Ề  N G Ừ Ơ I  C H A  L À  T H I  S Ĩ
( Kỳ 57 )

Hồi Ký
L Â M  B Í C H  T H Ủ Y


               TÌNH YÊU, MÙA XIUÂN TRONG THƠ Y Ế N  L A N


 

         Xuất hiện trên thi đàn cùng ba người bạn, nhưng ba tôi-nhà thơ Yến Lan không gặp thời. Trên văn đàn người ta chỉ biết có Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Quách Tấn còn Yến Lan hầu như chỉ những người lớn tuổi còn lớp trẻ chẳng biết ông là ai, có khi còn nhầm lẫn ông là nữ văn sĩ nữa kia.

        Buổi tiệc nào cũng đến lúc tàn, cuộc chơi nào cũng đến hồi kết, vì vậy trước khi đến đoạn cuối của hồi ký, mời bạn ghé vào thế giới nghệ thuật thơ Yến Lan, có thể ở đó bạn sẽ thấy yêu quê hương, xứ sở, yêu cuộc đời hơn khi bạn hiểu rằng:

        Cội nguồn của một dân tộc được gìn giữ và tiếp nối trong dòng sông thi ca dân tộc. Tâm hồn của con người là thể hiện lòng yêu sâu thẳm quê hương, giống nòi. Hồn quê hương dân tộc từ ngàn đời vẫn chảy mãi trong thơ văn. Còn ngôn ngữ thi ca là nơi chất chứ tâm hồn ấy... (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=207121

TRANG THƠ TÌNH MÙA XUÂN 3 TÁC GIẢ
mangvienlong | 01 Jan, 2010, 17:54 | Bài viết của bạn văn | (177 Reads)



 

TRANG THƠ TÌNH MÙA XUÂN


GIỚI THIỆU THƠ
  : HOÀNG LỘC & LINH PHƯƠNG

& MƯƠNG MÁN



HOÀNG LỘC


ĐẦU NĂM, NHỚ BẢY HIỀN


phải cuối năm tàn cơn nắng cuối
mà đêm dồn lạnh gió đầu năm ?
buồn em mắt biếc vừa thêm tuổi
và cũng buồn ta tóc bạc thêm

có lẽ phố người hun hút phố
xui ta cố quán dậy trong lòng
bước đi mấy bước quay nhìn lại
em Bảy Hiền kia có Hội An ?

ta mấy mươi năm trời đất lạ
nắng chưa yên đã sợ mưa về
may ta gặp giấc mơ ngày cũ
biết trái tim còn đập với quê

em cũng đầu năm bay áo mới
tóc xuôi vai tóc chảy cùng sông
có ta neo bóng thuyền lưu xứ
hỏi Bảy Hiền em dám đợi không ?


đầu năm 2010



hoàng lộc


photo
LINH PHƯƠNG



MÙA XUÂN- EM VÀ CHIM NGÓI



Chim ngói bay về khi giáp hạt
Ruộng đồng xanh thơm ngát mùa vàng
Em vẫn sống mãi đời chân đất
Gót chai sần kẻ dọc- lằn ngang

Chim ngói bay về chim ngói kể
Rằng em- xưa thiếu nữ một thời
Bỏ quên ngoài cánh đồng nứt nẻ
Chiếc kẹp hồng và tuổi ấu thơ

Chim ngói bay về. Chim ngói ơi !
Tháng giêng hoa tết nở đầy trời
Em đã lớn lên như rơm rạ
Nằm trơ xương trên mặt đất khô

Mùa xuân chim ngói không về nữa
Em đứng đợi hoài bên bến sông
Tội nghiệp ! Suốt đời lòng vẫn nặng
Nhớ chi người góc chợ quê xa

Bến đục- trong- lỡ mất chuyến phà
Thương đứt ruột ngày đêm trông ngóng
Vầng trăng khuya mỏi mòn soi bóng
Em còn ngồi mơ tiếng chim bay


LINH PHƯƠNG



MƯỜNG MÁN


VỀ BẾN XƯA

Áo biếc xưa về qua bến tạnh

Ngày xuân tóc mới chớm ngang vai

Chị đi thoáng chút hương xoan muộn

Sóng sánh nghiêng lòng bao gã trai

Khăn đào xưa đùa cùng gió nội

Theo người qua trăm chặng lao đao

Chị gánh sương đi từ hừng sáng

Khuya về, vai nặng gánh trăng sao

Cậu bé ngày xưa thường tha thẩn

Ôm đàn ra bến hát nghêu ngao

Đón chị, đón quà, và đón cả

Vòng tay thơm gió bụi ngọt ngào

Hương xoan nay đã xa vời vợi

Thuyền cũ đi về vắng bóng ai

Lênh đênh trên bến vần thơ trắng

Nhuộm áo khăn xưa màu trăng phai.

Mường Mán

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=206823

NGHĨ TRƯỚC THỀM NĂM MỚI Tạp Bút MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 31 Dec, 2009, 05:20 | Tản văn Mang Viên Long | (115 Reads)

 


KÍNH CHÚC QUÝ BẠN: NĂM MỚI AN LÀNH & THÀNH CÔNG!




 

NGHĨ TRƯỚC THỀM NĂM MỚI ...


               @  Tạp Bút


          Mang Viên Long




           
Nhìn bloc lịch mỏng dần-chuẩn bị thay bloc lịch mới-tôi thường bàng hoàng tự hỏi-"Một năm đã qua rồi ư?". Một năm sắp hết rồi! 12 tháng-365 ngày đã sắp kết thúc niên hạn 2009-mà ta sao vẫn cứ ngồi yên lơ ngơ với nỗi ước vọng ngậm ngùi?

            Thời trẻ-người ta ít chú ý đến thời gian-ngày tháng; nhưng khi đã ở vào cái tuổi mà người xưa gọi là " tri thiên mệnh" rồi-thì thời gian lướt qua luôn để lại bao nếp hằn năm tháng khó quên! Thuở xưa, tôi " nhìn thấy" thời gian " đi" rất chậm-nhẩn nha-thong dong-một năm sao mà dài đến thế?  Thời nay, tôi cảm thấy thời gian không " đi" mà "chạy" vùn vụt đến chóng mặt? Sáng mở mắt ra, loay hoay-đã xế chiều?. Thời gian trôi qua không kịp cho chúng ta " trở tay"!- Lẽ nào thời gian cũng bị lôi kéo vào cuộc sống vội vàng, hối hả của thời đại?

              Khoa học kỹ thuật văn minh đến độ không những đã rút ngắn lại được không gian-mà còn " rút ngắn" cả thời gian! Rút ngắn đời sống tâm linh vào những tiện nghi vật chất hằng ngày! Rút ngắn cuộc đời vào các chiếc máy mà chúng ta chỉ biết bấm nút là xong! Cuối cùng,  thời gian dành cho thiên nhiên, dành cho " phần hồn" dường như cũng rất ít ỏi hay không còn chỗ nào trong 24 giờ mỗi ngày?

             Tôi luôn dành một khoảng  thời gian nào đó trong mỗi ngày chật vật để " nhìn lại mình"-nhất là vào những ngày  gần cuối năm-khi tẩn mẩn hạ tấm lịch cũ xuống để treo vào tấm lịch mới trên vách tường...Một năm sắp trôi qua-cuộc đời rút ngắn lại dần- cuộc đời ngắn hay dài không phải chuyện ta quan tâm- nhưng điều đáng vui mừng - là trong lòng ta  vẫn rổng rang nhẹ tênh không  hằn một vết đen ân oán nhọc nhằn! Tôi đã luôn nhớ đến câu thơ của Kahlil Gibran ghi đầu tiên trên blogs của mình:" Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Cho tôi thêm ngày nữa để Yêu Thương" ! Một ngày đi qua trong đời-nếu không " thêm" được "Yêu Thương" thì không bao giờ để hận thù len vào đời sống mình, khuấy nhiễu tâm mình! Nếu chưa " đủ duyên" kết thân với ai, thì cũng không sinh lòng nghi ky, thù oán! Sự thù oán sẽ làm tâm hồn ta khô cằn đi, và cuộc sống trở thành tù ngục!

             Chỉ trong một tháng 11 của năm 2009 tôi đã đưa tiễn ba người ban văn ra đi. Trước là chị Minh Quân, tiếp là Đặng Ngọc Khoa, sau là Nguyễn Trung Bình!  Cuộc đời ngẫm lại chỉ ngắn ngủi trong một hơi thở-vậy mà sao còn lắm kẻ bon chen, tranh giành, thù hận?  Nhìn lại bao tháng năm qua- ta đã làm được gì  cho bản thân, cho gia đình, cho bạn bè? Đó là những câu hỏi thiết thân mà mỗi chúng ta nên dành chút ít thời gian của ngày bận rộn để " nhìn lại". Tôi cũng hiểu được rằng, tìm một con người toàn hảo trên thế gian này là điều không tưởng! Là Người-ai cũng còn có những sai sót, khuyết điểm cả. Biết " nhìn lại" những khiếm khuyết ấy-là biết hướng đời mình chuyễn hóa. đi lên! Nếu mãi vội vàng, hấp tấp sống mà quên " nhìn lại"là mất cơ hội đổi thay, mất giây phút sống thiêng liêng mầu nhiệm của đời người-và sau cùng là đánh mất chính bản thân mình!

             Năm mới lại đến-năm 2010 của thế kỷ 21-tôi chợt nhớ lời thơ của người bạn  vong niên-thi sĩ Tống Anh Nghi-" Mỗi lần Xuân/ Đời tôi-tôi lại bắt đầu ...". Lại bắt đầu thế nào? Lại bắt đầu những tháng ngày mới cho Yêu Thương, cho Cảm Thông, cho Chia Sẻ và cho niềm Hy Vọng nở hoa...

           Và , trước thềm năm mới, tôi luôn dặn mình hãy bắt đầu năm mới bằng những tình cảm thiêng liêng như thế-để không còn cảm thấy cô độc mà tiến bước...

           Năm Mới đang đến- Tôi chân thành gởi đến Quý Bạn đôi điều suy nghĩ thô thiển-Cầu Chúc Tất Cả Luôn Sống Trong Niềm Hỷ Lạc Năm Mới Đang Đến Với Cuộc Đời Mình!

Quê Nhà,

31 tháng 12 năm 2009

M A N G  V I ÊN  L O N G

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=206511

VỀ NGƯỜI CHA LÀ THI SĨ ( Kỳ 56 ) Hồi Ký LÂM BÍCH THỦY
mangvienlong | 30 Dec, 2009, 17:04 | Bài viết của bạn văn | (33 Reads)



V Ề  N G Ừ Ơ I  C H A  L À  T H I  S Ĩ
( Kỳ 56)
Hồi Ký
    LÂM BÍCH THỦY



 

SỐ TRỜI ĐỊNH RỒI


  Năm 1991, khi bệnh u nang hành hạ quá, nhà thơ thấy khó ở, má tôi điện cho Tú Thủy đưa ông ra Hà Nội điều trị tại Bệnh viện Việt-Xô (lúc đó ông không có tiêu chuẩn nằm ở bệnh viện này), may sao được bệnh viện chấp nhận điều trị. theo phương pháp mới-nội soi.

   Cứ mỗi lần đưa ông ra Hà Nội là Tú lại lập tức điện cho tôi ra.  Tuy đã mổ nhưng việc đi lại ăn uống của ba vẫn không trở lại bình thường như trước, nước da xanh mét, bộ dạng ốm yếu khó qua. Gia đình đều nghĩ  "Năm nay chắc ông không tránh khỏi trời gọi"

  Một người bạn của Lâm Huy Nhuận đến thăm, nghe chúng tôi thì thầm, cậu liếc mắt về phía nhà thơ rồi quả quyết "Nếu gia đình chăm sóc tốt, bác sẽ sống thêm bảy năm nữa". Tôi nghĩ cậu này nói thế là để an ủi. Nhưng, như các bạn biết, bấy giờ là năm 1991, mà đến ngày 5/10/1998, đúng 7 năm sau, ba tôi mới đi xa! như vậy, ông bạn của Nhuận nói đúng! Điều này nó cũng ứng nghiệm với lời cô gái đã tiên đoán trong giấc mơ của ba tôi hơn 60 năm trước.   (Xem tiếp)

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=206461

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16  Sau»