Sign up
NGÔN NGŨ TRÍ TUỆ CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA
mangvienlong | 19 May, 2012, 05:43 | Bài viết của bạn văn | (17 Reads)

 

Ngôn Ngữ Trí Tuệ Của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Posted Image
Posted Image
Posted Image
Posted Image
Posted Image
Posted Image
Posted Image
Posted Image
Posted Image
Posted Image
Posted Image
 

ĐỨC LẠT LAI LẠT ĐƯỢC XÁC ĐỊNH LÀ HÓA THÂN CỦA ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=364151

BỒ TÁT THỊ HIỆN Truyện Ngắn NGÔ KHẮC TÀI
mangvienlong | 16 May, 2012, 20:35 | Bài viết của bạn văn | (20 Reads)

 

BỒ TÁT THỊ HIỆN

Truyện Ngắn:

Ngô Khắc Tài

alt

Bảy mươi hai tuổi chị Liên lặng lẽ ra đi. Chiều mưa cầm chỉnh lại cúp điện, đám ma nhà nghèo buồn không được mấy người đến tiễn, gặp mưa càng thêm hiu quạnh, mọi người ngồi trong ánh sáng của những ngọn đèn cầy lập loè gắn trên nóc quan tài. Kể ra cô Liên còn có phước – Một người nói vậy. Nhưng người chết đâu có nghe hay chỉ có người sống nói với nhau. Dường như câu nói ấy dành cho gia đình tôi vì đã lo lắng cho chị Liên.


Tôi nhớ kỹ chi tiết đám tang, cũng như thời gian chị Liên sống lại với vợ chồng mình đúng tám năm bốn tháng, mấy ngày nữa được năm tháng. Sở dĩ tôi nhớ, chỉ vì đời người được cấu tạo từng khoảng thời gian dài ngắn cộng lại. Trong đó nó gồm có những khoảng đôi ba ngày đi chơi ngủ lại nhà người nào đó, thí dụ như vậy rất là dễ quên. Nhưng quên lại thành ra kẻ vô tình, cuối cùng một ngày ngồi tính số đời vẫn không biết mình sống như thế nào, cuộc đời hoang phí hay là tốt đẹp, vì thế tôi nhớ rất rõ thời gian tám năm bốn tháng… từ cảm giác khó chịu buổi ban đầu, tự nhiên nhà mình có một người lạ đến ở làm thay đổi mọi thói quen, đến tình cảm quyến luyến không rời, như chiếc áo cũ tôi mặc đã quen thay áo mới thấy lạ lẫm. Vắng chị Liên bỗng dưng tôi cảm thấy hụt hẫng thế mới là chuyện lạ. Nhưng chị là ai? Người ta có mấy loại người, điểm lại những khuôn mặt đã gặp trong xã hội, tôi thật không biết xếp chị vô thứ hạng nào. Chị là người bình thường hay là người mà trí tưởng tượng của tôi chẳng thể hình dung. Có phải chị là… Bồ Tát thị hiện?
Cha nội, đừng ăn nói ba sàm, lộng ngôn. Phật tức tâm tâm tức Phật, nói thế nghe được, nhưng không thể ai cũng là Bồ Tát. Vả lại, Bồ Tát dù cho xuất hiện trước mặt tôi cũng khó lòng nhận ra. Hơn nữa, Bồ Tát, ngài luôn an trú trong định. Lắm khi ta cũng gặp Bồ Tát giả với khuôn mặt đắm chìm như nhập định nhưng rồi cuối cùng vẫn phân biệt được. Vì ánh sáng của Bồ Tát là ánh sáng từ dưới đáy giếng sâu chiếu ngược lên gọi là tỉnh quang, tịch quang. Bồ Tát ngài dửng dưng trước những tham lợi cuộc đời, ngài bằng lòng mọi hoàn cảnh, sống với mọi hoàn cảnh, chuyển hoá được hoàn cảnh. Người nào có duyên gặp Bồ Tát lập tức cuộc sống của họ hoàn toàn thay đổi.
Cho chị Liên là Bồ Tát thị hiện, như vậy cuộc sống tôi phải có thay đổi mà thật sự tôi thay đổi không, không biết, vậy nên chị chẳng phải Bồ Tát. Không phải Bồ Tát thế chị Liên là ai?

Câu chuyện khá dài bắt đầu như thế này. Bốn mươi năm trước gia đình bên vợ tôi rất nghèo, làm nghề hàng sáo mua lúa xay gạo về bán từ chợ này qua chợ kia. Chợ Long Xuyên lúc đó còn lụp xụp ẩm thấp, những căn phố cũ kỹ xây bằng ô dước với cốt bằng tre có đâu từ thời Tây… còn ăn trầu. Vậy mà bên vợ không đủ tiền mướn căn phố phải rủ gia đình thứ hai ở chung để chia tiền nhà ra. Bên vợ tôi ở tầng dưới, gia đình chị Liên ở tầng trên, hai bên coi như một nhà, hằng ngày ra vào đụng mặt. Ba chị Liên sống với nghề bán hủ tiếu, mì dạo, gọi khách bằng hai thanh tre gõ lốc cốc gọi là bán mì gõ. Chị Liên lớn hơn vợ tôi mười tuổi. Phố nghèo, người lớn bận việc mua bán, đám con nít như được thả lang thang rong chơi, lúc nào đói bụng mới chịu mò về nhà ăn cơm rồi tiếp tục ra đường. Suốt ngày vợ tôi lẽo đẽo đi sau lưng chị Liên, mà đi đâu? Thật ra là có đi đâu. Buổi sáng chị Liên ngồi ở nhà cán mì, vợ tôi ngồi theo một bên phá phách dọc bột. Buổi trưa ông già chị Liên đẩy xe hủ tiếu ra đường, chị Liên đi theo cầm hai thanh tre gõ lốc cốc chào hàng. Vợ tôi lẽo đẽo đi theo phía sau đợi lúc chị Liên bận phụ ba mình thì cầm hai thanh tre gõ cho vui.
Tỉnh lẻ những buổi trưa phố xá êm ả, đêm xuống đèn đóm lù mu, phố xá thật buồn hiu nếu như không có những âm thanh lốc cốc nghe vui tai của hủ tiếu, mì dạo. Và tất cả rồi đã tạo thành ấn tượng buổi đầu đời sâu nặng kết thành tình chị em về sau. Chắc cũng còn nhiều kỷ niệm khác nữa giữa họ chứ không phải chỉ bấy nhiêu nhưng điều tôi biết đại khái nó là như vậy.
Vợ tôi đi học muộn nhưng lại ham học, biết thân phận con nhà nghèo, lúc này cô không còn lang thang rong chơi. Đi học về ngồi sàng gạo tiếp gia đình rồi đội gạo đến bỏ mối từng nhà. Sau này cô thi vô sư phạm Vĩnh Long, gia đình thì chuyển lên Sài Gòn. Ra trường trở thành giáo viên cô vẫn ở lại Long Xuyên, sống một mình, sau đó gặp tôi, rồi hai đứa gá nghĩa thành vợ chồng.
Chúng tôi sống êm ấm, vợ tôi bận rộn việc dạy học thỉnh thoảng mới trở lại thăm phố cũ. Rõ ràng số phận của mỗi người như giày dép có số không đều nhau. Năm mươi tuổi chị Liên chưa lập gia đình sống hẩm hiu bên cạnh người thân. Sau khi cha mẹ qua đời, ba anh em, hai người có gia đình riêng vẫn sống chung một nhà nhưng chẳng có ai thuận với ai. Chị dâu em chồng, chuyện đàn bà con gái kéo theo anh em ruột thịt, kéo theo những người đàn ông. Anh của chị Liên thì rượu chè. Đứa em của chị lại có bệnh cờ bạc. Cả hai bê tha nên sinh ra sợ vợ đã đành, lại sợ luôn đám con, chúng luôn hùa theo mẹ hỗn hào với cha mình, hỗn hào luôn cả với chị Liên, chúng thật quá quắt. Trước đây chị có dành dụm được ít tiền, ít chỉ vàng để phòng thân, con cháu nghèo hỏi mượn làm vốn, chị Liên đưa ra, cuối cùng chẳng ai chịu trả. Tới khi bà cô hết tiền chúng liền coi là kẻ ăn nhờ, ở đậu. Buồn chị dâu, em dâu thì ít vì đó dù sao cũng là người ngoài, con cháu ruột thịt mà ứng xử vậy mới là điều đau xót. Chị đọc được suy nghĩ của lũ cháu, chúng muốn chị đi tìm nơi khác ở để khỏi phải trả nợ - món nợ mà chị không còn nghĩ tới, coi như là cho chúng. Buồn bã cho số phận, chị Liên lên chùa làm công quả, nghe kinh kệ lãng quên cuộc đời.
Thỉnh thoảng vợ tôi mua chút đỉnh quà như mì gói, đường, trà mang đến ngôi chùa chị Liên đang làm công quả. Những gói quà mọn, hay chút đỉnh tiền kia chẳng có ý nghĩa gì lớn lao. Đi giúp người khác mình thấy vui hơn là người vui, vì nó cũng đâu chuyển hoá được số phận người ta. Thuở nhỏ hai chị em sống chung dưới cùng mái nhà, khi vợ tôi mới sinh ra được chị Liên bồng ẵm, lẽ ra lúc này vợ tôi rủ chị Liên về với mình mới phải! Kể ra cũng buồn, phước ai nấy hưởng nghiệp ai nấy mang.
Nhưng đến đây dường như có bàn tay Phật nhúng vào tạo ra phép nhiệm mầu. Từ trên nhìn xuống Ngài như đã xui một vị khách đứng nhìn chị Liên, dõi theo từng nhát chổi đưa. Ban đầu khách chỉ khen cho vui. Chị Liên cũng trả lời cho vui. ở nhà mình không có gì. Đến đây tự nhiên mình có được cái sân, cây cối mát mẻ. Mình chăm sóc nó cho vui, hơn nữa lại được chùa cho cơm ăn.
Người khách là thím Hà. Thím là chủ một sạp vải lớn, chồng thím vượt biên để lại vợ con nên thím hay đi chùa cầu nguyện. Nhà của thím từng có mấy người giúp việc nhưng họ thuộc loại sai đâu làm đó, vậy mà còn theo đòi tiền công, thật chẳng vừa bụng. Ngầm dõi theo đã lâu giờ nghe chị Liên nói lấy làm hợp ý, thím rủ chị theo mình về nhà… Mỗi khi nhắc tới câu chuyện này vợ tôi hay nói chẳng ai biết trước được số phận. Theo về sống với thím Hà chị Liên được mấy mẹ con xem như người nhà, phần chị cũng xem nơi đây là ngôi nhà thứ hai của mình.
Công việc của chị Liên cũng nhẹ nhàng. Giặt đồ thì đã có máy giặt, chỉ cần chị đem phơi khô rồi lấy vô xếp để con thím Hà về lấy ủi. Chị cũng khỏi phải nấu ăn, buổi chiều thím Hà đi chợ mua thức ăn về làm rồi để vô tủ lạnh. Chị Liên chỉ có nhiệm vụ coi chừng nhà, quét nhà lau chùi, bàn ghế, hâm thức ăn. Chị đã bước vào những năm tháng sống thật nhẹ nhàng thảnh thơi. Điều đặc biệt là thím Hà còn dành cho chị Liên một căn phòng để chị thờ Phật bà Quan Âm. Khuôn hình Phật bà Quan âm, bộ chuông mõ, với cuốn nghi thức tụng niệm, là tài sản riêng, đi đâu chị cũng mang theo, giờ tài sản ấy được đặt hết trong căn phòng này, đêm đêm chị ngồi gõ mõ tụng niệm.
Anh em con cháu ruột thịt không ngó ngàng, người ngoài lại thương, rõ ràng trớ trêu. Mà tạo hoá được gọi là ông trời kia trẻ hay già? Có người kêu trời già, kẻ khác lại gọi là trời xanh, lộn xộn. Tôi thì thấy trời xanh nên còn rất trẻ con thích trêu cợt người và tiếp tục trêu cho tới kỳ cùng.
Bốn năm vợ chồng thím Hà xa nhau, bất ngờ một ngày nghe tin chồng có bồ đang chuẩn bị làm lễ cưới. Mạnh thay lòng dục ái, tham sân si nó khiến cho người ta nổi cơn ghen từ xa. Thím Hà đùng đùng dẫn mấy đứa con kiếm tàu vượt biên bỏ lại nhà cho chị Liên.
Chị Liên vốn cô độc nay tiếp tục kiếp cô độc một mình sống trong căn nhà rộng thênh thang. Năm trước năm sau, nhà nước phát hiện ngôi nhà ra không có chủ, liền đến quản lý, biến nó thành cơ quan. Chị Liên đành phải ra đi, tuổi sáu mươi tư bơ vơ trước ngã ba đường. Chị đi về đâu những ngày cuối đời? ở mỗi ngã ba đường không gian rất là cao rộng nó không đủ hơi ấm cho một hoàn cảnh như của chị. Cái ăn thì không lo vì mỗi tháng thím Hà trả tiền công chị Liên đâu tiêu xài gì. Riêng việc ở cho an phận tuổi già để đêm đêm còn được gõ chuông mõ tụng niệm, thầm thì với Phật Quan âm, thì chưa biết tính sao. Đúng ra chị còn nhiều chỗ để lựa chọn. Trở về với gia đình chịu đựng đám con cháu vốn xem người cô là món nợ đời. Vào viện nuôi dưỡng người già trẻ mồ côi. Tìm về lại ngôi chùa luôn mở rộng cửa thiền kia. Thế mà không hiểu sao chị Liên lại chấm chọn gia đình tôi để tìm đến gõ cửa.
*
Sau một tuần đi công tác xa nhà, trở về vào buổi chiều, nghe trên gác có tiếng đọc kinh, tiếng mõ rồi tiếng chuông ngân. Không chuẩn bị tinh thần trước nên lấy làm lúng túng, tự nhiên thấy nhà mình giống như am thất. Tôi lấy làm ngạc nhiên. Tại sao việc nào vợ tôi cũng hỏi ý kiến chồng, một việc lớn như vầy tôi lại chẳng được báo trước?
Nhà còn chỗ cho chị Liên tạm trú, có gì mà lớn hả ông. Vợ tôi hỏi lại giống như giả bộ. Sao lại không, khi ta đã nuôi một người, nhất là người già? Chị Liên tự nấu ăn, đâu có ăn của mình. Tôi không nói với bà việc nhỏ đó, già cả ăn uống bao nhiêu. Tôi chỉ nói cái chuyện người già tính tình bắt đầu thay đổi sinh ra nhiều tật, mình không nặng lời được nhưng chịu đựng được không. Rồi chuyện đau yếu bệnh tật, hai đứa đều đi làm ai ở nhà lo đây. Không nhận người nuôi thì thôi, nhận thì phải có bổn phận trách nhiệm. Nuôi một con vật còn khó huống chi là một con người.
Vợ tôi muốn cãi nữa nhưng cô yên lặng cho tôi ngẫm nghĩ. Tất cả mọi chuyện trên đời không phải ngẫu nhiên mà có, mà nó là do nhân quả, nhân duyên đi ra. Mà duyên quả theo nhà Phật không chỉ có một mà có nhiều thức lớp chồng chất lên nhau. Chị Liên với vợ tôi là mối duyên của bốn mươi năm trước, biết đâu còn có duyên trong tiền kiếp. Cuộc sống tin cậy lẫn nhau, hai vợ chồng tôi mặc dù là mối duyên khác, nhưng qua vợ vẫn nối được duyên của tôi với chị Liên. Biết một người rồi biết ra cả họ là vậy.
Vợ tôi biết, mặt mũi tôi hay nhăn nhó, việc nào trước hết tôi cũng bàn ra nhưng thật tình là bàn vô. Tôi giống cuốn từ điển tra ngược. Dân miền Tây giữa đường gặp chuyện chẳng đứng đó đưa mắt nhìn vô cảm. Tôi không xài điện thoại di động, vợ tôi làm sao hỏi ý kiến việc xảy ra đột ngột, mà có hỏi tôi cũng không phản đối. Hơn nữa nhà tuy không được rộng rãi nhưng bên trên có một tầng gác chỉ để sách báo, thỉnh thoảng có khách mới lên dọn chỗ giăng mùng. Vợ tôi không đợi tôi về để hỏi ý kiến là vậy, cũng dễ hiểu. Từ duyên này người bước qua gặp duyên kia là vậy, cuộc sống đặt niềm tin lẫn nhau, trừ khi người không còn niềm tin. Nhưng giữa tôi với chị Liên có nhân quả gì, nhân duyên gì? Bao giờ chuyện xảy ra trước mắt cũng khó nắm bắt, tôi chỉ có thể hiểu được khi sự việc kết thúc, lúc xong đám tang chị Liên, rảnh rỗi nhớ lại. Hiện tại nhà có thêm một người, có bao chuyện đang chờ đợi phải lo…

Chị Liên ốm yếu gầy go, giống như thân cây khô dần từ dưới lên chỉ còn ngọn, khuôn mặt chị – khuôn mặt một người già - trầm tư không biểu lộ cảm xúc nhưng đôi mắt thỉnh thoảng lại sáng lên như nheo nheo cười cho ta biết sự sống đang hiện diện. Nói lo cho chị thật ra lo có nhiều nhặn gì, tôi chỉ làm một số việc ở buổi đầu. Vợ tôi bố trí cho chị ở nửa căn gác phía trước, tôi thấy không thuận tiện lắm, vì giáp với mặt tiền đường phố xe chạy ồn ào - lớn tuổi cần sự yên tĩnh nhất là sáng, trưa chị còn lạy Phật, gõ chuông, bèn dời chị ra căn gác phía sau, hướng nam lúc nào cũng có gió hiu hiu mát mẻ, cửa mở nhìn xuống xóm nằm phía trong vườn tược bao quanh, xa xa là con sông rồi cánh đồng trải dài. Căn gác này vốn dành cho khách nhưng lâu lâu mới có người ghé nên nó như dành riêng cho tôi làm thư phòng. Phần lớn thời gian trong ngày tôi lên đây đọc sách báo, nghỉ ngơi, chiêm nghiệm cuộc sống. Hình như vật cũng đang chờ người, căn gác thật thích hợp với chị Liên. Việc thứ hai tôi cần phải làm là kêu thợ mộc tới thu xếp mấy chậu kiểng ngoài hành lang đủ chỗ làm một phòng tắm mini, đặt cái lu, gắn vòi nước cho chị. Thấy chị đã lớn tuổi, không biết bệnh hoạn lúc nào, tôi bàn với vợ mua cho chị thẻ bảo hiểm y tế phòng xa đời sống viên chức không đủ lo cho người, rủi ro chị ngã bệnh. Chẳng lẽ người sống chung nhà lại để mặc, mua thẻ bảo hiểm thật ra là lo cho tôi.
Phật có dạy: ai lo cho người quên mình sẽ nhận lại tràn đầy phúc đức, những điều tốt lành. Tôi không phải người nghĩ nhiều đến việc phước đức nhưng qua chị Liên tôi nhận ra Phật dạy chẳng bao giờ sai. Trước hết vợ tôi có người để tâm sự chuyện trò như vui hơn. Bấy lâu nay tôi vô tình quên nhu cầu này. Vợ chồng tôi cũ xì có gì mới mẻ đâu mà nói. Đi làm về cơm nước xong tôi lên gác rút vô thế giới riêng nằm đọc sách. Vợ tôi dọn dẹp rửa ráy xong, nằm nghỉ ngơi xem ti vi rồi đến giờ đi làm. Buổi chiều về không khí trong nhà cũng y như buổi sáng riết rồi quen, không để ý gì đến sự lạnh lẽo của ngôi nhà thiếu tiếng người. Nhưng đó chỉ là một việc còn nhiều việc nữa chị Liên mang đến cho gia đình. Khi hai đứa đi làm, chị Liên ở nhà làm những việc lặt vặt như quét nhà, lau chùi bếp núc, xếp quần áo, chùi rửa cầu tắm. Những việc lặt vặt coi vậy mất rất nhiều thời gian, vợ tôi làm luôn tay, nay đi làm về thấy nhà cửa đâu vô đó gọn gàng. Rõ ràng lo cho chị Liên, hai đứa đã nhận lại, đúng y như kinh, Phật dạy.
Tuy nhiên để làm theo như lời Phật dạy thật không dễ dàng chút nào. Muốn giúp đỡ người quên mình, tôi cần phải có tính nhẫn nại, chịu đựng. Những người lớn tuổi như chị Liên bắt đầu thay đổi tính nết, gọi là sinh tật. Ai có cha mẹ già, ông ngoại, ông nội sống chung, có thể chia sẻ với tôi được điều này. Chị Liên ở nhà cũng mang dép. Ban đêm chị hầu như không ngủ mà thao thức lục đục dép cứ khua sàn gác lộp cộp lộp cộp. Rồi tiếng võng kèn kẹt, tiếng quạt đập muỗi xành xạch… Nghe rất là khó chịu. Tính hà tiện khi mở vòi nước không chịu mở lớn sợ hao cứ mở ri rỉ rồi quên khoá vòi khiến nhiều lần nước tràn xuống cả nhà. Kêu bật quạt máy, chị nói bật chi cho hao điện, cứ nằm đưa võng, xài quạt giấy cho mát rồi đập muỗi; đâu biết đêm đêm tiếng đập quạt xành xạch khiến người khác khó chịu thế nào?
Người lớn tuổi nào cũng có tính hà tiện, chị Liên của tôi còn đi xa hơn. Gặp món gì chị cũng lượm. Từ lượm ở trong nhà, rồi ra tới ngoài đường, những bọc ny lon, vỏ hộp bánh, vỏ chai chị lượm về giặt, rửa sạch để lủ khủ khắp nơi. Rồi vỏ quít, vỏ bưởi, bông cúc bông thọ chị mang về phơi khô; cả cùi bắp, vỏ chuối, vỏ dừa nữa. Xã hội tiến về phía trước chị Liên thì đứng lại rồi lùi về phía sau với thế giới của riêng mình. Chị Liên hoàn toàn không giống ai, tồn tại được mà như không mất đồng bạc nào. Nhìn chị, tôi không biết mình có nằm mơ. Còn có những ai sống theo kiểu chị bây giờ? Nhưng tôi mơ sao được, một hiện thực rõ ràng đến độ ngơ ngẩn. Mỗi ngày bạn mất bao nhiêu cho tiền ăn? Bạn hình dung nổi không có người như chị Liên mỗi ngày xài chưa tới năm ngàn, đi chợ chỉ để mua ba miếng tàu hũ trắng, bó rau muống hoặc bó cải? Nếu có mua gì thêm thì đó là nải chuối, một vài trái lôm chôm cúng Phật vào ngày rằm, hoặc mua ít lọn bún ta, mì chay để dành. Đơn giản đến mức chị không xài nước tương bột ngọt, mà thay bằng nước muối nấu với vỏ khóm xin trong chợ.
Sau này tôi quen, chứ mấy năm đầu thật không chịu được, ở dưới nhà xào nấu các món bay hơi thơm lừng trong khi người sống trên gác, chỉ với tàu hũ chiên hoặc xào sả ớt và tô canh rau không gia vị. Có vẻ chị ăn cho có ăn, gọi là. Tiếng tăm nuôi một người trong nhà, ai cũng hỏi tôi mối quan hệ với chị Liên, thật ra tôi đâu có nuôi chị ngày nào. Càng thêm bứt rứt muốn giúp đỡ nhưng giúp được gì, đem cho gạo, đường nhưng chị Liên như trêu cợt nói, mình không quen ăn gạo ngon, đường cũng chả mấy khi dùng tới. Thật cụt hứng. Có một thời gian tôi đâm giận chị Liên. Sao chị lại sống như ép xác, khổ hạnh, ngoài cặp mắt sáng tinh anh ra thân thể chị Liên ốm chẳng khác gì bộ xương, giống hệt mấy pho tượng La Hán chùa Tây Phương. Cuộc sống khước từ mọi thứ trên đời vậy có gì vui, có ý nghĩa gì, nhiều lần tôi tự hỏi, rồi cũng không trả lời được.
Thế giới của chị Liên hiện ra trước mắt tôi rõ ràng từng chi tiết nhưng tôi lại vẫn như không biết gì. Tám năm chị Liên cứ nhẹ nhàng như không, “bộ xương” ấy đều đặn mỗi ngày ba thời, sáng trưa thỉnh chuông lạy Phật, chiều gõ mõ đều đặn công phu. Giọng đọc kinh của chị Liên se sẽ không lớn, tiếng mõ cốc cốc cũng không lớn. Lạ lùng sao nó lại có uy lực làm cho xung quanh phải lắng nghe.
*
Ông tỏ ra quý mến nhân vật của mình. Thôi cũng được đi, bởi vì đó là tình giữa người với người, rất cần cho bất cứ xã hội nào. Nhưng khi ông cho nhân vật của mình là Bồ Tát thị hiện thì tôi không chịu. Sao lại không chịu? Vì Bồ Tát là người cõi Phật, khi ngài hiện ra cho ai thấy lập tức tâm linh cuộc sống người đó thay đổi. Vậy ông có thay đổi không khi gặp chị Liên? Tôi biết khi kể tới đây, chẳng những một người, mà rất nhiều người nữa sẽ đưa câu hỏi này.
Vâng. Tôi xin thú nhận mình có thay đổi. Nhu cầu của con người bao nhiêu là vừa. Trước hết đây là điều tôi băn khoăn mỗi khi nhớ đến chị. Tôi với cuộc sống viên chức lúc nào cũng than nghèo. Tôi có nghèo thiệt không, khi trong nhà có nhiều thứ mua để đó vẫn không xài. ăn uống tuy là bình thường chẳng có gì cao lương mỹ vị nhưng vẫn hay dư thừa chờ xe rác tới để bỏ thật là phí của. Những người nghèo theo kiểu tôi trong xã hội ngày nay rất nhiều, riết rồi không rõ bộ mặt thật của xã hội ngày nay như thế nào. Ngay cả người giàu hơn tôi cũng than túng thiếu. Trong khi mỗi ngày chị Liên sống ung dung chỉ với vài ba ngàn đồng.
Chuyện thứ hai. Vào mỗi chiều, nhà vang lên tiếng mõ khua cốc cốc cốc cốc, giọng chị Liên đọc kinh trầm buồn. Thoạt đầu tôi chỉ thấy chung khiến nhà mình ấm cúng hơn. Từ từ tôi nhận ra nhà mình đang thay đổi. Trước hết là thằng con, đi đâu về hễ bước chân vô nhà nó mở ngay vô tuyến, rồi đầu đĩa, âm thanh lớn không chịu nổi. Khi tiếng mõ xuất hiện, chẳng có ai dạy thằng bé lập tức vặn volum nhỏ lại. Đám bạn tôi thỉnh thoảng mỗi chiều mua mồi màng đem tới nhà bày trò nhậu nhẹt. Rượu vào lời ra ồn ào, vừa lúc trên gác vang lên tiếng chuông, tiếng mõ, lập tức họ trở lại nói năng đứng đắn, lịch sự.
Tuy nhiên sự thay đổi ấy còn nhẹ nhàng. Bây giờ tôi xin được phép nói về mình. Xung quanh khu vực tôi đang sống chỉ trong cây số vuông mà có tới bốn ngôi chùa. Không biết người cất chùa hướng tới mục đích gì, chùa nào chùa nấy nguy nga đồ sộ. Thường chỉ có mấy bà, rồi vợ tôi hay rủ nhau đi chùa, riêng tôi ít khi đi. Lại thêm kinh sách, băng đĩa ngày nay in ấn rất nhiều, người như đi lạc vô khu rừng, các thầy thuyết giảng tràn lan. Lắm khi nghe mà tức mình, thôi thì không gì bằng tôi mua sách về đọc, tìm sự thật ở trong chính kinh, chính lời đức Phật dạy. Dần dần tôi giống như con mọt sách hầu như kinh nào cũng để mắt đọc, căn gác chất đầy sách báo, kinh kệ để bừa bãi. Hình như đây là nhân quả. Tôi ghét chùa chiền bỗng dưng căn gác của nhà tôi lại giống am thất. Tiếng mõ của chị Liên vang lên mỗi chiều, ngày một ngày hai như nước thấm sâu vào lòng đất. Đến một ngày bỗng tôi bừng tỉnh ra, là đứa sách kinh đầy bụng mà chưa một ngày thực hành, ngồi thiền cũng không. Trong khi đó chị Liên ngoài các cuốn nghi thức tụng niệm, kinh sam hối chị như không biết gì về kinh Pháp hoa, kinh Kim cang chẳng hạn. Người tốt người thông thái cả hai đều đến được với Phật nhưng ai sẽ tới trước? Lắng nghe tiếng mõ, tiếng chị Liên đọc kinh tôi ngẩn ngơ nhớ. Có phải ngài A Nam đa văn quảng bác được đức Phật thương yêu hơn mọi đệ tử khác. Để rồi sau khi Phật qua đời A Nan là người giác ngộ sau cùng.
Đồng ý là có thay đổi nhưng chỉ có vậy thì nhân vật vẫn chưa phải là Bồ Tát thị hiện. Đến đây bạn vẫn chưa tin. Tôi biết, muốn được bạn tin là rất khó vì chuyện phải có thêm điều gì đó vượt qua trí tưởng tượng của bạn và pha chút huyền hoặc. Tôi xin kể tiếp. Chị Liên ăn uống kham khổ không đủ chất, vậy mà chị ít khi bệnh. Trong suốt tám năm chỉ thấy chị thỉnh thoảng mới bị sổ mũi hay ho, tôi đưa thuốc cho uống đôi ba ngày hết bệnh. Chỉ có một lần duy nhất chị trúng gió chân tay tê liệt phải chở vô bệnh viện. Chị bị xuất huyết mạch máu não may sao nó cũng nhẹ, rồi cũng phục hồi. Lần cuối cùng mới là lạ lùng, bỗng dưng chị không ăn được, ăn vô lập tức mửa ra ngoài. Tôi quen một vị bác sĩ mời ông đến khám bệnh cho chị một vốc đủ loại thuốc. Nhưng chị cương quyết không chịu uống, vì chị biết mình sắp chết. Trước đây khi cho tạm trú nhìn tướng của chị tôi dự đoán: mình nuôi chị không bao lâu. Nay đến giây phút cuối cùng nhớ ra, tôi lại muốn cho chị sống. Bà đừng có nghỉ vớ vẩn, muốn chết dễ sao. Tôi la chị Liên. Chị lắc đầu nhè nhẹ, hai hôm sau chị thanh thản khép mắt nhẹ nhàng.
Trước khi chết chị Liên nắm tay vợ tôi đưa một gói giấy đựng số tiền mình dành dụm. Chị nhờ vợ chồng tôi hỏa thiêu thân xác mình rồi gởi vô chùa. Số tiền còn lại chị nhờ gởi cho người chị dâu chồng mất mấy năm qua. Hai đứa tôi lặng người đi. Chị mò mẫm ở đầu giường lấy ra một hộp chạm trổ xà cừ tinh xảo giống hộp của quý bà dùng để dụng cụ trang điểm. Không biết hộp đựng những gì. Tôi giựt mình khi chị bấm nắp hộp mở ra thấy đó là hộp đựng những miếng vàng lá và đá quý lấp lánh. Tôi không biết cảm giác của vợ tôi như thế nào riêng tôi đôi mắt như hoa lên tưởng như mình đã nằm mơ. Chị đưa mắt hiền lành nhìn hai đứa rất lâu rồi chậm rãi nói. Đây là của thím Hà, sợ mấy mẹ con vượt biên không được rồi tiêu hết của cải nên thím đưa chị Liên giữ giùm để phòng hờ trở lại còn cái mà sống.
Chuyện của chị Liên bạn tin hay không tin đến đây tôi vẫn không nói thêm lời nào. Đã đến lúc tôi quay trở lại với bản thân mình lắng nghe mọi cảm giác trong tâm hồn, vì rõ ràng khi Bồ Tát hiện ra với người nào, người đó không thể ngồi yên. Người bỏ con đường cũ để qua con đường mới tiếp tục bước đi không biết đâu là chỗ kết thúc. Vì thế chuyện của chị Liên đến đây có ba kết thúc:
- Một là thím Hà từ xa trở về được, tôi trả hộp xà cừ đựng số vàng kia.
- Hai là, tôi giả bộ như không biết gì hết chuyện của người.
- Ba là nhờ số vàng ấy tôi làm được nhiều chuyện hữu ích cho đời. Tỉ như tôi mở một nhà tình thương để nuôi trẻ mồ côi và những người già rơi vào hoàn cảnh giống như chị Liên chẳng hạn.

Có thể món quà của Bồ Tát trao tặng tôi còn tiếp tục diễn ra những điều gì nữa, tôi vẫn chưa biết…

NGÔ KHẮC TÀI

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=363850

CHUYẾN TAXI CUỐI CÙNG CỦA ĐỜI NGỪOI Truỵện Ngắn VÔ DANH
mangvienlong | 14 May, 2012, 13:39 | Bài viết của bạn văn | (26 Reads)

CHUYẾN TAXI CUỐI CÙNG CUẢ ĐỜi NGƯỜI . 

 Truyện Ngắn

  VÔ DANH

                                                                                                   

Hai mươi năm trước đây, tôi lái xe tắc xi để kiếm sống. Một đêm có người gọi xe ở khu chung cư vào lúc 2 giờ 30 sáng. Tôi đến nơi, các dẫy nhà đều chìm lẫn trong bóng đêm ngoại trừ ánh sáng mù mờ từ khung của sổ kéo màn kín. Trong trường hợp này, các người lái xe thường nhấn còi một hay hai lần và chờ khoảng một phút, nếu không thấy động tĩnh gì là họ lái xe đi....Nhưng tôi cũng biết rất nhiều người nghèo không có xe cộ gì cả và tắc xi là phương tiện di chuyển duy nhất mà họ trông cậy trong những hoàn cảnh đặc biệt hay trong những giờ giấc bất thường.... Trừ khi linh cảm có gì nguy hiểm ngăn cản, tôi thường ra khỏi xe và đi đến tận cửa, tự nhủ biết đâu có người đang cần tôi giúp...   Nghĩ như thế tôi bước tới gõ cửa.

“Xin chờ một chút “ giọng nói rõ ràng là của một người già nhưng vẫn có phần trong trẻo và tôi có thể nghe tiếng của các vật dụng dường như đang bị kéo đi trên sàn nhà... Vài phút sau, cửa mở, một bà cụ khoảng 80 tuổi đứng ngay trước mặt tôi. Cụ mặc chiếc áo đầm dài in hoa, đội cái mũ trắng xinh xắn với giải lụa gài chung quanh, trông giống y như một người nào đó từ cuốn phim của những năm 1940 chợt bước ra, với chiếc va ly vải bên cạnh. Sau lưng cụ, căn phòng chung cư trống trải như quanh năm không có ai cư ngụ, tất cả bàn ghế đều được phủ kín bằng những tấm trải giường. Liếc nhìn qua vai cụ, không có bất kỳ vật dụng nào trên quầy trong bếp hay trên tường cả và sát chân tường trong góc phòng tôi có thể thấy mấy cái thùng giấy đầy những ly tách và khung ảnh sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp.

- Phiền ông mang giúp tôi cái va ly này ra xe..

Tôi đem chiếc va ly cất ở thùng xe phía sau và quay trở lại giúp bà cụ. Cụ nắm cánh tay tôi và từng bước một, tôi dìu cụ xuống đường hướng về chiếc xe... Cụ luôn miệng nói cám ơn.... “Không có chi, thưa cụ“ tôi nói, “cháu coi những người lớn tuổi như là mẹ của cháu vậy... ” Cụ trả lời: “Ông tử tế lắm.... ” .

Sau khi giúp cụ yên ấm trên băng ghế sau, tội ngồi vào ghế lái và nổ máy xe. Cụ đưa cho tôi tờ giấy ghi địa chỉ nơi cụ muốn đến và hỏi tôi, rất nhỏ nhẹ:

- Ông có thể chạy ngang qua dưới phố cho tôi một chút không...

Liếc mắt vào tờ giấy ghì địa chỉ, tôi buột miệng:

- Nếu lái xuống phố thì đường xa hơn và lâu hơn nhiều....

- Cứ thong thả, ông à, không có gì vội vã cả, Tôi trên đường tới hospice ( benh vien dành cho những người sắp từ giã cuôc sống) thôi...

Tôi ngước mắt nhìn, qua tấm gương chiếu hậu, đôi mắt cụ long lanh trong bóng tối.

- Tôi không còn ai thân thích trên cõi đời này, và bác sĩ đã nói tôi cũng chẳng còn bao lâu nữa, hai hay ba tuần là nhiều....

Với tay tắt cái máy ghi khoảng cách và tính tiền, tôi hỏi một cách lặng lẽ:

- Thưa cụ muốn đi qua đường nào trước...... Trong hơn hai giờ kế tiếp, chúng tôi hầu như đi lanh quanh qua từng con đường trong các khu phố. Cụ chỉ cho tôi toà nhà nhiều tầng mà một thời cụ đã làm người điều khiển thang máy. Tôi lái xe qua một khu phố với những căn nhà nhỏ đã cũ nhưng xinh xắn, cụ nói với tôi ngày trước khi mới lập gia đình cụ đã ở trong khu này, và chỉ cho tôi căn nhà loang loáng dưới ánh đèn đêm.... Nhìn ánh mắt lưu luyến của cụ, tôi như thấy một trời quá khứ thương yêu đằm thắm của đôi vợ chồng trẻ.

Cụ ra hiệu cho tôi ngừng xe trước nhà kho của cửa tiệm bán giường tủ, bàn ghế, nhẹ nhàng bảo tôi trước đây chỗ này là một vũ trường sang trọng và nổi tiếng, cụ đã từng hãnh diện đến đây khiêu vũ lần đầu khi là một thiếu nữ mười sáu tuổi... Trong giọng nói cụ tôi thấy thấp thoáng hình ảnh một thiếu nữ trẻ trung sáng ngời với bộ dạ phục xinh đẹp và nụ cười tươi tắn hân hoan..... Đôi khi, cụ bảo tôi đậu xe trước một toà nhà nào đó hay ở một góc phố khuất nẻo không tên.... và cụ im lặng thẫn thờ trong bóng tối như đắm chìm với cả một dĩ vãng xa xăm bao la và sâu thẳm.... Khi trời chập choạng trong ánh sáng đầu tiên của ban ngày, cụ nói với tôi khẽ khàng như một hơi thở nhẹ:

- Thôi, mình đi... Tôi lái xe trong im lặng đến khu nhà hospice. Đó là một dẫy nhà thấp, kín đáo, ngăn nắp và gọn gàng. Tôi vừa ngừng xe là đã có hai người xuất hiện với chiếc xe lăn như là họ đã chờ đợi từ lâu rồi. Tôi bước xuống mở thùng xe phía sau để lấy chiếc va ly nhỏ của cụ mang tới để ngay cửa chính, xong quay trở ra đã thấy cụ đã được đỡ ngồi ngay ngắn trên chiếc xe lăn.

- Bao nhiêu tiền vậy cháu?

Cụ vừa hỏi vừa mở cái bóp nhỏ... “Cháu không lấy tiền bác đâu.. ” tôi trả lời.

- Nhưng cháu phải kiếm sống chứ...

- Đã có những khách hàng khác, thưa bác...

Gần như không tính toán so đo, tôi cúi xuống ôm lấy bờ vai cụ. Đáp lại, cụ ôm tôi thật chặt:

- Cám ơn cháu đã cho cụ già này khoảng thời gian thật quý giá và đầy ý nghĩa. Tôi xiết chặt tay cụ và quay bước đi trong ánh sáng mờ nhạt của một ngày mới đến. Sau lưng tôi có tiếng cửa đóng. Tôi cảm thấy như cả một cuộc đời vừa được khép lại phiá sau.

Tôi không có thêm người khách nào khác trong buổi sáng đó. Tôi chạy xe lanh quanh không có mục đích và dường như tôi cũng chẳng biết mình đi đâu nữa... Suốt cả ngày hầu như tôi không thể nói được với ai lời nào cả.... Chuyện gì sẽ xẩy ra nếu cụ già gặp phải một người tài xế đang ở cuối buổi làm, nóng nẩy chỉ muốn chóng xong việc để còn về nhà... Chuyện gì sẽ xẩy ra nếu tôi từ chối không nhận đón người khách là cụ hay tôi không bước xuống gõ cửa mà chỉ ngồi trên xe nhận kèn một lần rồi lái xe đi.... Tự nhiên nghiệm trong quãng đời trẻ trung ngắn ngủi của mình, dường như là tôi chưa làm được chuyện gì có ý nghĩa hơn là chuyện tôi đã làm trong buổi sáng hôm ấy. Chúng ta luôn luôn nghĩ rằng cuộc đời sẽ có những khúc quanh quan trọng, đánh dấu bằng những sự việc to lớn, dễ dàng ghi nhớ... Nhưng thật ra, đẹp nhất vẫn là những phút giây nhỏ bé bất ngờ nhưng có xúc cảm mãnh liệt khiến ta phải bàng hoàng đến tê dại cả tâm hồn... Xin chia xẻ câu chuyện nhỏ này với các bạn, hy vọng vì thế cuộc đời chung quanh chúng ta sẽ ấm cúng và có ý nghĩa hơn.

VÔ DANH

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=363563

HOÀNG LỘC, NGƯỜI CHỐNG GẬY ĐI VỚI CHỮ TÌNH Bài Viết PHAN XUÂN SINH
mangvienlong | 09 May, 2012, 20:53 | Bài viết của bạn văn | (39 Reads)

 

HOÀNG LỘC. NGỪOI CHỐNG GẬY ĐI VỚI CHƯ TÌNH

 alt alt

 Bài Viết: PHAN XUÂN SINH

 

Viết về thơ Hoàng Lộc thì phải nói đến thơ tình, mấy chục năm nay Hoàng Lộc vẫn mang mãi cái nòi tình nầy trong thơ. Anh đã trau chuốt nó, đã nắn nót nó, nên nó thành lão luyện, thượng thừa như một người luyện kiếm đến hồi không cần kiếm trong tay, chỉ cầm một cành cây vẫn chém đá ngọt như róc mía. Dù rằng cố tìm trong thơ anh một sự ẩn hiện khác, chứa một nội dung khác thì thơ tình của anh vẫn là số một. Chính điều nầy đã ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ khác khi làm thơ tình, họ có một cái “air” thơ giống của anh, nội dung na ná của anh, chữ dùng đôi khi mượn của anh. Ngay cả tôi trước đây, làm thơ tình đọc lên nghe như hơi hám của Hoàng Lộc. Như vậy đủ biết thơ tình Hoàng Lộc “dễ sợ” lắm chứ không phải chơi. Thơ anh làm ảnh hưởng rất nhiều người, khi giật mình bứt phá ra khỏi cái ảnh hưởng đó, thì cũng thật gian nan. Nói như vậy để biết rằng Hoàng Lộc có một chỗ đứng khá sâu trong lòng người đọc, trong lòng anh em làm thơ.

“cho dẫu phù vân” tập thơ mới xuất bản của Hoàng Lộc, tôi được hân hạnh tác giả nhờ layout và chính trong lúc làm công việc nầy, tôi được đọc trước nên có những nhận xét riêng của tôi về tập thơ. Tôi xin không đề cập đến thơ tình cùa Hoàng Lộc, điều nầy bạn bè anh đã viết khá nhiều. Viết láng cháng sẽ dẫm chân lên họ. Tôi xin viết tản mạn về Hoàng Lộc, về chữ nghĩa thơ trong tuổi gìà. Dù cố tránh về thơ tình, thế nào cũng phải đụng vào nó vì hầu hết trong đời thơ Hoàng Lộc đều chủ tâm đến thơ tình. Như vậy nói khác đi sẽ lạc đề, sẽ sai bét về Hoàng Lộc.

Tôi xin đề cập tới chữ nghĩa về già khi Hoàng Lộc làm thơ tình. Trên thực tế nhìn thấy một ông già bảy mươi tuổi đứng góc đường “gò gái”, trao những lời trêu chọc thì ta thấy chướng hết sức, Thế nhưng thơ tình tuổi bảy mươi (một loại thơ tán gái của mấy ông thi sĩ tuổi gần đất xa trời) thì ta thấy nó thế nào? Thứ nhất là tội nghiệp cho mấy lão. Thứ hai là ta thấy thấm đau, nhưng lại rất dễ thương. Khi còn trẻ làm thơ tình thì mấy cô gái còn quan tâm tới. Có cô phải lòng tơ tưởng đến người thi sĩ làm thơ cho họ. Còn bây giờ, tuổi già mình làm thơ tình là để sắt se, để tưởng nhớ, phần đông đối tượng bây giờ đã tóc bạc răng long như mình. Chỉ ngồi nhớ lại thời sắc hương của họ còn tươi rói. Mình làm thơ để nhớ lại, để chiêm nghiệm, để vọng tưởng. Hãy nghe Hoàng Lộc thổn thức một đời làm thơ của mình:

anh mài sắt cả đời không phút nghỉ
mà cuối đời chưa thấy nổi cây kim

(còn mãi đi tìm. trang 21 – tập CDPV)

Tội nghiệp không? Thế nhưng người đọc lại không nghĩ như anh. Cục sắt to tướng mà khởi đầu anh mài, nó đã thành kim từ lâu. Than chơi cho vui để người khác thấu hiểu nỗi lòng của nhà thơ,.chứ cây kim sắc ngọn đó đã lận lưng từ lâu. Thơ của anh có tiếng tăm khi anh còn rất trẻ. Thế nhưng mấy ai bằng lòng với việc mình làm. Cuối đời công danh thì tan tành, và tình chạy đâu mất. Chính các thứ lỡ vận nầy mới tạo được những câu thơ cô đọng của Hoàng Lộc:

rồi tóc trắng phất phơ chiều sương khói
thế xuân thu rẻ rúng chuyện công hầu
tình cũng chảy mỗi dòng theo mỗi cõi
ai trách lòng ta khói biển xanh dâu
 

câu thơ viết bên kia trời tưởng nhớ
đưa ta về ray rứt giữa canh đêm
trăng phố thị dẫu tàn hiên cổ độ
dễ nguôi khuây những ngọc nát châu chìm

(mưa cuối đời thơ. Trang 47, tập CDPV)

Theo tôi công danh thì trắng, nhưng tình thì không, vì nó còn lung linh trên các câu thơ. Càng về cuối đời, các câu thơ tình của anh càng sâu sắc, chữ nghĩa gạn lọc, đọc lên thấy thấm thía. Nếu không biết tuổi tác Hoàng Lộc mà chỉ đọc thơ của Hoàng Lộc ta nghĩ ngay người làm thơ còn rất trẻ. Tại sao ta phán đoán như vậy? Vì nó mang sự thành thật, sự thủy chung, ướt át, mà chỉ có những người trẻ mới mang tâm trạng nầy phát tán trên thơ, cho nên ta thấy câu thơ rất dễ thương, rất trẻ trung. Hoàng Lộc còn giữ được phong thái đó thật đáng quý. Phần đông những người làm thơ khác, khi cao tuổi họ bỏ hẳn thơ tình, mà có còn chăng thì chữ nghĩa cũng gượng ép nghe ra không thật. Hoàng Lộc ngược lại thơ tình tuổi về già nó không nhí nhảnh, không làm dáng như khi xưa. Thơ tình của anh bây giờ nó chín chắn, sâu đậm, mang thêm những ẩn dụ nên khi ta đọc, cảm thấy nó gần gũi và dễ dàng cảm xúc.

cây đời ta gãy hết
những ngọn tình phù vân

(ngoại ô, đêm. trang 36, tap CDPV)

Hai câu thơ trên, Hoàng Lộc mở đầu cho tập cho dẫu phù vân. Đời của một thi sĩ ba chìm bảy nổi, cho dù thân xác có khô héo thế nào, nhọc nhằn thế nào thì tình vẫn thủy chung. Người làm thơ luôn luôn chung thủy với tình mình đeo đuổi, mặc dù người đã phụ mình. Hai câu thơ ngắn ngủi đó đã gói gắm một đời làm thơ của Hoàng Lộc.

“….
yêu bao nhiêu em cũng phải lấy chồng
xa biết mấy là con đường phía trước
ta theo mỏi còn em thì phải bước
có bao giờ ta đuổi kịp em đâu?
 

đời tàn thu mây trắng bay qua đầu…
(về buổi tàn thu ta, trang 14, tập CDPV)

Một đời làm thơ, đến tuổi già ngó lại nó như “…mây trắng bay qua đầu”. Hoàng Lộc đã nói giùm cho rất nhiều người. Ai đọc qua tập thơ nầy cũng bắt gặp một vài bài, một vài câu mang vóc dáng của mình, mang tâm trạng của mình, cho nên cho dẫu phù vân sở dĩ thành công không phải vì Hoàng Lộc kỹ thuật, mà vì anh đã thực sự đụng đến đáy lòng người đọc bằng chân thật, bằng tự nhiên nên họ dễ cảm thông với anh về những gì anh thổn thức.

alt

Nhiều người cho rằng với cái tuổi cận kề cái chết, không nên làm thơ tình vì nó không thật. Tôi không đồng ý với quan niệm nầy. Người làm thơ phải rung động mọi hiện trạng, tình huống trước cái đẹp. Không phải vì tuổi tác mà chai lỳ trước những rung động. Như vậy ta sống với lý nhiều quá chứ không còn sống với trái tim. Thi sĩ thật sự phải sống với trái tim bất chấp tuổi tác. Làm thơ tình trong tuổi già mà ta không thấy sự gượng ép, không một chút giả tạo, những bài thơ như vậy thật sự đã thành công. Đọc những bài thơ tình trong tập cho dẫu phù vân ta phát hiện được điều đó, ta chỉ thấy sự rung cảm trước những chữ nghĩa bình dị nhưng thật sâu sắc của anh.

thôi đừng bệnh nữa ta ơi
nằm nghiêng còn mỏi nỗi đời nắng mưa
có gì đau ở hôm xưa
ở hôm mai
cả bây giờ cũng đau?
 

xin em vịn một vai cầu
để coi
buồn của đời nhau
chảy về

(nằm nghiêng với bệnh, trang 68, tập CDPV)

Dù trái tim còn trẻ trung, còn yêu đời thì cũng đến hồi đưa tay đầu hàng trước tuổi già, trước những cái rêm mình nhức mỏi. Thi sĩ không chịu mình già…mà bởi vì yêu nhiều quá, thơ tình lai láng mới ra nông nỗi nầy, giật mình nhìn lại thời gian mới biết dù có chống chọi cũng đành phải chịu thua. Cái dễ thương của người làm thơ bao giờ cũng muốn mình trẻ trung mãi để làm thơ, thế nhưng lực bất tòng tâm. Đọc những bài thơ về già của Hoàng Lộc ta mới thấy thương cho anh. Có một điều người đọc nên chú ý thơ tình Hoàng Lộc bây giờ khác xa thơ tình ngày trước. Chữ nghĩa được đẻo gọt tinh xảo. Ý thơ thâm trầm, sâu lắng. Nên khi đọc lên ta có thể không thích một vài bài, nhưng ta phải công nhận rằng làm được những bài thơ như vậy thì thật là hoàn hảo.

Làm việc đến khi cao tuổi ta phải nghỉ ngơi, thế nhưng làm thơ thì không được như vậy. Nghiệp dĩ bắt chúng ta cứ đèo bòng mãi, không dứt ra được. Có nhiều người nói về thơ Hoàng Lộc không còn được như khi xưa, không còn hay như hồi trước. Theo tôi thì không đúng hẳn như vậy. Mỗi thời có một cái hay riêng của nó. Thơ tình còn trẻ thì ướt át, nhí nhảnh. Thơ tình về già thì sâu sắc, thận trọng. Ở vào cái tuổi của mình bây giờ không thể tung tăng nhảy nhót như hồi trẻ, làm như vậy ta cảm thấy kỳ cục và nó không thật. Ta phải làm cái gì nó hợp với tuổi tác, hợp với cách sống hiện tại và lúc nào cũng cần chân thật. Cái quí và giá trị ở cái chỗ chân thật. Ta hãy đọc bài thơ dưới đây của Hoàng Lộc để hiểu anh một cách tường tận hơn:

xin được nghỉ ngơi

nghỉ ngơi thôi, hỡi gã làm thơ già
núi đã tàn rồi – kìa, biển cũng cạn
chữ nghĩa một đời, một đời hoạn nạn
cứ nổi chìm hoài theo mỗi câu thơ
 

hãy nghỉ ngơi thôi, cha mẹ chết rồi
cố xứ gọi về, (bạn bè cũng gọi)
bệnh hoạn bao năm hết còn nhớ rượu
lại nhớ những điều rất đỗi không nên
yêu ta một thời em vẫn là em
áo một thời bay, tóc một thời chảy
là mây là sông chưa từng ở lại
(ta vẫn một đời chỉ đứng ngó theo)

nghỉ ngơi được rồi hỡi gã làm thơ
đĩa dầu đã hao đêm còn gió nổi
kiếm một chỗ nằm nghe mình hối lỗi
về một chữ tình đáng lẽ không nên….

(xin được nghỉ ngơi, trang 89, tập CDPV)

Đây là bài viết không mang tính giới thiệu hay phê phán. Tôi chỉ làm một cái việc chân tình để nói giùm anh (biết đâu cũng nói về tôi) những hệ lụy đã bắt anh phải đeo đuổi mãi chuyện làm thơ và nhất là thơ tình suốt trong cuộc đời nầy. Dù thăng trầm của thế sự, của cuộc đời, anh vẫn thủy chung với nó, một lòng với nó. Cái hữu hạn của con người là một trở ngại cho anh, nếu không, được còn sống mãi anh vẫn làm thơ tình mãi mãi. Tôi nghĩ như vậy.

cho dẫu phù vân ra đời giữa lúc không thuận tiện lắm vì nó cố vượt qua rào cản bên nầy, bên kia đất nước. Những người mến mộ anh, thông cảm những tâm sự của anh đều cao tuổi hoặc đã nằm xuống. Mắt của họ lem nhem tuổi già, lười biếng động não khi đọc thơ của anh. Thế nhưng sự cố gắng của anh và bạn bè anh đã cho chào đời tập thơ. Đó là một sự can đảm giữa lúc chữ nghĩa rẻ mạt, giữa lúc người ta cứ đánh giá thơ theo quan điểm chính trị, xuất bản trong nước hay xuất bản tại hải ngoại. Họ không chịu hiểu một thực thể văn chương không có biên giới !

Houston, ngày 30 tháng 4 năm 2012

alt
Phan Xuân Sinh

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=362862

CHEKHOV VỚI SÂN KHẤU CUỘC ĐỜI Bàii Viết: VÕ CÔNG LIÊM
mangvienlong | 06 May, 2012, 11:44 | Bài viết của bạn văn | (29 Reads)

                            alt

                              CHEKHOV

                 VỚI SÂN KHẤU CUỘC ĐỜI

                   alt

                            Bài Viết

                           VÕ CÔNG LIÊM

                

       Cách sống của nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch Anton Chekhov(*) đã làm cho người ta nghi vấn, thắc mắc; do đó có một vài câu hỏi đưa ra : ”Nó có dễ để nói lên tiểu sử của Chekhov không?” Is it easy to be Chekhov’s biographer?. Bởi cuộc đời của Chekhov là cả một diễn trình chua xót, một cuộc đời ngổn ngang, gò đống từ tình yêu đến tình người. Biết bao điều để nói, bao nhiêu chuyện kể về ông, nhưng đây không phải là một xót xa vô vàn. Đôi khi những lời bàn vô, tán ra sau những lá thư tình huyết lệ của Chekhov là không phải điều hay, sự phải như đã xuất hiện, những gì còn lại có thể là điều bất tín và cho dù có nói trắng ra : vẫn còn thiếu đi một sự đồng tình, ngay cả những gì của thuở ban đầu. Giờ đây chúng ta cần có một xác quyết qua từng ngày của đời ông, sắp xếp một cách mạch lạc về hoàn cảnh của Chekhov. Một sự kiện mà Chekhov không mấy cho là tương hợp, ngược lại là tương phản cho một con người như ông, tuy nhiên; gợi ý nầy giúp cho chúng ta biết thêm về cuộc đời Chekhov một cách rõ ràng và chính xác hơn. Hình ảnh của Chekhov như thể chứa đựng một cái gì riêng mình và giữ được cái dáng dấp riêng mình, chắc chắn đó chỉ là cái nhản hiệu, một thể thức, một cơ cấu về những tác phẩm có tính chất nghệ thuật của ông, ngay cả bản thân ông phát hiện được cái tính bộc phát của mình và chính cớ sự đó đưa tới cái tính nhút nhát sợ hãi; ấy là triệu chứng của con người bất thường, kỳ lạ, như đẩy chúng ta tiếp tục vào những tiến trình và làm sáng tỏ cuộc đời của Chekhov, còn hơn cả một hành động ngăn ngừa. Chekhov cố giữ khoảng cách đó cho riêng mình, một tâm hồn cô độc, trầm lắng, ít nói và làm chủ cái lạnh lùng cố hữu của mình. Cho dù Chekhov là người đã kết hôn, nhưng ông vẫn duy trì cái quyền tự chủ, không bị đồng hoá hay ràng buộc giữa vai trò vợ và chồng của Chekhov, nhưng chỉ là một phần trong cuộc đời ông và chỉ là mối quan hệ tình cảm trong chức năng tình nghĩa vợ chồng, đó chỉ là cảnh giới (landscape) dựng nên cuộc đời. Chủ thể chính của Chekhov là một người nghệ sĩ, có thể làm cho người ta yếu lòng và đó cũng là một tác động phức tạp của con người, nhưng hiện hữu của con người ít khi mà gây cho ông một cảm hứng nào hơn để ông vượt thoát ra khỏi những giòng thơ đơn điệu trữ tình trong phong cảnh của nước Nga mà ông đã sống.

Chekhov’s main subject as an artist may have been people’s frailties and the complexities of human interaction, but human beings rarely inspired him to flights of lyricism in the way that the Russian landcape did.

Chekhov che giấu cái thơ ngây lãng mạn một cách tài tình qua ngôn ngữ thi ca, kể cả những bức thư tình đẫm lệ mà người ta khám phá ở nơi ông. Đặc biệt hơn hết ông đã lái câu chuyện đi vào cái vô nghĩa thường tình, biến thành những truyện ngắn không có câu chuyện. Đó là cảnh trí trong thơ văn của Chekhov, đây không phải là việc làm ngẫu nhiên để đánh động ông phải thốt ra những lời thi vị đó –to utter the word ‘poetic’- Cái đó đưa tới sự ngợi ca trong thi tứ của ông, cái cách dùng từ (vocabulary) của Chekhov là nói lên được cảnh giới, một phong cảnh trong thơ của ông, chính cái đó là câu trả lời có hiệu năng mang lại những giây phút hạnh phúc nhất trong cuộc đời của Chekhov. Cái sự lý đó nó lan chảy trong một trạng thái vô thức  của cái thế giới mộng mơ, của những giấc mơ kinh hoàng, như có một sự ngấm ngầm sâu lắng mà ông đã bộc bạch trong những thư gởi đến bạn văn Dmitry Grigorovich giữa tháng hai 1887; ở tuổi 27 của Chekhov là cả một sự bức xúc, giao đấu giữa gia đình và xã hội. Chekhov cho tất cả là giáo điều, là cả một hàng rào kẽm gai vây bủa đời ông (kể cả cái thời độc tài chuyên chính Stalin để đưa tới chủ nghĩa Stalinist) đã đôi phần hư hại đến tinh thần sáng tác của Chekhov. Đó là nghịch cảnh cuộc đời mà ông phải sống.

Đọc chơi một đoạn thư gởi bạn của Chekhov để thấy cái rối loạn nội tại, ở cái tuổi ‘cần phải bung phá’ mà xung quanh Chekhov là gò đống:

“ Khi tôi tung chăn giữa đêm tối, tôi bắt đầu thấy tảng đá lớn lăn trườn lên mình tôi, một dòng nước lạnh mùa thu và một bờ sông trống vắng -tất cả ngập sương rơi và mù mịt, không còn thấy một mảng trời xanh; trong cái nỗi tận cùng và buồn chán, nếu như tôi lạc lối về hoặc tôi bị bỏ rơi như đứa con vô thừa nhận, tôi nhìn tảng đá và cảm thấy rằng; có một vài lý do mà tôi phải vượt qua dòng sông sâu hoáy nầy…Mọi thứ ở đây trở nên hoang vắng không chịu nỗi, tiêu sơ và thô thiểm. Tôi cố thoát ra khỏi con sông thì tôi lại rơi xuống cửa điạ ngục, một đám tang, thầy giáo làng tôi… tôi bừng tỉnh; nếu tôi được sinh ra và lớn lên ở St. Petersburg thì chắc tôi xác quyết rằng giấc mơ ấy chính là bên bờ sông Neva, thuộc Quảng Trường Thượng Nghị và những trụ đá lớn...”

(When my blanket falls off at night, I begin to see in my dreams huge slithery rocks, cold autumn water and bare riverbanks -all of this is foggy and unclear, without a single patch of blue sky; in despair and melancholy, as if I have lost my way or have been abandoned, I look at the rocks and feel that for some reason I must cross the deep river; Everything is unbearably desolate, raw and stark. When I run away from the river I come to fallen-down cementery gates, a funeral, my school teachers…I am awake; I think if I had been born and lived permanently in St. Peterburg I would definitely dream about the banks of the Neva, Senate Square and massive pedestals…)

Chỉ một khúc nầy thôi cũng đưa chúng ta về với Trần Dần hay Phùng Quán năm nào; cũng đi giữa trời mưa gió, với giấc mơ kinh hoàng ban ngày, không thấy phố mà chỉ thấy: ’…mưa rơi trên màu cờ đỏ’ Cái tâm trạng thi nhân đau khổ là thế. Giờ đây Mạc Tư Khoa hay Hà Nội không thấy mưa rơi mà chỉ thấy tinh tú trắng bay cả bầu trời đỏ! Thì đấy là sân khấu cuộc đời mà Chekhov, Nguyễn Tuân, Trần Dần, Phùng Quán…đã sống những ngày tháng qua. Đời có thể quên quá khứ nhưng lịch sử không thể quên.

Đó là những lời tâm tình mà Chekhov đã viết lên với những xúc cảm sâu xa ở hoàn cảnh mà ông đương sống, lấy ngoại giới của giấc mơ để nói cái thực trạng của nỗi lòng. Mà nếu đây là một sự khó cho vai trò của Chekhov đã đi qua; những mối quan hệ tình cảm của ông với mọi người hay tại bởi cái tâm tư bí ẩn, khó hiểu là những gì chất chứa, tồn trữ bấy lâu nay trong con người của Chekhov; hay có lẽ chúng ta quá đặt nặng vấn đề cho Chekhov để chuyển đổi quan hệ của ông với cuộc đời nơi ông đã sống ?

                                                                  *

Viết về cuộc đời hay tiểu sử (biography) của Chekhov là bước khởi đầu đi vào môi trường vật lý (physical environment) của con người: Chekhov sanh ở thị trấn Taganrog và lớn lên ở đây, một thị trấn thuộc thành phố Mác-cơ-va (Moscow), nơi đây đã đào tạo ông trở thành một bác sĩ và đưa ông tới một ý niệm trưởng thành của quê hương sinh ra mình, chính St. Petersburg là đất văn vật đã ảnh hưởng phần lớn trong sự nghiệp văn chương của Chekhov; mùa hè ở nông thôn là nơi an trú bình yên để ông được vui thích với cái sự nhàn rỗi mà Chekhov cho đó là yếu tố cần thiết của hạnh phúc. Cái nơi hoang vu trống trải của Tây-Bá-Lợi-Á (Siberia) không đem lại cho ông một cái gì gọi là hào hứng, đam mê hay chất đầy lòng ham muốn để dự vào một cuộc phiêu lưu nào và cũng chẳng phải là nơi cho ông ấp ủ những tư tưởng phát tiết; mà chỉ là bất động sản thuộc vùng Melikhovo nơi chỉ chuyên trồng hoa mầu quanh năm suốt tháng, mà  ở đó chỉ có niềm vui giữa đất và người. Nơi đây Chekhov sống cô độc cùng với mủa đông, với ngày tháng trôi êm, nơi khu an dưỡng Crimean ở Yalta và chính ở đây là nơi chốn lưu đày làm đau đớn con tim, để rồi Chekhov tìm thấy sự sống sa sụp và chết lần mòn qua cuộc đời của ông. Cứu cánh của cuộc đời đi qua từng chương mục, là vận chuyển, đan kết  cuộc đời của Chekhov mà mỗi nơi ông đã sống, là cả một quảng đời đầy ý nghĩa và mỗi nơi tỏa xuống một thứ ánh sáng khác nhau qua từng diện mạo của nhân vật. Tất cả những gì của cuộc đời  đi qua trong đời của Chekhov là để lại những dấu hiệu đặc biệt trong một tinh thần sáng tạo, đó chính là tiểu sử đời ông mà ông đã sống và làm việc, đó là những khám phá mới để làm thế nào hư cấu thành những thiên truyện ngắn và kịch. Một thứ kịch (tính) của đời và những truyện ngắn không ra đầu ra đuôi mà vẫn chứa đựng được câu chuyện. Thế gian chỉ có một vài ba vị làm được chuyện nầy!

Cuộc đời của Chekhov không thể lý giải ở một góc độ như thế là đủ, còn có những khám phá khác về cả một chiều dài của Chekhov; cho dù một chi tiết nhỏ nhặt đều được kiểm tra, xét lại. Không những nơi chốn nào, hoặc những hành trình nào đều xem là bao quát cả cuộc đời hiện sinh của ông. Những chuyến đi của Chekhov khởi từ rặng Caucasus là biên cương giữa Á và Âu cho tới những ngày tháng trăng mật của họ ở những nơi xa xôi hẻo lánh hoặc những nơi an dưỡng trong tỉnh bang đều không nhắc tới; chẳng hạn những quan hệ ngắn ngủi hoặc những tư liệu hiếm hoi nói về Chekhov cũng chưa một lần nói qua. Cho nên chi bao nhiêu điều, bao nhiêu hoạt động của Chekhov mà người đời chỉ nhìn qua một góc cạnh nào đó của ông để đánh giá, chớ bên cạnh cuộc đời Chekhov là cả cuộc đời trải rộng qua từng giai đoạn thời gian, qua từng chế độ mà ông đã dấn thân, dấn thân như nhân chứng, dấn thân như sử liệu (văn, thơ, kịch); biết bao sự kiện bi thảm, biết bao thảm kịch đời xẩy ra từ  giới vương giả, cho tới đám bần cùng, kể cả những đảng viên hay không đảng viên thời Cọng sản Stalin, Chekhov lột tả hết chân tướng từng nhân vật, tháo gở toàn bộ phụ tùng hư hỏng của xã hội. Dù cho gom hết  vào nhau ở những chuỗi thời gian xuất hiện đúng cung cách  (chronological manner) đi nữa thì chỉ nói lên được phần nào cái chất tính dị thường và kín đáo, trầm lặng và đầy mặc cảm của con người Chekhov.

Những tháng ngày cuối cùng của cuộc đời, Chekhov đắn đo suy nghĩ qua từng nhân vật trong kịch, ông muốn kịch phải sống thực qua từng vai trò, qua từng thời gian, biểu lộ trung thực chức năng sáng tác. Có lần Chekhov tâm sự với vợ ông; Olga Knipper rằng: ông muốn những nhân vật là anh hùng, có thể là khoa học gia, họ cũng là những người đau khổ từ cái chỗ không được đền đáp tình yêu hoặc bị phản bội bởi người đàn bà mà họ đang yêu…Đó là thảm kịch đời, một sân khấu bi thảm mà Chekhov phải hứng chịu.

Đấy là một sự tương phản giữa hình ảnh Chekhov với dự phóng của chính ông. Có hay không có ý thức đó chính là cá tính trung thực của Chekhov mà chúng ta có thể tìm thấy trong tác phẩm của ông. Như những nhân vật của ông, thường thấy có một khe hở giữa tình cảm mà ông đã tự nhận và cảm thấy như ông là một con người đầy kinh nghiệm. Dù trong suốt cuộc đời của Chekhov như nhận được những tiếng tốt cho cái việc tránh mặt, rút lui và cả sự lạnh lùng. Điều chắc chắn mà chúng ta tìm thấy qua hằng ngàn lá thư ông viết, viết luôn cả cuộc đời ông, tình yêu của ông không một ngại ngùng.  Chekhov là con người đa tình kể cả thiên nhiên, ông say mê yêu thích cảnh giới  được trải rộng trong phong cảnh của nước Nga, đặc biệt những cánh đồng hoang vu  và những vùng đất thoai thoải gần hồ Baikal ở Tây Bá Lợi Á. Những thể tài đó tiếp tục xuất hiện qua nhiều lần trong truyện của ông và luôn luôn gắn liền với thiên nhiên  và phong cảnh đó là nét đặc thù mà ông thường xử dụng trong thi văn.

Cái gì làm dấu chấm cho Chekhov? What made Chekhov tick? Như chúng ta biết cái dấu chấm của Chekhov là nỗi buồn chán, luôn ám ảnh đời ông, tác phẩm của ông chất chứa một cái gì bén nhạy của tình cảm, quan sát và học hỏi về sự suy nhược của con người, mặc dầu được diễn tả một cách trọn vẹn bằng một ngôn ngữ chân tình và hài hòa. Nhưng những điều đó phải chăng là  phục vụ như một chức năng bắt nguồn từ sáng tạo mà ra hay tạo cảm hứng để thi vị hóa cuộc đời cho chính ông? Vậy thì điều gì đẩy đưa ông? Có biết bao cơ hội đến với ông, trong khi đó ông không chịu mang mặt nạ phòng chống khí độc của luật búa liềm; đó là nỗi u buồn mà chúng ta bắt gặp lời than thở nhiều lần trong tác phẩm của ông, Chekhov yếm thế thấy rõ, đưa ông vào thế giới mờ ảo, để rồi viết như tự thú, nhút nhát là bẩm tính của Chekhov cho nên về sau truyện ngắn của ông rơi vào cái dạng bí tỉ của con người đứng trước hoảng sợ (panic) đưa truyện vào cái gọi là truyện-không-có-câu-chuyện (non-story) nhưng vẫn giữ được mạch lạc của ngôn từ, chính cái bất ngờ để thành công là nguyên nhân phát sinh của nội tại; một triệu chứng sinh lý của Chekhov (?). Có thể đó là dự ước hay đó là một sự cố  của Chekhov làm nên tác phẩm.

Chekhov yêu thiên nhiên, cho nên ông có những quan hệ chân tình với phong cảnh đất nước Nga; ông luôn ngợi ca cảnh trí thiên nhiên và con người được chan hòa vào thơ, truyện, kịch một cái gì thầm kín mà ông muốn gởi gắm: ‘Cảnh Trí  từ Cuộc Đời’ -Scenes from a Life- hay ‘Sân Khấu từ Cuộc Đời’ mà Chekhov đã đi qua. Đúng! Đây là một họa phẩm sơn dầu vĩ đại với những mảng mầu đầy đủ sắc thái nhân sinh; là một biện chứng (convincing) rõ ràng không những dành cho con người mà nói lên những cuộc hành trình hay những nơi định cư của Chekhov. Ông luôn luôn hoài niệm chốn cũ: quê nhà Taganrog, vùng bao la miền nam Nga, Mác-Cơ-Va (Moscow), Peterburg, Tây Bá Lợi Á (Siberia) và Yalta là cả hai bề mặt giữa người và vật (cảnh giới) được lồng vào và mở rộng trong những tác phẩm của ông.

Chekhov thật sự là con người khó hiểu và hay lẫn tránh, ngay trong cuộc đời ông đang sống , ông mang nặng một tư duy riêng biệt, một cốt cách lạnh lùng và thầm kín. Nhưng phải nhìn cuộc đời của Chekhov xuyên qua một lăng kính khác ta mới thấy những nơi ông đã sống và ông đã yêu. Hẳn đã có những khác biệt. Thiên nhiên, phong cảnh là nguồn an ủi cho một con người trầm lắng, cái trầm lắng tuyệt vọng của một kẻ luôn khao khát tình yêu. Chekhov có tình yêu vợ con, nhưng tại sao Chekhov còn phải đi tìm tình yêu, dù tình yêu trong nhân vật? Nguyên nhân nào đưa tới lãnh cảm và lẫn tránh. Chắc chắn có một cái gì trong vực thẳm của Chekhov mà hơn thế kỷ qua, hằng đống sách nói về Chekhov mà vẫn chưa quật lên cái thâm cung bí sử của Chekhov. Muốn biết? Hãy đọc tác phẩm của ông; ít nhiều sẽ tìm thấy bên trong xác ướp đó…

 Chekhov là một thiên tài nổi bậc trong mọi sắc diện, một tinh thần hăng say hoạt động và cầu tiến, một người ham học, nhưng ông sanh không nhầm thời, một hoạt cảnh lầm than từ thuở thiếu thời cho tới khi lìa đời là cả một dấu hiệu bi thương cho Chekhov. Ông là đứa trẻ đau khổ; mà về sau ông đã thổ lộ như con người bất hạnh và nhận lãnh những bất công từ trong gia đình cho tới xã hội. Anton Chekhov đã có lần nói: “Tôi không có tuổi thơ”-In my childhood, there was no childhood- Đó là chứng cớ đưa Chekhov đến con đường trầm thống và từ đó ít khi thấy Chekov nở nụ cười trên môi có chăng là nụ cười héo hắt mà thôi. Vậy cớ sự gì đến trong đời Chekhov như thế?

Có hai nguyên nhân tác hại trong đời Chekhov. Đó là trạng huống tâm lý. Tâm lý nội tại và tâm lý ngoại tại.

Nội tại: Chekhov sanh trong một gia đình thuộc thành phần nông nô (serf) nằm trong một xã hội áp bức và đè nén, Cha ông là thương doanh bán dạo, thời gian ngắn vở nợ và dời đến Mác-Cơ-Va, riêng mình ông ở lại quê nhà (Taganrog). Chekhov vừa học vừa làm và thay đổi cuộc sống nhiều lần, ông nghiến răng chiu đựng cảnh cùng cực. Mẹ của Chekhov là một người đàn bà đáng thương, xuất thân từ trẻ mồ côi, con gái của một người bán vải. Cha mẹ ông làm ăn vất vả để nuôi bảy người con, Chekhov là con thứ ba. Ông phải sống bửa đói, bửa no, ngoài ra ông cũng bị đời đối xử tệ bạc, bất công, nhưng nhờ đức tính cương nghị của cha mà thúc đẩy ông học đến cùng. Gia cảnh ông rơi vào lầm than từ khi sụp đổ cơ nghiệp, anh em phân tán cũng chính hoàn cảnh đó đã gây ít nhiều trầm cảm trong việc học cũng như việc yêu đương đời ông.

Ngoại tại: Ông đương đầu những nghịch cảnh giữa học đường và gia đình , ông phải cán nán việc nhà trong lúc khó khăn, ở Mác-Cơ-Va ông học y khoa (1879) ông đấu tranh mọi tình huống khác nhau, quan hệ một số bạn bè để có cơ hội tiến thân, ông nhận viết báo, làm báo nhưng bên cạnh đó ông còn gặp những trở ngại khác giữa người và người, ông cố gắng vượt qua mọi trở ngại để đạt mục đích, để đáp lại lòng mong muốn của đấng sinh thành. Chekhov tốt nghiệp y khoa (1884) Ông tiếp cận đám dân nghèo , những nỗi khổ của dân là nỗi khổ mà gia đình ông đã đi qua, Chekhov dành thì giờ để viết báo, nói lên một xã hội tha hóa, đày ải người dân, từ đó ông đặc nặng cảm nghĩ về đất nước và con người. Tố cáo chế độ Nga hoàng và rồi ông tỏ ra thái độ phản kháng chế độ và chính những cuộc phiêu lưu báo chí cũng như viết lách của ông gây được tiếng vang , chính tiếng vang đó mà dưới chế độ Cọng Sản Stalin ‘dòm ngó’ đến ông.

Qua hai nguyên nhân gần và xa trong đời của Chekhov cho chúng ta thấy được những chặng đường gian nguy của đời ông, bên cạnh tình nhà và tình nước, ông phải trực diện với hoàn cảnh, chính những điểm đó gây cho ông một tâm trạng u uất, một nỗi trầm thống mà ông phải cưu mang như một hệ lụy kể cả những hệ lụy tình cảm trước và sau khi thành hôn. Chekhov chôn kín trong lòng những hoài niệm qua những khúc quanh cuộc đời, đó là con đường đi tới tuyệt vọng; bởi ông chứng kiến những gì đã thấm nhuần, ông vịn vào thơ văn cũng như sáng tác kịch để gởi gắm nỗi lòng, ông yêu nước, yêu người; cảnh quang đó thâm nhập vào hồn ông. Chekhov con người giàu tình cảm và nhạy cảm, đi đến đâu ông đem lòng yêu thương; ông yêu thương núi đồi, cây cỏ, yêu những cánh đồng hoang (steppe), yêu những vùng băng giá, thương nhớ vợ con mỗi khi cô độc , những lúc bàng hoàng như thế nhà thơ không thể ngoảnh mặt với một tâm hồn lãng mạn kín đáo của tình yêu, ông che giấu mọi đều, Chekhov chỉ bộc lộ trong thi văn và những vở kịch mà ông đã viết lên , mỗi hoàn cảnh hay mỗi cảnh giới có ít nhiều nội tâm ông ở trong đó.

Giờ đây chúng ta thấy được cõi lặng của Chekhov, một cõi lặng vô biên, một ngôn ngữ đìu hui, quạnh vắng, chính những uất khí trong lòng mà biến thể hồn và xác Anton Chekhov. Ông che giấu, trốn tránh tất cả, lãnh cảm tất cả để du hồn vào cảnh giới, bởi ngoại cảnh cuộc đời là kịch, Ông  mượn cảnh trí của những nơi đi qua làm bản cáo trạng thời cuộc, dù rằng tiếng nói của ban sơ là câm nín . Con người chả để tâm đến cõi lặng đó. L’homme à vrai dire n’accorde à ce silence aucune attention! Do đó Chekhov sống với ngôn ngữ như tiếng nói lặng câm trong thơ, truyện và kịch. Một trào lưu thoái hóa để đi tới sự rạn nứt của bọn qúy tộc Nga, mở màn cho một cuộc cách mạng.

Quân chủ, dân chủ hay cách mạng chỉ là danh xưng, nhưng rồi cũng gieo vào xã hội Nga những tham quyền cố vị khác chẳng có gì là mới cả. Chekhov đã nói trong vở « Vườn Đào » (The Cherry Orchard/ Vishnjovyj sad 1904) là những gì thâm trầm của Chekhov ; ấy là điều mà người mong muốn bình đẳng xã hội, bình đẳng con người, dù một bày tỏ thầm kín. Bản chất của Chekhov là thế. Ông đối diện hai mặt thực : tình yêu và tình người. Tất cả dữ kiện trong cuộc đời làm cho Chekhov đau xót và sống mãi với âm thầm, che giấu, lãnh cảm, sợ hãi tất cả phát sinh từ xã hội mà ra. Kể cả tình yêu luôn luôn nẩy mầm trong im lặng và hố thẳm qua con người của Anton Chekhov. Đời chỉ biết Chekhov trầm lặng, ít nói bởi ông đã nói quá nhiều trong những tác phẩm của ông. Có lẽ ; đến giờ nầy người ta vẫn chưa tìm hiểu hết cái thâm cung bí sử của Chekhov. Ông đã ngủ vùi dưới huyệt mộ.Vì đời là thảm kịch  ! 

 

VÕ CÔNG LIÊM (ca.ab Mercedes 29/4-2012)

*  Tên thật: Anton Pavlovitsh Tshekhov (1860-1904)Sanh ở tỉnh:Taganog thuôc Thành phố St. Peterbourg Nga.

  Ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị; thơ, truyện ngắn, truyện vừa và kịch.Chekhov là nhà văn xuất sắc cuối cùng của chủ nghĩa hiện thực phê phán và là người canh tân sân khấu Nga ở thế kỷ XIX. Ông còn là người viết truyện không có câu chuyện.

  SÁCH ĐỌC:

-  The Cherry Orchard by Anton Chekhov . Trans by Laurence Senelick. W.W. Norton &Company. USA 2010.

-  Celebrity Chekhov by Ben Greenman. Harper Perennial. New York. USA 2010.

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=362276

SUY NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT HAY BỨC THÔNG ĐIỆP CHO HÀNH TINH TT.TTĐ
mangvienlong | 03 May, 2012, 19:14 | Bài viết của bạn văn | (44 Reads)

alt

SUY NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT

HAY BỨC THÔNG ĐIỆP CHO HÀNH TINH

Bài Viết: 

TT Thích Thiện Đạo

 alt

TT Thích Thiện Đạo & Mang Viên Long

( ảnh chụp tại chánh điện Tổ Đình Phi Lai Tp Biên Hoà)

 

Thời gian qua mau, mùa xuân sắp hết, mùa hạ lại trở về. Đó đây không khí chuẩn bị Lễ Phật Đản đã thức tỉnh và thúc giục mọi người con Phật phải làm gì để cúng dường Đức Phật trong ngày lễ trọng đại này. Chúng ta cảm nhận thế nào về sự kiện to lớn và đầy ý nghĩa này?

Phải chăng Đức Phật có quyền lực bắt con người phải phục vụ theo ý muốn của Ngài để tôn vinh Ngài?. Hay muốn thể hiện ảnh hưởng và sức mạnh của mình đối với nhân loại trên hành tinh này?

Dĩ nhiên câu trả lời, đối với người phật tử chân chánh, là không phải như thế. Ngay từ trong bản nguyện độ sanh cũng như trong kho tàng giáo lý mà Đức Phật đã thuyết giảng, không hề có nội dung kinh điển nào Đức Phật tự đề cao mình, hay bắt mọi người cùng đề cao Ngài. Đức Phật không bao giờ xem mình là một giáo chủ đến để thống lãnh cuộc đời bằng một số giáo điều, mà chỉ là một Sứ giả có sứ mạng đem thông điệp hoà bình đến với cuộc đời, và hướng dẫn phương pháp thực hiện thông điệp đó.

Bạn có nhận ra nội dung thông điệp đó không? Thông điệp có bị giới hạn về không gian và thời gian không?. Thông điệp mà Đức Phật mang lại có giống như một pháp lệnh trần gian không? - Câu trả lời dứt khoát là không.

Là Phật tử được thấm nhuần giáo pháp của Phật, chúng ta cần phải có cái nhìn chính xác, một đức tin thật sáng suốt về những gì liên quan tới Đức Phật và giáo pháp của Ngài. Nếu không, các bạn chẳng bao giờ gặp được Đức Phật thật tướng, mà chỉ là Đức Phật thần linh giả tướng do con người tưởng tượng ra.

"Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành" là tuyên ngôn bất hủ thể hiện tính cốt lỗi của giáo pháp Phật Đà. Nếu các bạn hiểu Đức phật như chính bản chất của Ngài đựơc chứa đựng trọn vẹn trong ý nghĩa " Đạt đáo viên mãn giả", nghĩa là một con người đã hoàn tất tiến trình giác ngộ và hướng dẫn người khác cùng đạt đến giác ngộ. Đức Phật không thủ đắc giác ngộ, và giác ngộ không phải là tài sản hương hỏa đặc ân cho ai. Hễ là một chúng sanh, một con người là có sở hữu giác ngộ, chỉ khác nhau ở mau hay chậm mà thôi.

Sự tôn vinh và lòng ngưỡng mộ Đức Phật chỉ là cách thể hiện niềm tin và sự tôn kính trọn vẹn đối với Ngài. Người Phật tử cảm thấy hạnh phúc và an ổn hoàn toàn mỗi khi lễ lạy Ngài. Ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp báo thân, cùng với mười hiệu tôn xưng là kết quả tất yếu của một quá trình lâu dài hoàn thiện thân tâm và hành bồ tát đạo lợi lạc hữu tình. Phước Trí Nhị Nghiêm hay Lưỡng Túc Tôn cũng đều là sự tôn xưng tán thán đối với một con người siêu việt về trí tuệ và đạo đức, về tài năng và nhân cách như Đức Phật.

Trong kinh Kim Cang, Đức Phật xác định tính vô thủ đắc của giác ngộ bằng câu nói cô đọng bình đẳng : "Tu nhất thiết thiện pháp tức đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề". Vâng ! chỉ cần nổ lực phụng hành các thiện pháp theo tinh thần Ba la mật, thì con đường giác ngộ được hiển lộ một cách tối thượng. Nếu chúng ta không hành động theo con đường thiện pháp thì sẽ bị lạc vào con đường thế trí, tức là vọng tưởng điên đảo, tà kiến chấp thủ.

 Từ trong Đại bi tâm, Đức Phật đã xuât hiện như một sứ giả, mang thông điệp hoà bình đến với cuộc đời, phổ biến hướng dẫn chúng ta thực hiện thông điệp hòa bình bằng tinh thần giác ngộ. Có hiểu biết đúng mới cảm thông thật sự, có cảm thông thật sự mới có tha thứ, giúp đỡ yêu thương sâu sắc. Hiểu biết, cảm thông, tha thứ, giúp đỡ, yêu thương là chất liệu tạo nên hoà bình thật sự. Trong cuộc sống hiện tại, có một vấn nạn về hoà bình như sau : " Chúng tôi thật sự muốn có hoà bình, nhưng chúng nó không muốn có hoà bình, chúng nó thường gây xung đột".

Theo Đức Phật không có hoà bình của chúng tôi, của các anh, của chúng nó, mà là hoà bình của tất cả chúng ta, của nhân loại, của cả hành tinh này. Nhân danh hoà bình để gây chiến tranh, đó không phải là hoà bình chân chính. Nơi này, nơi kia còn xung đột còn hận thù, còn chết chóc là vì có một bộ phận của nhân loại chưa ý thức sự cần thiết và giá trị của hoà bình, còn chạy theo tham vọng tranh chấp. Điều này có nghĩa rằng nhân loại chưa ý thức đồng bộ về hoà bình, còn xem hoà bình như một thứ hàng hóa có thể bị tranh giành phân chia. Cho tới khi nào hiểu biết được đánh giá đúng mức như là một nhu cầu thiết thực trong đời sống nhân loại, và yêu thương được xem là chất liệu đem lại hạnh phúc cho mọi tâm hồn, thì hoà bình thật sự sẽ phổ biến và bền vững.

Bản chất của hoà bình là nối kết, là không phân biệt, không bị giới hạn, nhưng con người đã làm cho hoà bình bị cắt xén, bị phân chịa bị giới hạn, thậm chí còn không có hiệu quả - Đức Phật dạy ; "Cuộc sống thế nào là do ý thức con người tác động vào". Cho nên ý thức tốt thì cuộc sống an lạc hạnh phúc. Ngược lại, ý thức xấu thì cuộc sống tối tăm đau khổ. Nghiệp thức con người là chủ nhân của mọi hiện tượng xã hội. Thật ảo tưởng về một xã hội hoà bình hạnh phúc văn minh trong khi chính mỗi thành viên của cộng đồng nhân loại còn điên đảo vô minh, hận thù tranh chấp, tham lam tha hóa, ích kỷ cục bộ. Cuộc sống thật sự văn minh chỉ khi nào con người biết hướng thiện, biết xả bỏ, biết hy sinh và hoà đồng. Còn tham lam là còn cục bộ, còn cục bộ là còn cố chấp, còn cố chấp là còn lạc hậu, còn lạc hậu thì không thể nói tới văn minh văn hóa.

Đức Phật ra đời là một dấu móc tâm linh quan trọng nhằm khai mở ánh sáng giải thoát và phát huy khả năng giác ngộ trong mỗi con người để vượt qua mọi khổ đau do vô minh chấp thủ. Nhờ thực hiện con đường giác ngộ mà rất nhiều quốc gia, nhiều cộng đồng xã hội và cá nhân đã thật sự có hoà bình an lạc.

Ngày nay tổ chức Văn Hóa Giáo Dục của Liên Hiệp Quốc, đã công nhận Phật giáo là tôn giáo hoà bình, được xây dựng trên nền tảng Từ bi và Trí tuệ, và đã chọn ngày Phật Đản hằng năm là ngày lễ hội Tôn giáo Hòa Bình Thế giới. Như vậy trải qua suốt chiều dài lịch sử trên 2550 năm có mặt trên hành tinh này, Phật giáo đã được thừa nhận là một Tôn giáo hoà bình vì lý tưởng hòa bình an lạc mà Tôn giáo này đã cống hiến cho nhân loại. Vậy là nhân loại đã chính thức thừa nhận, lương tri loài người đã thừa nhận, nền văn minh Thế giới đã thừa nhận Đức Phật là một vĩ nhân trên các vĩ nhân, một nhà cách mạng vượt không gian thời gian, một nhà văn hoá tâm linh không lệ thuộc vào giáo điều, một con người siêu việt về nhân cách và trí tuệ.

Đức Phật và giáo lý nhân bản của Ngài vì an lạc hạnh phúc cho mọi chúng sanh sẽ mãi mãi còn giá trị và cần thiết cho một thế giới vốn nhiều bất ổn, đói nghèo, thiên tai, tranh chấp hận thù. Chúng ta hy vọng song song với sự phát triển về khoa học kỷ thuật, thì sự tiến bộ về mặt văn hóa đạo đức tâm linh sẽ mãi mãi có vị trí quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ hoà bình hạnh phúc lâu dài cho nhân loại.

Tóm lại, bức thông điệp mà Đức Phật đã trân trọng đem đến cho nhân loại trên 2550 năm, chính là tinh thần giác ngộ, tinh thần yêu thương chia xẻ biết tôn trọng sự sống và sự thật, cải thiện môi trường tâm linh, góp phần làm trong sạch môi trường tự nhiên, nhằm xây dựng bảo vệ một cuộc sống hoà bình an lạc, ở đó không còn cảnh người bóc lột người, không hận thù chiến tranh xung đột chia rẽ, con người sống với nhau bằng tình thương yêu chân thật, biết tôn trọng và bảo vệ lẫn nhau. Cao cả hơn nữa là biết nhận chân và phát huy các giá trị văn hóa tâm linh, nêu cao tinh thần bình đẳng tôn trọng an lạc hạnh phúc của mọi người như của chính mình. Mỗi người trong chúng ta cần phải gieo hạt giống từ bi vào mảnh đất nhân sinh để màu xanh hòa bình mãi mãi che mát hành tinh đang rực nóng vì hận thù tranh chấp. Hãy bảo vệ hành tinh này trước khi quá muộn.

Kính lạy Đấng Lưỡng Túc Tôn !

Nhân loại của chúng con đang thành kính hướng về Ngài với tất cả niềm tôn kính và tri ân vô hạn. Ánh sáng chánh pháp của Ngài đã giúp chúng con biết trở về đúng hướng, đã soi sáng tâm hồn chúng con trên những nẻo đường tăm tối. Tình thương mà Ngài đã đánh thức trong chúng con thật cần thiết để giữ yên cho thế giới khỏi biến thành biển lửa.

Máu của nhân loại đã đổ và vẫn còn tiếp tục đổ ra vì những nhân danh không cần thiết. Tham vọng và hận thù vẫn còn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Bao nhiêu nền văn minh do con người xây dựng đã và đang bị con người hủy diệt một cách vô lương tâm.

Đã đến lúc ánh sáng của ngọ đèn chánh pháp phải được vận dụng một cách trân trọng để xua tan bóng đêm tà kiến đang bao phủ nhân loại.

Đã đến lúc tiếng chuông Từ bi phải được lắng nghe một cách tha thiết để mọi trái tim cùng đập nhịp đập yêu thương xây dựng tình người

           Kính dâng lên Ngài trái tim của một chúng sanh đang tha thiết nguyện cầu cho một thế giới xanh mầu hòa bình hạnh phúc!

 

TT.THÍCH THIÊN ĐẠO

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=361868

THƠ NÚI TÀ LƠN Truyện Ngắn SƠN NAM
mangvienlong | 01 May, 2012, 06:29 | Bài viết của bạn văn | (23 Reads)

alt

THƠ NÚI TÀ LƠN

Truyện Ngắn

alt

SƠN NAM

 alt

 Ðêm đó, đã quá mười một giờ. Khách du ngoạn trên cầu chữ Y đã thưa thớt. Quá nực nội không ngủ được, tôi đi rong đi rểu trên cầu chờ mong một làn gió mát. Cảnh vật hầu như im lặng, chiếc xích lô máy vượt qua rồi mất hút. Tôi thơ thẩn ngắm ánh đèn điện nơi xa rồi cúi đầu theo dõi đường nước đen ngòm phía dưới.

    Một chiếc tàu hiện ra đằng kia, loại tàu kéo ghe. Tàu chạy chầm chậm vì nước đổ ngược. Tàu chạy dưới gầm là chuyện thường nên tôi không muốn để ý. Vì vậy tôi hơi ngạc nhiên khi thấy người khách bên cạnh cứ nhìn mãi chiếc tàu. Tàu đã khuất dạng, khách lặng lẽ thở dài.

    Tôi tò mò nói để gỡi chuyện:

    - Tàu dòng ghe gì vậy bác?

    - Ghe chở than. Bảo đảm than Cà Mau. Hồi nãy tôi thấy rõ ràng than gốc lớn bằng cây cột nhà.

    Sực nhớ lại, ở Sài Gòn cột nhà bằng cây không có thứ nào to bằng gốc cây đước Cà Mau như khách đã nói, tôi mỉm cười:

    - Sài Gòn có hai thứ cột. Cột gạch thì mỗi bề ba tấc. Cột cây dầu thì chừng một tấc vuông. Ðằng nầy gốc than có khác.

    Khách nhìn tôi với đôi mắt sáng rực:

    - Ông anh nói đúng. Gốc đước hầm than lớn bằng cây cột nhà miệt dưới.

    Tôi hỏi:

    - Miệt nào?

    Khách ra vẻ bực bội:

    - Thì miệt Cà Mau, tôi nói nãy giờ. Xin lỗi ông anh có biết miệt đó không?

    Tôi trả lời rằng biết. Khách chưa tin nên gạn hỏi:

    - Cũng là ở Cà Mau nhưng làng của ông anh cách làng tôi hai ngày đường. Ðể tôi hỏi câu này: Tam Giang ở đâu?

    - Dạ Tam Giang ở chỗ sông cửa Lớn đổ ra cửa Bồ Ðề. Từ Tam Giang tới mũi Cà Mau chừng ba mươi cây số.

    Khách vỗ vai tôi, mời hút thuốt rồi hỏi tiếp:

    - Tại sao kêu là xóm Năm Căn?

    - Tôi nghe nói hồi xưa, nơi đó có năm miệng đáy. Sông sâu, nhiều sấu người ta không đóng cột xuống sông. Cứ neo sáu chiếc ghe cách khoảng đồng đều nhau. Giữa hai chiếc ghe, họ giăng miệng đáy. Căn có nghĩa là gian, là miệng...

    Ông Tư đến Sài Gòn độ hai mươi năm rồi. Ðiều ân hận nhất của ông là không được dịp trở về quê cũ.

    - Cha mẹ tôi mất hết rồi, còn người anh hiện giờ trên năm mươi tuổi đã có cháu nội ở Tam Giang. Anh tôi là người lang bạt kỳ hồ. Năm đó anh bỏ nhà trốn nợ tận núi Tà Lơn bên Cao Miên. Không hiểu ảnh làm gì ở bển, không hiểu ảnh tới núi không. Năm sau, ảnh trở về với cái quần xà lỏn dính da. Hỏi công chuyện làm ăn, ảnh cười. Lúc uống rượu, ảnh đọc thuộc lòng vè gọi là vè Tà Lơn.

    Ông Tư nhướng mắt như hỏi tôi biết bài vè đó chưa. Tôi trả lời chưa biết. Ông đọc cho tôi nghe một hơi.

 

    Tà Lơn xứ rày tạm con ở.

    Làm lưới chài ngày tháng náu nương.

    Gởi thơ về cho cha mẹ tỏ tường.

    Cùng huynh đệ đặng cho hãn ý.

    Kể từ thưở bôn trình vạn lý.

    Ðến bây giờ hơn bảy tháng dư.

    Nghiêng mình nằm nhớ tới mẫu từ.

    Ngồi chờ dậy ruột tằm quặn thắt.

    Nhớ huynh đệ lụy tuôn nước mắt.

    Cam phận em ruột thắt từng hồi.

    Vận bất tề nên phải nổi trôi.

    Thời bất đạt nên con xa xứ.

 

    Tôi hỏi:

    - Bài về ai đặt ra. Cảm động quá. Ai lại không từng sống trong cảnh cô độc, xa nhà vì sinh kế.

    Ông tư đáp:

    - Của tác giả vô danh, phần đầu tả tình, phần sau tả cảnh tiếp theo như vầy:

 

    Xứ lạ lùng con có một mình.

    Cơn nguy hiểm lấy ai phò trợ.

    Bởi thiếu thốn bao nhiêu đồng nợ,

    Nay thân con phải chịu hoành hành.

    .............

    Việc ăn ở nhiều nỗi đắng cay,

    Vái trời phật xin về quê cũ.

    Xứ hiểm địa chim kêu vượn hú,

    Dế ngâm sầu nhiều nỗi đa đoan.

    Ngó dưới sông con cá mập lội dư ngàn,

    Nhìn trên suối sấu nằm như trăm khúc.

 

    Tôi cật vấn ông:

    - Nhớ hơi quá. Không lẽ núi Tà Lơn âm u nguy hiểm như vậy.

    Ông Tư cười:

    - Có tích mới đặt tuồng. Còn nữa...

 

    Nay con tới nguồn cay nước đục,

    Loại thú cầm trông thấy chỉnh ghê,

    Giống chằng tinh lai vãng dựa xó hè.

    Con gấu ngựa tới lui gần xó vách.

    Bầy chồn cáo đua nhau lúc nhúc,

    Lũ heo rừng chạy giỡn bát loạn thiên.

    Trên chót núi, nai đi nối gót,

    Cặp giả nhân kêu tiếng rảnh vang.

    Ngó sau lưng, con kỳ lân mặt đỏ như vàng,

    Nhìn phía trước, ông voi đen huyền như hổ.

    Hướng đông bắc, con công như tố hộ.

    Cõi tây nam, gà rừng gáy ó o...

 

    Bài vè Tà Lơn, ông Tư đọc còn dài lắm. Ðoạn sau tả các loài ong độc, loài rắn, loài kiến hùm. Tóm lại, toàn là loài thú dữ ở trong sở thú Sài Gòn. Chấm dứt bài còn mấy chữ cẩn ký nay thì. Ông Tư Khuyên tôi nên chép bài đó để học thuộc nằm lòng, xem như lá bùa hộ mạng. Ông còn khoe nhờ ông mà bài vè này được phổ biến khá sâu rộng trong xóm nhỏ.

    Ông nói:

    - Khi quá vui thì mình đọc nó để cho tâm hồn bình tĩnh trở lại! Nhớ tới công lao cực nhọc của ông bà khi xưa. Khi nào túng tiền, mình nhớ xứ Cà Mau, bài vè này sẽ gợi chút ấm áp. Cũng như trời lập đông, mua chút rượu để mà uống.    

***

    Hai ba năm sau.

    Từ ngày dời nhà lên vùng Phú Nhuận, tôi không còn hoàn cảnh thuận tiện để thăm viếng ông Tư, hoặc lên cầu chữ Y hóng mát nữa.

    Thỉnh thoảng gặp dịp đi qua, ghé hỏi thăm thì ông không có ở nhà. Mãi đến buổi chiều nọ, trời chuyển mưa to, tôi chạy ghé vào nhà ông. Bà vợ ông nói:

    - Ôi thôi! Hơi đâu mà hỏi tới ổng. Só là người anh ruột của ổng chết từ hai tháng nay. Ổng buồn, ổng uống rượu, tối ngày không nói không rằng. Hồi nào hễ rảnh là ổng đi đằng xóm dạy thiên hạ học bài vè thơ Tà Lơn. Ai không học thì ổng giận. Bây giờ ổng thủ khẩu như bình. Ai nhắc lại thơ Tà Lơn, ổng day mặt chỗ khác. Chú em nghĩ coi! Anh của ổng, năm nay già sáu mươi tuổi. Ðời người hưởng được bao nhiêu năm như vậy nghĩ cũng là thọ. Tội tình gì mà quá than khóc! Hôm trước, ổng biểu tôi vay nợ để ổng về Cà Mau. Chừng chạy đôn chạy đáo mượn được tiền, ổng không thèm về. Khó hiểu quá.

    Tôi hỏi:

    - Ổng đâu rồi, tôi muốn gặp để thăm. Hèn lâu không gặp.

    Bà đáp lại:

    - Chú em cứ lên cầu Chữ Y, chạng vạng là có mặt ổng ở trển tới khuya. Ổng dòm trời, dòm đất. Mấy ngày đầu, tôi sợ ổng buồn rầu mà tự tử...

    Ðường lên cầu Chữ Y chiều hôm đó cũng rộn rịp ngựa xe như năm nào, đèn điện sáng rực lên, từng đoàn người đứng cười cười nói nói dựa theo lan can. Tôi đi suốt đầu này qua đầu kia, tìm ông Tư. Ông đứng đó, kìa. Mái tóc bạc phếu, khác hẳng ngày nào. Mắt ổng nheo nheo nhìn về phía chợ Sài Gòn, môi ổng mấp máy.

    Nói với ai? Nói chuyện gì hở ông lão? Tôi muốn hỏi lớn như vậy. Phải chăng là đoạn thơ Tà Lơn “Nhớ huynh đệ lụy tuôn nước mắt, cảm phận em ruột thắt từng hồi, vận bất tề nên phải nổi trôi?” hay là đoạn “Cõi tây nam gà rừng gáy ó o, hướng đông bắc, con công kêu tố hộ?”

    Nhưng mà thôi. Tôi đành đứng lại, không dám khuấy sự yên lặng của ông. Nhìn chung quanh rõ ràng cầu Chữ Y này cao quá, cao bằng cái nhà lầu hai tần. Gió trên cầu giống như gió núi Tà Lơn, đem lại cho người đời đôi phút tiêu diêu thoát tục? Tại sao lòng ông Tư lại chứa chất nhiều bí ẩn như thế? Bài thơ núi Tà Lơn do một nông dân vùng Cà Mau soạn ra tại sao lại đủ khả năng quyến rũ, trở thành một món nợ đối với ông lão ở kinh thành ánh sáng này như ông là một?

    Có lẽ nhờ mang nặng khối nợ đó nên ông không nhào đầu xuống sông khi ý nghĩ tự tử len lỏi vào tim óc. Ðêm đó, mãi đến mười giờ khuya mà ông còn đứng tren cầu cúi xuống dòng sông đen thui, lốm đốm những bọt nước trắng.

SƠN NAM

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=361418

NHÂN KỶ NIÊM 7 NGÀY ĐI XA CỦA THẦY TRƯƠNG THAM .....
mangvienlong | 29 Apr, 2012, 14:00 | Bài viết của bạn văn | (37 Reads)

alt

 NHÂN KỶ NIỆM 7 NGÀY MẤT CỦA THẦY TRƯƠNG THAM

 

           Những ngày cuối năm 2011 Thày Trương Tham có gởi cho binhdinhquetoi bài đọc sách – giới thiệu & nhận định tập truyện thứ hai của Cô giáo – người viết văn trẻ Trần Minh Nguyệt : “ NGƯỜI ĐÀN BÀ & NHỮNG GIẤC MƠ” ( nhà xuất bản Thanh Niên – 2011 ). Thầy viết tay – gởi bưu điện. Trong thư, Thầy cho biết Thầy không dùng máy tính. Bản thảo thường viết tay rồi gởi cho các báo. Nếu cần, nhờ chỗ dịch vụ hay người thân, học sinh đánh vi tính giúp.

          Bản thảo viết tay của Thầy còn nằm trong xấp bài lưu cảo – chưa có dịp đánh vi tính để giới thiệu vì cuối năm công việc khá bận rộn! Hôm nay – nhân kỷ niệm 7 ngày đi xa của Thầy – chúng tôi cho giới thiệu nơi đây – như một sự tưởng nhớ & biết ơn đến Thầy – người đã suốt đời vì học trò & thế hệ  cầm bút trẻ kế thừa yêu quý Văn học…

          Xin thắp nén tâm hương tạ lỗi & cầu nguyện cho vong linh Người sớm an nghỉ nơi cõi vĩnh hằng An Tịnh & An Lạc…

                    Binhdinhquetoi

 

   ĐỌC TẬP TRUYỆN

 “ NGƯỜI ĐÀN BÀ & NHỮNG GIẤC MƠ “

 Của TRẦN MINH NGUYỆT

 

Bài Viết:

alt

 

TRƯƠNG THAM

( Nhà Giáo Ưu Tú )

   

             Ai có đọc một truyện trong tập truyện “ Người Đàn Bà Và Những Giấc Mơ “ ( Nhà XB Thanh Niên – quý 3 – 2011) của tác giả Trần Minh Nguyệt thì không thể không đọc truyện thứ 2. Và cứ thể dẫn dắt người đọc đi sâu dần vào 13 truyện kể hấp dẫn.

             Tác giả viết theo lối kể chuyện, chuyện nào cũng có cốt chuyện – những chuyện gần gũi với mọi người- đọc qua, cứ như đã từng chứng kiến ở đâu đó; được kể lại bằng giọng của một người con gái rất có duyên.

              Điều đáng trân trọng là chuyện nào dược kẻ cũng ghi dấu sâu đậm về tình thương yêu, về nhân cách, về cách sống với niềm tin yêu hướng thượng cao đẹp.

             “ Món Ăn Cuối Cùng “ là truyện ghi lại một đại gia giàu có ở một thành phố lớn nọ. Tác giả không hề nói đến quá trình làm giàu, giàu có đến mức nào như nguời ta thường vẫn nói, mà khai thác thú ăn uống của đại gia này. Đề tái đó soi rõ những còn mất trong một con người. Ông từng đi khắp nơi ( trong và ngoài nước ), ăn không thiếu món ngon vật lạ nào; kể cả cóc, nhái. rắn, bò cạp, tắc kè, dòi (…) .Cuối cùng, ông được 2 đại gia khác mời ăn óc khỉ. Hình ảnh chú khỉ bị khớp cổ giống như một đứa trẻ  đoán biết những gì sắp xảy ra cho mình, hai tay ôm lấy ngực như vái lạy xin tha – hốt hoảng, dãy dụa kêu gào. Hình ảnh nầy khiến vị đại gia nọ lo sợ - nên chỉ ăn một chút cho được lòng bạn. Sau bữa ăn, về nhà – tâm trí ông  bắt đầu hổn loạn, ngơ ngác – như kẻ mất hồn. Và đêm đêm, thường kêu gào, than khóc như diên khùng. Bạn bè không hiểu  nguyên do - xa lánh, xóm giềng hoang mang –gia đình lo ngại đến uy tín. danh dự phải cho ông đến ở riêng khu nhà trong hẻm vắng,. Người kề cận giúp đỡ chăm sóc ông hằng ngày chỉ còn lại  Khắc – người tài xế riêng nghèo khó được ông đùm bọc bấy lâu. Khắc đã tin tưởng tâm sự cùng bè bạn xóm giềng khi được thăm hỏi: “ Ông chủ của tôi một ngày nào đó sẽ hết bệnh, vì trong ông còn có lòng nhân từ mà.. Ông đâu dám ăn món ăn cuối cùng đó, mà chỉ đưa muỗng ăn thử một chút thôi! “. Câu chuyện đã đăỵ ra bao vấn đề của cuộc sống hôm nay – nhất là chỉ có anh Khắc. con người lao động thủy chung  ấy không thể bỏ ông trong lúc hoạn nạn bệnh tật, và còn tìm thấy ở ông một chút nhân từ. Quả thật ăn uống là một khoa học, không nên đưa những món lạ , không hợp với thể trang ( tâm sinh lý ) của mình vào cơ thể, kẽo nếu không chết, thì cũng bị rối loạn của bệnh tâm thần…

          Câu chuyện “ Mùa Xuân Năm Ấy “ kể anh sinh viên tên Lâm vốn sinh ra trong một gia đình giàu có, nhưng luôn chăm chỉ học tập – tính tình đôn hậu. Từ thuở nhỏ, Lâm đã được gia dình giáo dục theo khuôn khổ khắt khe ngay trong các sinh hoạt thường nhật. Dần dần đã trở thành thói quen trong cuộc sống. Mùa Xuân năm ấy vì qúa thương người yêu  đang chịu cảnh cô lẽ lúc xuân về ở nơi ký túc xá quạnh vắng – Lâm đã về nhà trễ giờ. Anh đã vội vàng chạy xe – và tai nạn bất ngờ đã cướp đi sinh mạng đang xuân của anh.. Người cha đã ân hận nói với người yêu của Lâm khi cô này đến viếng anh: “ Bác chỉ muốn nó sống tự lập, sống cho tốt mà thôi! “.Câu chuyện không nói về giáo dục, mà đã đề cập đến một vấn đề trong giáo dục :Giáo dục có nguyên tắt của nó – nhưng không nên quá gò bó, khắt khe theo một khuôn mẫu định sẵn, bởi đây là vấn đề “ Con Người “ với bao yếu tố tế nhị và phức tạp. Nếu không, nhiều khi có dụng ý tốt, mà sẽ không đưa lại kết quả  như mong muốn!

          “ Chuyện Tình Bên Dòng Sông Nhược Thủy “ : Một đôi trai gái sống gắn bó hồn nhiên bên nhau từ bé, cho đến khi tuổi vừa trưởng thành – đã quyến luyến, rồi yêu thương nhau  Khi Cầm - tên cô gái. phải theo mẹ lên thành phố kiếm sống. Người mẹ ép gã “ làm nhỏ “ cho người có địa vị sang giàu ! Không tìm thấy hạnh phúc, chỉ nhận bất hạnh, khổ đau. Buồn, thoát ly đi làm gái chiêu đãi ở các quán café. Tân  có dịp lên thành phố,  bất ngờ gặp Cầm, vẫn giữ mãi lòng thương yêu, muốn đưa Cầm trở về quê - xa lánh cuộc sống tủi nhục, nhưng ngay buổi sáng hẹn gặp để cùng về lại dòng sông Nhược Thủy năm xưa sống bên nhau như hai lòng mơ ước, thì Cầm bỏ đi vì mặc cảm tội lỗi - – để lại bức thư đầy nước mắt, nhưng tự hứa sẽ sống đời lương thiện, có ích…Tân một mình quay về dòng sông yêu thương ngày nào với bao nỗi nhớ thương da diết. Đây là một chuyện tình có nhiều tình tiết sinh động, thực tế - và nhất là có một kết luận nâng cao lòng tự trọng trong tình yêu nơi người con gái xấu số tên Cầm.

              Cứ như thế, với 13 câu chuyện trong tập NĐB&NGM là 13 cảnh đời gần gũi, thân thiết với đời sống cần được cảm thông, chia sẻ.  Tư tưởng chung của toàn tập đều hướng về lòng nhân, về tình thương yêu, về niềm u uẩn bất hạnh cần được trân trọng; để mong tìm được sự thanh thản an lành trong cuộc sống hiện tại và mai sau cho chính mình và cho người!

              Điều cuối cùng khiến tôi ngạc nhiên, là tác giả TMN đang là một giáo viên dạy Anh Văn ( trường PTTH Tuy Phước 2 ) – tuổi đời còn trẻ, nhưng qua hai tác phẩm đã dược giới thiệu trong năm 2011 ( tập đầu tay là “ Những Kẻ Tự Phong “ – nhà XB Thanh Niên – qúy 1 - 2011) – đã khá trưởng thành trong cách viết, văn phong - nhất là kinh nghiệm sống phong phú, thật đáng trân trọng và by vọng…

TRƯƠNG THAM

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=361237

BÊN DÒNG SÔNG QUÊ Truyện Ngắn TRẦN MINH NGUYỆT
mangvienlong | 27 Apr, 2012, 18:55 | Bài viết của bạn văn | (49 Reads)

 

BÊN DÒNG SÔNG QUÊ

   

Truyện Ngắn

TRẦN MINH NGUYÊT

 

             Được tin chú Thế mời uống cà phê ở quán Thanh Mai vào chủ nhật, tôi cảm thấy rất vui. Vậy là chủ nhật này nhóm tôi có thể về lại vùng quê của chú, một vùng quê nghèo mà yên ả, thanh bình nằm dọc theo bờ  của con sông Trường Thủy quanh năm nước chảy êm đềm; bồi đắp – nuôi dưỡng, hình thành nên cư dân hiền hòa, hiếu khách từ bao đời.

         Đường  lên nhà chú Thế ghồ ghề, khúc khuỷu. Đường bê tông nhưng qua thời gian lũ lụt và các loai xe lớn chở đất cát cày xới – đã đần tạo nên những ổ gà, ổ voi; còn những con đường hẻm vào làng nhỏ hẹp, lầy lội. Chú Thế định cư ở làng này cho đến nay đã hơn ba đời rồi. Đôi khi tôi tò mò hỏi chú sao không chuyển nhà xuống ở Thành phố hay ít nhất là thị trấn cho cuộc sống vui và đỡ vất vả hơn. Nhưng lần nào chú cũng thuyết phục tôi bằng những lí lẽ không cải vào đâu được:

-         Ở thành phố, ở thị trấn thì vui rồi, nhưng để tìm thấy sự bình an, và tình làng nghĩa xóm thì cũng hiếm - chỉ ở nơi đây mới có cháu à.

         Tôi đuối lý nhưng vẫn ngoan cố chống chế:

-         Nhưng chỉ cần tâm mình an thì ở đâu mà không an vui hả chú?

        Chú Thế cười hiền. có vẻ suy nghĩ - chậm rải đáp lời tôi

-         Cháu nghĩ vậy không đúng rồi. Làm sao mà giữ tâm an giữa cuộc sống hối hả, xô bồ dễ dàng được chứ?  Mình là phàm phu, đâu phải bậc thánh mà an nhiên “thõng tay vào chợ” ? Cháu có thấy ai đi qua chợ cá mà không bị tanh mùi của cá       hắt vào mũi không?

   Tôi không biết phải trả lời sao, thì chú Thế đã tiếp lời – giọng say sưa, nồng nhiệt:

-         Tâm hồn của chúng ta cũng như vải vóc, vật dụng vậy - nó cũng rất dễ bị vấy bẩn, mà một khi đã bẩn rồi thì rất khó để làm nó sạch lại như cũ cháu à.

-         Dạ! Cám ơn lời khuyên chí tình của chú - Cháu biết rồi….

   Tôi im lặng một lúc rồi lẩm bẩm với mình không để chú nghe thấy

-         Chú lí tưởng hóa cuộc sống quá, nên khổ cả đời…

 

        Tôi quen chú Thế cũng rất tình cờ, vậy mà mới đó đã gần 5 năm rồi. Thời gian trôi qua nhanh quá, chỉ xuất hiện như một thoáng rồi mất hút vĩnh viễn. nhưng  miền kí ức sâu khuất như đang hiện ra trước mắt tôi….

 

                Cũng vào một ngày chủ nhật, bạn bè tôi rủ nhau đi uống cà phê, và nhậu lai rai, nói chuyện con cà, con kê  cho vui để giảm bớt căng thẳng trong suốt một tuần quần quật vì cuộc sống. Chúng tôi thường nhậu theo trường phái “ Tiên tửu” của Lí Bạch - khi đã uống sần sần là trở thành những nhà thơ, những nghệ sĩ ngâm thơ “tài hoa” ngay. Hôm ấy tôi rất háo hức vì mới sáng tác được một bài thơ mà tôi đọc đi đọc lại nhiều lần và nghĩ nó hay không chê vào đâu được ( có người làm thơ nào mà không tự cho thơ mình là hay, là nhất nhỉ?) - vì vậy tôi cạn luôn cả mấy li để lấy dũng khí mà ngâm nga. Tôi đã hứng khởi, miên man đọc:

                        “ Một ngày... một ngày ..lại một ngày... 

                        Tháng năm trăn trở đong đầy thời gian

                                   Vầng trăng lẻ bóng mơ màng

                        Giọt sương se lạnh, lá vàng - người ơi !

                                   Cõi tiên, cõi tục chơi vơi

                           Ngẫm mà xa xót dòng đời thực – mơ…

                                   Xanh kia lồng lộng xa mờ!

                          Trăng tương tư đổ bến bờ nhớ thương.”

              Tụi bạn tôi vỗ tay tán thưởng -  để có dịp cùng nâng ly chúc mừng nhau. Tôi cười đắc chí, mãn nguyện – tuy hơi thở vẫn còn dồn dập vì xúc cảm hạnh phúc đã được chia sẻ..

              Người đàn ông đang ngồi yên lặng ở bàn bên cạnh nhìn chúng tôi chăm chú.  Nhìn dáng vẻ bề ngoài, ông ta không có gì đặc biệt. Đó là một người trung niên dáng cao gầy, râu tóc không được cắt tỉa, hơi luộm thuộm nhưng nét mặt khắc khổ, phong trần. trong bộ áo quần màu nâu xám cũ kĩ. Tuy vậy, đôi mắt của ông cứ như  có ma lực quấn hút tôi vào đó. Đôi mắt rực sáng - một đôi mắt biết nói, và tôi dường như đã đọc được trong đôi mắt ấy một sự thương hại,  bao dung, pha lẫn một niềm vui thích nào đó khi tôi đọc bài thơ. Thấy tôi tròn mắt ngạc nhiên nhìn, ông giơ tay như chào tôi và ôn tồn – đỉnh đac, nói:

-         Thế hệ ngày nay mà có người còn mê thơ như mấy cháu quả là hiếm thấy

        Tôi bối rối, không biết trả lời sao - chỉ khẻ cười đáp lại. Cậu Trung – bạn tôi, nói chen vào - như lời tâm sự:

-         Khởi đầu, tụi cháu chỉ làm cho vui thôi, vậy mà lâu dần đâm ra “nghiện” cái món giải trí chữ nghĩa này chú à?

  Thắng - ngồi cạnh tôi, vừa nốc hết phần bia còn lại – vừa nhiệt tình:

-         Nghiện cũng hay chứ sao? Có đúng vậy không, chú? – cậu ta kể, cứ tới chủ nhật là tụi cháu lại họp mặt ở quán này để thư giản, để xả hết những buồn bực của một tuần xa nhau vì mỗi đứa phải “chúi đầu” vào mỗi việc…

-         Chú cũng mê thơ à? Tôi dạn dĩ quay nhìn chú – hỏi:

-         Rất mê!- chú cười hiền – chú “mê” thơ kể từ khi tôi còn rất nhỏ kia. Các cô cậu có phiền khi tôi đọc cho nghe một bài thơ uống rưọu với bạn tâm giao không?

         Chúng tôi không ai hẹn ai, cùng bưng li sang bàn chú ngồi cùng. Bằng một giọng trầm ấm, ngọt ngào, mời gọi -  mỗi chữ trong câu thơ được chú ngân nga, trầm bổng nhịp nhàng điệu nghệ như một nghệ sĩ dày dạn kinh nghiêm. Bái thơ vì thế thật quyến rủ - chứa chan cảm xúc êm đềm. Chúng tôi im lặng lắng nghe. Uống từng câu thơ da diết tình bạn xưa. Sững người như bị một năng lực vô hình cuốn hút.  Tôi không ngờ, trong cái thị trấn bé nhỏ này, lại đang có mặt một nhà thơ tài hoa đến vậy?

Tôi reo lên: “Bây giờ thì cháu mới hiểu tại sao thơ lại có thể đi vào lòng người, có thể chia sẻ tâm sự buồn vui của người với người rồi. Baì thơ của chú sâu sắc – đắm thắm, chí tình quá! Cháu chợt nghĩ, cảm xúcđã được dồn nén khít khao trong từng ấy con chữ - Tôi cười chân tình, Chú có giọng ngâm quá hay

      Chú cười thoải mái:

-         Được mấy cháu chia sẻ, lại được khen - chú cảm ấm áp và rất vui. Cảm ơn các cháu nhé…

  

                Những ngày chủ nhật sau đó, nhóm chúng tôi ít họp mặt ở quán nhậu, hay quán cà phê cũ mà rủ nhau lên thăm quê chú Thế. Khi thì ngồi uống cà phê ở quán nhỏ ven sông, bên đập nước, để nhìn trời mây yên ả quang dãng và xóm làng xanh ngát thanh bình.  Khi thì kéo đến quán nhậu bình dân dọc theo triền sông để lai rai vài lon Tiger. Lần đầu tiên lên thăm, chúng tôi đều rất ngạc nhiên, trước quang cảnh một miền quê yên ả, hiền hòa với những cánh đồng xanh tươi, những soi bắp bạt ngàn, những khóm tre bên triền sống cong mình trước gió, và còn có lác đác  những mái nhà tranh đơn sơ, nhà lá mái cổ kính như thử thách với gian truân. Và trong cảnh thơ mộng đó - những bài thơ của chú Thế như những ca khúc tâm tình dần dần ăn sâu vào tâm hồn của chúng tôi từ lúc nào không hề hay biết. Chúng tôi chập chững học theo chú Thế làm thơ, với những cảm xúc bất chợt trong đầu - chú cò lẻ thơ thẩn kiếm ăn, cô bán hàng xinh tươi hiếu khách, soi bắp, rặng tre già, đường quê(….) - tất cả đều thành thơ.

                 Một sáng chủ nhật, chú Thế đọc cho chúng tôi nghe một bài thơ tình, Bài thơ thật lãng mạn về một đôi mắt đẹp như hồ thu, một tình yêu, ước vọng đầu đời của người con trai dành cho cô gái, một màu hoa tím thầm kín len lỏi vào tâm hồn rồi ngự trị trên một mảnh tim đa tình của chàng trai mới lớn, và để rồi cuối bài thơ là một sự hối tiếc không nguôi. Lời thơ như đoài đoạn ray rức tâm can, chúng tôi đều nhìn chú chờ đợi một lời tâm sự. Chú Thế nhìn xa ra đập nước - mơ màng như đang sống lại một thời xưa cũ….

                  Chú kể :

                “… Năm đó chú đã 18 tuổi. nhà ở ngoài xóm chợ - cái xóm mà có cây Đa nằm trên đường lên đây chắc các cháu đã thấy?.  Hồi đó không có nhiều trường học như bây giờ, học hết tiểu học chú phải xuống thị trấn ở trọ lại nhà bà con để học tiếp cấp hai, rồi cấp ba. Vì vậy chú quen với cảnh nhộn nhịp, hối hả của phố thị, khi hè phải về quê chú không thể nào chịu được cái tĩnh lặng của miền quê này. Chú không biết phải làm gì để giết hết thời gian trong ngày nên theo mấy đứa em con cậu, con dì ngày hai buổi đi ra con sông này để câu cá, để tắm sông. Nước sông trong vắt, và mát lạnh, cho đến bây giờ chú còn mê cái cảm giác được đắm vào dòng nước mát mỗi buổi sáng, mỗi buổi chiều ….

-         Chú mê tắm sông? Mê luôn cô lái đò phải không? - Thằng Khương hớt lẻo ( chúng tôi đặt cho nick là “ Khương-lẻo” ).

            Tôi trừng mắt nhìn nó ra hiệu im lặng. Nó vẫn có tính “chen ngang” vô duyên và bất lịch sự ấy mỗi lần cùng nhau trò chuyện với bất kỳ ai. Tôi nhìn sang chú Thế, vẻ mặt của chú đang suy tư, mơ màng như đang sống lại một thời quá khứ xa xưa.

-         Cô ấy không phải là lái đò, nhà cô ấy ở bến sông thôi, ở gần nơi mà có con cò lẻ đang thơ thẩn kiếm ăn kia kìa….

-         Nhưng ở đó là lòng sông mà chú? - Tôi ngạc nhiên hỏi

-         Vì bị áp lực dòng chảy siết vào mùa lũ khi cải tạo lại dòng sông sau năm 2000 không lường trước được - mà mỗi năm con sông lở ở bờ bên này và bồi ở bờ bên kia, Trước kia ở bờ bên này có hơn vài chục nóc nhà, dân cư đông vui - bây giờ không còn gì nữa - chú đưa tay chỉ ra dòng sông - Các cháu thấy có một thành giếng đứng im giữa dòng kia không?

         Chú Sơn – người bạn thân thường ”cặp kè” với chú Thế vẫn có mặt thường xuyên chung vui cùng chúng tôi trong những sáng chủ nhật - gật gù, chia sẻ::

-         Nhà chú là một trong số những ngôi nhà bị sạt lở, nếu bây giờ còn ngôi nhà đó gần như ở giữa dòng sông này đó - chú cười, chiếc thành giếng cao kia là của nhà chú đó mà!

  Chúng tôi đều bàng hoàng – rất ngạc nhiên về sự biến đổi của dòng sông, và nhất là của những mảnh đời nơi cái xóm cú bị xóa mất đi ấy.

       Không để chúng tôi phải chờ đợi thêm nữa - chú Thế tiếp tục câu chuyện:

        “…Cô ấy đẹp lắm, nước da trắng hồng, gương mặt thanh tú, và chiếc răng khểnh rất có duyên. Cô ấy có một thân hình khá hoàn hảo, bộ ngực căng tròn, những đường nét trên thân thể của cô ấy đều là những đường cong tuyệt mĩ. Chú yêu cô ấy không những vì cô ấy đẹp mà còn vì cô ấy đã từng cứu mạng chú nữa…”

         Mỗi lúc, chú Thế càng làm cho chúng tôi tò mò hơn - chúng tôi không dám hỏi  gì thêm ( kể cả Khương-lẻo cũng im lặng) - chỉ nhìn chú chờ đợi.

        “…Hôm đó là một buổi chiều trung tuần tháng tư, mấy đứa em bận công việc gì đó, chú ra sông tắm một mình, đang trầm mình dưới dòng nước mát, đột nhiên chú bị chuột rút đau nhói không thể cử động được, và cũng không thể bơi nổi vào bờ. May mà cô ấy tình cờ có mặt kịp thời khi xuống bến sông sau nhà giặt giũ. Cô ấy nhỏ nhắn vậy, mà dìu được một người to lớn như chú vào bờ một cách nhẹ nhàng. Khi qua cơn nguy hiểm, chú thắc mắc hỏi, cô ấy cười nói: “ Có gì đâu anh? Nếu  bị cuốn vào dòng chảy mạnh, hãy bơi song song với bờ chứ đừng cố bơi vào bờ bởi làm vậy sẽ mất sức và  khá nguy hiểm nữa. Sau đó mới tìm cách bơi trở vào khi thuận lợi thôi....”. Những “lí thuyết” dơn giản từ đời sống thực tế như vậy có trường lớp nào dạy cho đâu?  Chú chỉ thộn mặt ra nghe mà thôi. Hôm ấy trăng mọc sớm -rất đẹp, lần đầu tiên chú mới cảm nhận được vẻ đẹp cùa trăng - ánh trăng bàng bạc, vằng vặc chiếu rực rỡ trên bãi cát trắng, gió mát lạnh thổi từ sông lên mang theo mùi cát, mùi phù sa, bên cạnh lại có một người đẹp như Hắng Nga ở trên trời lạc xuống - làm cho lòng chú tràn ngập bao cảm xúc lạ đầu đời…

              Sau này,  chú còn gặp thêm cô ấy vài lần nữa. Và lần nào cũng vậy,  chú và cô ấy cùng đi dạo trên triền sông vào buổi chiều, ngắm nhìn mặt trời rán đỏ hồng lặng từ từ, rồi khuất sau dãy núi mờ xa. Và khi mặt trời nắng tắt hẳn, bóng tối dịu dàng mênh mông một dãi sông nước bến bờ yên vắng - chú bất chợt ôm ghì lấy cô ấy - đó là những nụ hôn đầu đời của chú....”

         Chú Thế ngừng kể - đưa mắt nhìn ra phía bãi cát ở bên kia bờ đập. Tôi thầm nghĩ,  có lẽ những cảm xúc khó quên đang ùa về, ngập tràn trong trái tim của chú. Khương nóng nảy:

-         Chú yêu cô ấy đến vậy, sao không cưới cô ấy hả chú?

-         Chú nghĩ vợ chồng là cái duyên, cái số cháu à.

-         Có lẽ vậy! - Chú Sơn tỏ vẻ đồng tình, và nhìn sang chú Thế - khẻ nói:

-         Ông kể tiếp đi…

          Chú Thé cầm li trà lên nhấp một ngụm nhỏ và tiếp tục câu chuyện:

            “ ..Vì cô ấy quá đẹp nên rất nhiều chàng trai đến lượn lờ tìm cách làm quen, trước nhà cô ấy có hàng chục các “cây si”, nhưng họ đến rối lại ra đi vì cô ấy không những đẹp mà còn đoan trang, nề nếp - trái tim một khi đã trọn tình trao gởi thì không còn để ý đến ai nữa. Hơn nữa, những chàng trai ở gần nhà của cô ấy luôn hăm dọa, chận đánh những “cây si” nhiều lần khiến họ nãn lòng. Chú cũng bị mấy cục đá vào lưng, vào đầu của chú Sơn tặng cho đó.”.

           Chúng tôi bật cười. Chú Sơn đỏ mặt – vui vẻ phân bua:

-         Chú nhỏ hơn cô ấy bốn tuổi, năm đó chú mới có mười lăm tuổi chứ mấy. Chú gọi cô ấy bằng chị, nhưng mà chú cũng rất yêu mến cô ấy nên mới cùng các bạn lớn tuổi trong xóm làm vậy. Chú đến giờ vẫn còn nhớ dáng của cô ấy dưới ánh trăng, cô ấy có một vẻ đẹp liêu trai huyền bí. Có nhiều lúc chú nghĩ cô ấy là tiên của loài hoa, hay cây cỏ nào đó hóa thành…

-         Cô ấy có biết chú yêu cô ấy không?

-         Không!- Chú Sơn lắc đầu. Cô ấy chỉ xem chú như một đứa em trai mà thôi.

         Chú Sơn im lặng nhìn sang chú Thế như muốn được nghe lại câu chuyện của thuở thanh xuân mơ mộng hoang đàng ấy, dù chú đã biết trước cái kết thúc.

              “  .. Chú về viết bài thơ tình mà chú vừa đọc cho các cháu nghe đó, nhưng cũng không dám đưa cho cô ấy, Chú không thể nào vượt qua hàng rào “vệ sĩ” quanh nhà cô ấy được. Và rồi chú  đậu vào Đại học sư phạm Sài Gòn - vậy là chú mất cô ấy từ đó … Sau đó hai năm, cô lấy chồng,  một giáo viên đệ nhất cấp ở  cùng xóm. Nhưng rồi dòng sông sạt lỡ  lấn sâu vào đất liền, nhà của họ và của cả chú Sơn đây cũng bị cuốn trôi. Và rồi như một thiên duyên, vợ chống cô ấy lại mua nhà ở sau lưng nhà chú, và chú Sơn -“ kẻ thù năm xưa” của chú - cũng theo vợ về ở cạnh nhà cô ấy nữa….

                 Bây giờ chú đã có vợ, có con - vợ chú như các cháu thấy đấy, rất chìu chồng, thương con. Chú lấy vợ như số phận đã chọn lựa và sắp đặt sẵn. Chú không thể nói là không yêu vợ, nhưng sâu trong tìm thức, tình yêu đầu đời với cô ấy đôi khi vẫn hiện về trong những giấc mơ. Tình yêu đó mãi sống trong góc khuất của trái tim chú…”.

-         Chú có hay gặp và nói chuyện với cô ấy không? Đã là hàng xóm rồi mà? Khương phân vân.

-         Chú không muốn gặp, hãy để những kỷ niệm mãi mãi đẹp - cháu à

-         Còn bài thơ thì sao? Tôi tò mò

-         Bài thơ chú giữ lại cho mình như một kỉ niệm - đã gần bốn mươi năm qua…

                Lâu lắm rồi tôi không được sống hết lòng với cảm giác chân thật của mình như vậy - những kỉ niệm vui buồn một thời đã dần mất hút vào một mớ hỗn độn, mờ mịt của cuộc sống bề bộn đua tranh của đời thường. Nó đã khiến tôi rơi vào sự cô lập buồn nản đến mất ngủ. Vậy mà từ ngày được nghe câu chuyện của chú Thế - dạo gần đây, tôi lại hay nghĩ đến  dĩ vãng xa xưa, những kỉ niệm của một thời thơ trẻ và ngây ngô như một niềm vui lớn và là nguồn an ủi vô tận, vỗ về ấm áp cho đời mình…

 

      TRẦN MINH NGUYỆT

 

 

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=361033

PHẠM CÔNG THIÊN, THẦN ĐỒNG NGÔN NGŨ TRIẾT HỌC MẶC LÂM
mangvienlong | 24 Apr, 2012, 20:24 | Bài viết của bạn văn | (71 Reads)

 

  

PHẠM CÔNG THIỆN,

THẦN ĐỒNG NGÔN NGỮ TRIẾT HỌC

 Bài Viết: MẶC LÂM

Phạm Công Thiện sinh năm 1941 tại Mỹ Tho. Học vấn của ông là cả một bí ẩn. Tuy chưa bao giờ có một mảnh bằng Tú tài trong tay nhưng ông đã được nhiều trường Đại học nổi tiếng thế giới mời giảng dạy, trong đó có trường đại học Yale của Mỹ và Sorbonne của Pháp.

 Ở lứa tuổi chưa tới 16, ông đã trở thành cộng tác viên trẻ nhất của tạp chí Bách Khoa. Năm 15 tuổi, ông đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Phạn và tiếng La Tinh. Tất cả những điều này đều được chứng nhận qua các vị học giả và các chuyên gia ngôn ngữ học của nhiều trường Đại học.

 Ngoại ngữ là một chìa khóa giúp ông mở nhiều cánh cửa triết học Tây phương để ông thai nghén và cho ra đời tác phẩm “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” được ông viết khi chưa tới 19 tuổi. Tác phẩm này đã đưa tên tuổi ông trở thành một hiện tượng mà thời gian ấy người ta gọi là thần đồng Triết học của Việt Nam.

 Nhà thơ Viên Linh, chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Khởi Hành, người theo sát với Phạm Công Thiện từ những năm đầu tiên khi ông xuất hiện cho biết những năm đầu khi ông nổi tiếng tại Việt Nam:

 “Thật ra Phạm Công Thiện nổi tiếng trước khi đi ngoại quốc. Theo như tôi nhớ Phạm Công Thiện được Hòa thượng Thích Minh Châu cử đi du học vào năm 1969 vì Phạm Công Thiện đã nổi tiếng từ năm 1965! Phạm Công Thiện nổi tiếng từ cuốn “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”, cuốn này in năm 1965 tức là 4 năm trước khi ông ra nước ngoài.

 Tôi còn nhớ khi ra cuốn sách thì tôi đã có dịp làm việc với Phạm Công Thiện vài tháng vào năm 1964 khi nhà thơ Nguyễn Vỹ xuất bản nhật báo Dân Ta. Trước đó nhà thơ Nguyễn Vỹ xuất bản tạp chí Phổ Thông thì Thiện đã viết trên Phổ Thông rồi. Khi tờ Dân Ta ra đời thì Nguyễn Vỹ nhờ Phạm Công Thiện về cộng tác lúc đó thì chúng tôi gặp nhau.”

 Một kỳ tích thứ hai của ông là năm 18 tuổi, Phạm Công Thiện được mời giữ chức giảng viên môn Triết học của Viện Đại học Vạn Hạnh. Sau đó không lâu ông phụ trách soạn thảo tất cả chương trình giảng dạy cho tất cả phân khoa viện Đại học Vạn Hạnh. Từ năm 1968 - 1970, giữ chức trưởng khoa Văn học và Khoa học Nhân văn của Viện. Tại đây ông cũng là sáng lập viên và chủ trương biên tập của tạp chí Tư Tưởng.

 Khai phá Thiền Tông Phật giáo

 Thật ra tác phẩm quan trọng nhất của ông là tập tiểu luận mang tên “Bồ Đề Đạt Ma, tổ sư Thiền tông”. Tác phẩm này thật sự mở một cánh cửa cho Phật giáo Việt Nam khai phá mảnh đất Thiền Tông lúc bấy giờ còn quá mới mẻ đối với người Việt, với hơn 80% theo Phật Giáo. Nhà văn Viên Linh nói về tác động của tác phẩm này đối với Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ:

 “Một trong những tác phẩm song song với “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” là cuốn “Bồ Đề Lạt Ma, tổ sư của Thiền Tông” in năm 1964. Phật giáo sau khi thay đổi chế độ thì phong trào Thiền Tông lan tràn khắp nơi từ người lớn cho tới người trẻ. Phạm Công Thiện tôi gọi là nhóm Vạn Hạnh, hay là những trí thức trẻ xuất gia, mà lớp đi tu trẻ lúc ấy thì gồm có Phạm Công Thiện, Tuệ Sĩ, Chơn Phát, Nguyễn Hữu Hiệu, Chơn Hạnh, Trần Vân Tiên, Ni cô Trí Hải và Bùi Giáng. Bùi Giáng thì nhiều tuổi hơn cả.

 Nhóm này xông vào các tờ báo như tạp chí Tư Tưởng, hay là Giữ Thơm Quê Mẹ của ông Nhất Hạnh, cũng như những nhà xuất bản, dịch thuật nhiều tác phẩm Phật giáo như Hessman Hess hay Suzuki. Trong lớp đó thì Phạm Công Thiện và Tuệ Sĩ là hai người có thể nói là dẫn đầu. tất cả những người này đều rất trẻ lúc ấy chỉ khoảng 24 -25 tuổi đã đóng góp rất nhiều cho văn hóa Phật Giáo Việt Nam thời kỳ đó.

 Sau khi cuốn sách đó ra thì nổi lên một phong trào sinh viên đi tìm hiểu những khai phá mới sau một thời gian dài 9 năm dưới chế độ cũ. Khi thay đổi một chế độ thì chế độ kế tiếp người ta đi tìm cái gì phản nghịch lại quá khứ hay mở mang những chân trời mới.

 Thiện chỉ là một thành phần trẻ xung kích lúc ấy chứ đầu não của sự thay đổi văn hóa lúc ấy là những bậc thầy ở Đại học Vạn Hạnh. Lúc đầu thì có Thượng tọa Nhất Hạnh, giáo sư Nguyễn Đăng Thục là những người ảnh hưởng nhiều nhất vì trước khi có đại học Vạn Hạnh thì những tờ báo Phật Giáo lúc ấy từ trường Cao đẳng Phật học ra gồm ông Nhất Hạnh, Hòa thượng Thanh Từ, Thanh Kiểm là những bậc thầy của Phật giáo lúc ấy.”

 Nhà thơ

 Bên cạnh những tác phẩm nặng về tư tưởng Phạm Công Thiện còn làm thơ và tác phẩm nổi tiếng khác của ông là “Ngày Sanh Của Rắn” đã được nhà xuất bản An Tiêm ấn hành lần đầu năm 1966 tại Sài Gòn, tác giả đã từ chối không cho tái bản trong suốt hơn 20 năm sau đó mà không cho biết lý do.

 Tập thơ chia làm 12 khúc và khúc thứ 8 có lẽ hay và dễ cảm thụ nhất. Bài này đã được phổ thành ca khúc “Tôi đứng trên đồi mây trổ bông” (Lê Uyên Phương).

 Khúc thứ 8

 mười năm qua gió thổi đồi tây

tôi long đong theo bóng chim gầy

một sớm em về ru giấc ngủ

bông trời bay trắng cả rừng cây

gió thổi đồi tây hay đồi đông

hiu hắt quê hương bến cỏ hồng

trong mơ em vẫn còn bên cửa

tôi đứng trên đồi mây trổ bông

gió thổi đồi thu qua đồi thông

mưa hạ ly hương nước ngược dòng

tôi đau trong tiếng gà xơ xác

một sớm bông hồng nở cửa đông

 Nhà thơ Viên Linh thì lại tâm đắc với một bài thơ mới sáng tác sau này của Phạm Công Thiện, tựa bài thơ mang một từ vỏn vẹn là “Đi” mà ông đọc sau đây:

 Đã đi rồi đã đi chưa?

Thượng phương lụa trắng đong đưa giữa trời

Đã đi mất hẳn đi rồi

Hà phương tịch mịch trùng khơi phong kiều

Chuẩn hình thiên đỉnh cô liêu

Lửa bay thành ngọn hồng điều mật ngôn

Đại huyền biến ngưỡng phiêu tôn

Tiền thân Tây Tạng nhập hồn chiêm bao

Áng nga nga nặng bạch hào

Một luồng sáng rực chiếu vào trái tim.

 Đây là bài thơ nói về sự ra đi của chính mình của Phạm Công Thiện. Bài thơ này mới in vào năm 2009 trong tập thơ mới nhất của anh tên “Trên đỉnh cao tất cả là im lặng.”

 Nhận xét về cá tính của Phạm Công Thiện nhà thơ Viên Linh nói:

 “Phạm Công Thiện là người Mỹ Tho trong nhóm bạn trẻ đó đều là người Bắc và Trung nhưng anh có tài và là người đa năng nên được rất nhiều người yêu mến. Phạm Công Thiện là người mang lại sự phát triển cho Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn sau năm 1963.”

 Chúng tôi xin mượn lời của nhà thơ nói về mình như một lời từ giã ông, một nhân tài ngôn ngữ, tư tưởng và thi ca Việt Nam:

 “Cái gì làm tôi không hiểu nổi, cái ấy làm tôi say sưa yêu dấu.” và:

 “Tôi yêu những gì khó khăn, những gì khô khan, những gì rắc rối. Tôi yêu đọc những quyển sách khó hiểu và nặng nề. Tôi thích đọc những quyển tiểu thuyết khô khan lượm thượm dài dòng, tôi ưa những cánh cửa đóng kín, những hàng rào cao.”

 Chú Thích (thêm) :

 I. Quan Điểm (của Phạm Công Thiện):

 Phạm Công Thiện không coi mình là một triết gia, dù mọi người vẫn gọi ông với chức danh đó. Trên ngòi bút của mình, ông đã phủ nhận tất cả các triết gia: "Ngay đến Heraclite, Parmenide và Empédocle, bây giờ tao còn xem thường, tao coi ba tên ấy như là ba tên thủ phạm của nền văn minh hiện đại, chưa nói đến Socrate, đó là một tên ngu dại nhất mà ta đã gặp trong đời sống tâm linh của ta". Ông coi những nghệ sĩ như Goethe, Dante như những thằng hề ngu xuẩn. Và đối với Sartre, Beauvoir: "Nếu họ muốn xin gặp tao, tao sẽ không cho gặp mà còn chửi vào mặt họ". Về thiền tông: "Tao đã gửi thiền tông vào một phong bì tối khẩn đề địa chỉ của bất cứ ngôi chùa nào trên thế giới". Về dạy học và các văn sĩ cùng thời: thời gian tao học ở Hoa Kỳ, tao đã bỏ học vì tao thấy những trường đại học mà tao học như Yale, Columbia chỉ toàn là nơi sản xuất những thằng ngu xuẩn, ngay đến giáo sư của tao chỉ là những thằng ngu xuẩn nhất đời, tao có thể dạy họ hơn là họ dạy tao...Bây giờ nếu có Phật Thích Ca hay Chúa Giê Su hiện ra đứng giảng trước mặt tao, tao cũng không nghe theo nữa. Tao là học trò của tao và chỉ có tao làm thầy cho tao. Tao không muốn làm thầy ai hết và cũng không để ai làm thầy tao. Còn các văn sĩ ở Sài Gòn, đọc các bài thơ của các anh, tôi thấy ngay sự nghèo nàn của tâm hồn anh, sự quờ quạng lúng túng, sự lặp đi lặp lại vô ý thức hay có ý hức: trí thức "mười lăm xu", ái quốc nhân đạo "ba mươi lăm xu", triết lý tôn giáo "bốn mươi lăm xu".

Ngoài ra cũng có thể nhắc đến những quan niệm của ông về tiếng Việt: "Không cần phải đọc Platon, Aristote, Kant, Hegel hay Karl Marx, không cần phải đọc Khổng Tử và Lão Tử, không cần phải đọc Upanishads và Bhagavad Gita, chúng ta chỉ cần đọc lại ngôn ngữ Việt Nam và nói lại tiếng Việt Nam và bỗng nhiên nhìn thấy rằng tất cả đạo lý triết lý cao siêu nhất của nhân loại đã nằm sẵn trong vài ba tiếng Việt đơn sơ như CON và CÁI, như CHAY, CHÁY, CHÀY, CHẢY, CHẠY và còn biết bao nhiêu điều đáng suy nghĩ khác mà chúng ta đã bỏ quên một cách ngu xuẩn.” “Việt là gì? Tính là gì? Hai câu hỏi này không phải là câu hỏi; tất cả mọi câu hỏi đều có sẵn mọi câu trả lời. Tính và Việt làm cho những câu hỏi trở thành những câu hỏi; Tính và Việt là chân trời mở rộng hé mở cho con người nhìn thấy tất cả những câu hỏi và đồng thời tất cả những câu trả lời, tất cả những gì có thể hỏi được và đồng thời tất cả những gì có thể trả lời được trên cuộc đời này, từ thượng cổ đến hiện tại, từ số không đến vô số và vô hạn.

Nước Việt Nam đang bị tàn phá đến cùng độ, dân Việt Nam bỗng nhiên và tự nhiên được tính phú cho chịu đựng và thể nhận tất cả nỗi điêu đứng đau đớn cùng cực của thế kỷ 20; năm chục năm cuối cùng của 2.000 năm sau Thiên chúa giáng sinh là thuộc về Mệnh của Việt Nam: tất cả những xáo trộn hỗn mang kinh hoàng nhất của nhân loại đang đập vào người Việt Nam; hố thẳm mở rộng và sâu; máu lửa từ trời đất đổ xuống và vọt lên; tất cả những khám phá vĩ đại nhất của văn hóa loài người từ mấy ngàn năm nay bỗng nhiên và tự nhiên được thể nhận tựu hình tại Việt Nam (Cộng sản và Tư bản; Phật giáo và Thiên chúa giáo, tôn giáo và chính trị, quốc tế và dân tộc, cơ khí và con người, lý thuyết và hành động, truyền thống và cách mạng, thiên mạng và nhân mạng, tự do và nô lệ, bạo động và bất bạo động, chiến tranh và hòa bình, thực tại và ảo tưởng, sự thật và giả tạo, nhập thế và xuất thế, xã hội và tu viện; cá nhân và quần chúng, lý tưởng và tuyệt vọng, mộng và thức, sống và chết).”

 Quan điểm về Triết học và Khoa học:

“Triết lý là hỏi; triết học là hỏi về hỏi; trong chữ triết khi chiết tự, ta thấy có chữ khẩu; khẩu là miệng, miệng dùng để nói; nói là hỏi (và trả lời). Không bao giờ trả lời nếu không ai hỏi. Chỉ trả lời là khi có hỏi đi trước. Triết lý là hỏi; khoa học là trả lời. Khoa học là gì? Đây là câu hỏi: khoa học không thể trả lời câu hỏi này, bởi vì đây là câu hỏi về khoa học; mà bản chất của khoa học là chỉ trả lời; mà trả lời thì chỉ trả lời khi người khác hỏi; khoa học không thể hỏi khoa học, vì hỏi khoa học là phản bội khoa học, là không phải khoa học. Phận sự triết lý là hỏi; phận sự khoa học là trả lời. Người ta thường nói: Hỏi tức là trả lời. Câu ấy có nghĩa là triết lý bao trùm cả khoa học. Triết lý là bóng tối; khoa học là một ngọn đèn cầy yếu ớt; bóng tối vây phủ ngọn đèn, nhưng bóng đèn leo lét bắt đầu chiếu rọi ánh sáng yếu ớt lên không gian. Ánh sáng trả lời bóng tối. Bóng tối kêu gọi ánh sáng; bóng tối hỏi, ánh sáng liền trả lời. Ánh sáng chỉ là ánh sáng là nhờ vào bóng tối; ngược lại, bóng tối không thể nhờ vào ánh sáng; vì nếu bóng tối là nhờ vào ánh sáng thì ánh sáng sẽ phá hủy bóng tối và bóng tối sẽ không còn gọi là bóng tối nữa. Bóng tối là bóng tối, nhưng ánh sáng chỉ là ánh sáng là nhờ bóng tối; mặt trời chỉ là mặt trời là nhờ nằm trong không gian đen tối vô tận.

Triết lý là hỏi.

Triết học là hỏi về hỏi.

Khoa học là trả lời câu hỏi của triết lý, nhưng không thể trả lời về câu hỏi về câu hỏi; vì nếu trả lời về câu hỏi về câu hỏi, thì sẽ bị triết lý hỏi về câu trả lời của khoa học về câu hỏi về câu hỏi; lúc bấy giờ khoa học lại trả lời nữa; nhưng câu trả lời này lại bị hỏi nữa. Cứ như thế mà đi mãi, từ hỏi đến trả lời, từ trả lời đến hỏi, cho đến vô tận, vô cùng không bao giờ dứt được, áp dụng infinitum.

Như thế cả triết lý và khoa học đều rơi vào ngõ cụt, ngõ bí, không lối thoát.”

 II. Tác phẩm (của Phạm Công Thiện):

 Thơ, văn, tiểu luận

Tiểu luận về Bồ Ðề Ðạt Ma, tổ sư Thiền tông (1964)

Ý thức mới trong văn nghệ và triết học (1965)

Ngày sinh của rắn (1967)

Trời tháng Tư (1966)

Im lặng hố thẳm (1967)

Hố thẳm của tư tưởng (1967)

Mặt Trời không bao giờ có thực (1967)

Bay đi những cơn Mưa Phùn (1970)

Ý thức bùng vỡ (1970)

Ði cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất (1988)

Sự chuyển động toàn diện của tâm thức trong tư tưởng Phật Giáo (1994)

Những bước chân nhẹ nhàng trở về sự im lặng

Triết lý Việt Nam về sự vượt biên (1995)

Làm thế nào để trở thành một bậc Bồ Tát sáng rực khắp bốn phương Trời (1998)

Tinh tuý trong sáng của đạo lý Phật Giáo (1998)

Trên tất cả đỉnh cao là Im Lặng

Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử

Khai ngôn cho một câu hỏi dễ hiểu: Triết học là gì?

Ðối mặt với 1000 năm cô đơn của Nietzche.

Dịch

Jiddu Krishnamurti, Tự do đầu tiên và cuối cùng (1968)

Martin Heidegger, Về thể tính của chân lý (1968)

Martin Heidegger, Triết lý là gì? (1969)

Friedrich Nietzsche, Tôi là ai? Đây là người mà chúng ta mong đợi! (1969)

Nikos Kazantzakis, Rèn luyện tâm thuật huyền linh (1991)

Theo Nguyễn Hưng Quốc:

 " .....Điều đặc biệt là sự ngưỡng mộ của nhiều người đối với Phạm Công Thiện không hề chấm hết sau năm 1975. Ở hải ngoại, nhiều người vẫn tiếp tục đọc Phạm Công Thiện, đã đành. Ở trong nước, nhiều người, đặc biệt trong giới cầm bút, vẫn tiếp tục say mê Phạm Công Thiện. Trong những lần về Hà Nội, chuyện trò với bạn bè, một trong những điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là có khá nhiều nhà văn và nhà thơ ở miền Bắc cũng đọc Phạm Công Thiện rất kỹ. Và thích. Họ nhắc đến Phạm Công Thiện với một sự ngưỡng mộ không hề che giấu. Nhớ, có lần, một nhà thơ ở Hà Nội nói với tôi: Một tài năng và nhân cách kiểu như Phạm Công Thiện không hề có và không thể có ở miền Bắc. Trong cả tài năng lẫn nhân cách của ông đều có cái gì ngang tàng, phóng đãng, bạt mạng, bay bổng, vượt ra ngoài mọi khuôn phép và quy ước của xã hội, những điều hoàn toàn bị cấm kỵ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong giới cầm bút ở Sài Gòn hiện nay, sự ngưỡng mộ đối với Phạm Công Thiện lại càng rõ. Theo kinh nghiệm của tôi, từ những cuộc tán gẫu về văn nghệ với bạn bè ở Sài Gòn, nhắc đến bất cứ một tên tuổi nào trước 1975, ý kiến mỗi người mỗi khác; chỉ duy nhắc đến Phạm Công Thiện là dễ được mọi người đồng tình với nhau nhất. Đồng tình về sự uyên bác của ông. Đồng tình về cái tính nghệ sĩ hiếm có của ông.

Tuy nhiên, điều tôi chú ý và muốn nhấn mạnh nhất là: sự ngưỡng mộ giành cho Phạm Công Thiện kéo dài khá nhiều thế hệ. Những người đã trưởng thành trước 1975 ngưỡng mộ ông ư? Thì cũng dễ hiểu. Cả những người trưởng thành sau 1975, trong một hoàn cảnh lịch sử và khí quyển văn hóa hoàn toàn khác trước, vẫn say mê và đánh giá rất cao Phạm Công Thiện.

Trong loạt bài tưởng niệm Phạm Công Thiện trên Tiền Vệ mới đây, chúng ta bắt gặp nhiều lời phát biểu đầy ưu ái dành cho Phạm Công Thiện. Như, nhà thơ Inrasara (sinh năm 1957), trong bài “Chớp lửa thiêng Phạm Công Thiện & tuổi trẻ tôi”: “Tôi tin tưởng vào thiên tài. Với tôi, Phạm Công Thiện là thiên tài.” Hay, như nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh (sinh năm 1958), trong bài “Cái rực rỡ của tuyệt vọng”: “Trong tưởng tượng của tôi, nếu chọn 10 tác giả của Sài Gòn trước 1975, trong số đó sẽ có Phạm Công Thiện. Còn nếu chọn 5, trong số đó vẫn có Phạm Công Thiện. Và nếu chỉ chọn một, thì người đó, dĩ nhiên là Phạm Công Thiện.”

Trong bài thơ “Những con đường và cơn mưa phùn tháng ba”, viết khi nghe tin Phạm Công Thiện qua đời, nhà thơ Khương Hà (sinh năm 1985) mở đầu bằng mấy câu:

em đừng nói với tôi về rừng

buổi chiều hình như đã mưa

cơn mưa phùn mãi mãi ở lại chứ không bay đi như cơn mưa phùn của Thiện

em cũng đừng nói với tôi về mặt trời

vốn không bao giờ có thực

Tôi chú ý đến mấy chữ “Cơn mưa phùn của Thiện”.

Tôi đã nghe khá nhiều nhà thơ trẻ ở Sài Gòn, thuộc lứa tuổi của Khương Hà (sinh sau năm 1980), mỗi lần nhắc đến Phạm Công Thiện đều chỉ nói “Thiện” như thế. Không có họ, không có tên đệm gì cả. Chỉ “Thiện” thôi.

Lúc đầu, thoạt nghe, thú thật, tôi hơi có chút ngỡ ngàng. Nhưng sau, ngẫm lại, lại thấy hay. Nó có cái gì gần gũi, thân mật và thân thiết lạ lùng. Một sự gần gũi, thân mật và thân thiết, thứ nhất, có tính xuyên-thế hệ, và thứ hai, không hề có ở bất cứ một người cầm bút nào khác. Không ai gọi Nguyễn Tuân là “Tuân”, Mai Thảo là “Thảo”, Thanh Tâm Tuyền là “Tuyền”, Trần Dần là “Dần”… như vậy.

Chỉ có Phạm Công Thiện.

Một mình Phạm Công Thiện."

Nhà Thơ, nhà nghiên cứu Triết học, Giảng sư về Thiền tông Phạm Công Thiện qua đời hôm 8/3/2011 tại Thành Phố Houston, Texas, hưởng thọ 71 tuổi.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=360603

QUÁN BÊN SÔNG Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 21 Apr, 2012, 19:22 | Truyện Mang Viên Long | (42 Reads)

Q  U Á N   B Ê N   S Ô N G

   Truyện Ngắn

  MANG VIÊN LONG

 

            Ngồi ở chiếc bàn dưới gốc cây hoa Sứ của quán café “Lối Về” nhìn ra con sông tĩnh lặng mầu xanh thẩm phía bên kia kè đá; những cồn cát vàng hiền từ ngoằn ngoèo phía dưới với những khóm cỏ hoe vàng, con đập cao mầu trắng như con đường nối liền hai bờ sông, từng đoạn thác nước đổ lấp lánh dưới ánh nắng buổi sớm. đàn cò chao nghiêng lượn lờ trên nền trời xanh trong từ lũy tre dài bao quanh ngôi làng yên bình và im lìm –  lần nào đối diện với cái khung cảnh ấy - Đệ cũng cảm thấy có thêm điều mới lạ như từ trong sâu khuất của lòng mình có thêm một niềm an vui mơ hồ đang dấy lên, mở rộng - mong manh nhưng lan tỏa, dần dần che khuất nỗi buồn của đời sống cô quạnh mà đã gần ba năm anh ngơ ngác lặng lờ nơi căn nhà ẩm mốc và trống trải của dì Cát khi trở về lại nơi đây. Đệ đã trở về nơi đây – quanh quẩn trong ngôi nhà dì Cát như một sự cùng đường - một bến bờ phải neo lại cho đám rong bèo bồng bềnh truân chuyên  …

         Từ ngày cùng Tiểu Hương ngồi vào chiếc bàn nầy bên tách café buổi sớm chủ nhật còn lãng đãng sương mù – nhìn dòng sông trời mây quang đãng tĩnh lặng. chiếc cầu cũ mười lăm nhịp trơ vơ hoang phế một thời dập dìu ngựa xe, một thời khói lửa đạn bom thù hận -- Đệ đã cảm thấy mình được gần gũi hơn với một chút trời xanh, một chút nắng ấm, một chút hy vọng – nên vẫn thường lui tới quán một mình khi Tiểu Hương còn ở thành phố. Thức dậy sớm –  sau lúc ra vườn chăm sóc thửa rau, cụm cây Trinh nữ hoàng cung, hàng cây đu đủ,  giàn bầu bí, mấy khóm hoa – Đệ hối hả tìm đến chiếc quán đơn sơ, trống trải bên con sông này như tìm về chốn an bình chờ đợi cho dù đôi khi bước chân vào khoẳng sân thỉ sự yên vắng vẫn mênh mông, và tiếng nước từ con đập phía trên rào rào vang lại đều đều, êm ả như lời ru thủy chung cần mẫn bên làng quê còn say giấc ngủ.

            Gần ba năm – hơn một ngàn ngày đêm nhìn thời gian lờ lửng trôi qua đời mình, Đệ càng nhận ra nỗi cô đơn vô vị tẻ lạnh của cuộc sống phù du ngắn ngủi  – nhưng ý tưởng sẽ viết tập “ Hồi Ký Một Đời Người” đã bao lần thôi thúc trong anh như nỗi ám ảnh không rời vẫn chưa có thể bắt đầu. Đệ đã quyết định rời Saigon về lại quê ngoại khi nhận được kết quả xét nghiệm, chính cũng vì sự thôi thúc réo gọi  về một tập hổi ký sẽ hình thành như niềm an ủi, niềm vui cuối – trước khi anh rời khỏi cõi tạm nầy vỉ bênh ung thư dạ dày vào cuối giai đoạn một. Thật ra, Đệ cũng đã bắt đầu nhiều lần – đã viết những trang đầu vào cuốn vở dày mang theo vào những lúc không thể ngôi yên chịu đựng nỗi cô quạnh hiu hắt quanh quẩn bên mình; nhưng, vài hôm sau – lại xé bỏ! Đọc lại, anh cảm thấy những dòng chữ trở nên khô cứng, sao mà trần trụi vô nghĩa đến thế?  Những khổ đau đã quấn vào đòi anh ngay từ ngày anh vừa mới bước đi chập chững. Khổ đau và lận đận tiếp nối theo từng bước chân, từng năm tháng bơ vơ. Ngồi mà nhớ lại mọi cuộc truân chuyên trong căn nhà vắng tênh buồn thãm đìu hiu nầy qủa thật quá sức chịu đựng của Đệ. Bước chân vào ngôi nhà đã bỏ hoang của dì Cát. Đệ đã có cảm giác – ước mơ của anh về tập hồi ký thật khó thực hiện ở đây. Ngày còn ở Saigon – cảnh náo nhiệt quay cuồng có làm anh bực bội, không yên – nhưng, nó không dìm anh xuống sâu dần nỗi cô độc và dằn vặt như ở đây. Sự trống trải đến tê cứng từng ngày đã khiến Đệ thêm hoang mang, ngo ngác cho phận mình. Cứ mỗi khi nhìn mặt trời ngã dần sang hướng Tây -  ánh nắng chiều vàng vọt, cánh đồng vắng người, hoàng hôn thấp dần dưới chân núi mờ xa – Đệ lại cảm thấy lo sợ! Đêm dài dặt sẽ đến. Bóng tối kín bưng của bao kỷ niệm. những lo toan, mớ suy tưởng mộng mị chập chùng, sẽ kéo dài theo giấc ngủ  rời rạc của anh gần mười hai giờ…

              Từ ngày gặp Tiểu Hương – lạ thay, Đệ đã cảm thấy khung cảnh quanh anh như tươi mát, gần gũi, thân thiết hơn, Anh bắt đầu nhớ đến những tháng ngày cùng San la cà trên bờ cát dưới chân đập Bẩy Yển của đoạn sông Côn chảy qua cầu Phụ Ngọc. Nhớ những chiều bơi lội dưới dòng nước trong mát, những cánh diều chấp chới, những đêm có trăng tắm xong cùng rủ nhau vào soi bẻ bắp, hay hái dưa gang trộm. Tất cả như vừa mới xảy ra, còn đó của thời tuổi trẻ hồn nhiên…Và, điều lạ lùng – Đệ đã miệt mài viết trở lại những trang hồi ký đã xé bỏ - đều đặn năm ngày trong tuần – cho đến bốn giờ chiều ngày thứ bảy. khi nhìn thấy bóng Tiểu Hương trên chiếc xe Kawaki mầu xanh thẫm gập ghềnh trên chiếc cầu ván bắt qua dòng mương nhỏ vào làng, thì mới cẩn trọng xếp lại bỏ vào ngăn tủ sách.  Đã gần nửa năm nay- buổi chiều thứ bảy Tiểu Hương ghé thăm anh quay vòng như chiếc kim đồng hồ chính xác, khiến Đệ ngày càng tin yêu Tiểu Hương, khuất lấp bao nỗi ưu tư dằn vặt về nàng. Dù là năm cuối với bao lo toan, bận rộn – nhưng Tiểu Hương chưa bao giờ sai hẹn vào mối sáng sớm chủ nhật nơi chiếc quán nhỏ bên dòng sông quê dịu hiền này. Nàng không hứa thủy chung. Không thề son sắc. Nhưng cứ nhìn vào nét mặt như chiếc hoa vạn thọ hiền từ tươi tắn mối lần gặp lai, nghe giọng nói chơn chất nặng tình từ đầu ngỏ, và đón nhận từng gói quà nhỏ từ bàn tay nặng tình của Tiều Hương như ngày nào hân hoan nhận quà từ tay mẹ đi chợ về… ( Đệ vẫn thường nhờ mẹ nàng làm giúp cho hủ muối mè đen, hủ muối đậu phụng hay hủ tương đặc biệt mà bà thường bán vào những ngày mồng một và rằm – nhờ Tiểu Hương mang đến vào cuối tuần. )

              Tiểu Hương đến bên đời anh rất tình cờ và khó hiểu - như cơn gió lạ buổi sớm, khi Đệ ghé chợ Cây Bông mua ít vật dụng cần thiết cho mỗi tuần. Nàng phụ mẹ bên quày hàng nhỏ, bày biện đơn sơ những thứ lỉnh kỉnh cho người dân ở các làng bên cạnh không có điều kiện về thị trấn – trong căn lều tranh dựa lưng vào vách nhà hàng xóm. Điều khiến Đệ để mắt đến Tiểu Hương không hề dính dáng đến một chút tình cảm yêu thương nào, mà do sự ngạc nhiên – dúng vậy, một nỗi ngạc nhiên như nhìn thấy một con chim lạ vừa sà xuống một vòng tình cờ trước mắt mình: Nàng có nét mặt đầy đặn, đôi mắt biết nói, và đôi má có hai “đòng tiền” biết cười! Nàng lầm lũi bên người mẹ già nơi chiếc quán đủ thứ lỉnh kỉnh (mà rất cần thiết cho đời sống thôn dã) xuềnh xoàng trong bộ áo quần vải hoa bạc mầu, mái tóc buột túm phía sau bằng sợi dây vải …Lần gặp hôm ấy – dường như Đệ chì nói chuyện với mẹ Tiểu Hương thôi – cũng chỉ là những chuyện thăm hỏi bâng quơ, những giao hẹn nhờ vã mẹ nàng giúp cho vài món mà anh không tự làm được để đủ sống trong tuần. Tiểu Hương vừa phụ bán hàng thay mẹ, vừa lóng tai nghe – thỉnh thoàng quay lại hỏi : “ Anh cũng là dân ở đây sao?” hay “ Anh đã xa quê từ bao giờ? “…Những câu hỏi trống không, như đã thân tình của Tiểu Hương khiến Đệ cảm thấy có thêm chút niềm vui nơi quê ngoại đã gần hai mươi năm cách xa…

 

           Khi Đệ vừa được hai tuổi, một lần liều lĩnh theo chuyến xe buýt Nam Long xuống thị xã để mua vài loại thuốc cho con đang bệnh nặng – ông Trần - cha Đệ, bị chận ở trạm kiểm soát cầu Bà gi vì không đủ giấy tờ chứng minh “hợp lệ quân dịch”. Khoảng hai tuần sau – mẹ Đệ được tin ông đã bị chuyễn lên trung tâm huấn luyện Lam Sơn. Và sau mấy tháng thụ huấn – ông Trần đã trở về thăm nhà với bộ áo quần rằn ri đính huy hiệu chiếc đầu hổ, mũ bê rê mầu nâu đỏ. Được gần vợ con một tuần, ông lại vội vã đón xe đò đến trình diện bổ sung cho một đơn vị ở Pleiku. Trong bốn năm lang bạt khắp vùng núi rừng cao nguyên – ông Trần chỉ được phép về thăm nhà vài lần ( những lần quá nhớ trốn về một hai hôm không tính). Bà Sương – vợ ông, vẫn miệt mài trong chiếc quán dựng tạm bên đường để bán các loại xôi ( xôi bắp, đậu phụng, đậu xanh, đậu đen), gần ngôi trường tiểu học để lo cho Đệ, bù đắp sự thiếu vắng bàn tay chung lo của chồng trước đây.

          Một lần về phép – ông Trần quyết định ở lại luôn bên gia đình khi vừa thoát chết ở mặt trận Dakto trở về! Cuộc chiến tương tàn thãm khốc ngày đêm đã cho ông thấy rõ giá trị vô giá của đời sống yêu thương bên gia đình nhỏ bé thuở nào. Ông khao khát sự yên ổn bình thường như tất cả mọi người biết bao!  Ông đã bấm bụng chạy vạy nhờ làm lại thẻ căn cước lớn tuổi tốn kém gần một lượng vàng trong cảnh gia đình đang túng bấn. Yên ổn bên vợ con được hai năm –  ông lại bị toán kiểm tra “đào binh” đến tận nhà xét hỏi vào giữa đêm, và bắt đi. Lần nầy, ông bị đưa vào tạm giam ở quân lao Nha trang chờ ngày ra tòa quân sự vùng 2 chiến thuật.  Ở nhà, bà Sương sinh bé gái – ông Trần nghe tin, giành đặt tên cho con là “Khánh Nhật”. Khánh nhật – ngày vui, dù còn trong vòng tù tội, và cuộc sống rẩy đầy bất trắc phía trước- ông vẫn cảm thấy sự có mặt của con là một “ngày vui” nhất cho đời mình.

          Ra tòa. ông Trần được trả về đơn vị cũ đang có mặt ở vùng Thạch Hãn nóng bỏng đạn bom. Năm đó, Đệ vừa thi đậu vào lớp sáu trường trung học đệ nhất cấp Dáo Duy Từ. Với chiếc xe đạp “đầm” của dì Cát cho mượn - Đệ đã đi về trong ngày, vì không có điều kiện ở nhà trọ như lũ bạn cùng xã. Rạng sáng một ngày đầu năm  – tiếng súng. đạn pháo – và cả máy bay đã bất ngờ ùa đến - cày xới cả ngôi làng nhỏ bé của Đệ. Bà Sương và Khánh Nhật đã bị chết ngay trong ngôi nhà sập đổ vì pháo khi dang ngủ say . Đệ thoát chết. vì đêm trước đã về ngủ lại nhà dì Cát cho dì vui!  Dì Cát - chỉ một lần không được toại nguyện khi người yêu học cùng lớp bị động viên nhập ngũ, vừa ra trường với chiếc lon chuẩn úy còn mới tinh đã bị chết trong trận dụng độ đầu tiên ở chân đèo Phù Ly; dì không mở lòng với bất cứ ai tìm đến nữa. Dì xinh xắn, dịu hiền và mời gọi như đóa sen hồng giữa đầm – nhiều ong bướm dập dìu săn đón, nhưng dì vẫn lặng lẽ chối từ…Có lẽ, tình yêu đầu đời là biến cố lớn nhất và không bao giờ quên của đời người chăng?

          Dì Cát đã thay bà Sương lầm lũi trong chiếc quán nhỏ bên đường để tiếp tục lo cho Đệ ăn học ở thị xã khi gia đình nhận được giấy báo của đơn vị cho biết ông Trần đã bị mất tích trong một cuộc giao tranh kéo dài suốt ba ngày đêm ở Thạch Hãn sau ngày bà Sương và Khánh Nhật mất chưa được một tuần. May mắn ít khi đến được hai lần, mà tai họa thì luôn luôn rình rập là viễn cảnh của con người trong cuộc chiến dai dẳng bao năm! Ba năm ở bậc đệ nhị cấp dù vẫn nhận được phần tiền dành dụm ít ỏi của dì Cát gởi xuống để trả tiền cơm nhà trọ – Đệ vẫn nhận làm thêm nhiều việc như dạy kèm. chở thuê học sinh cấp một đi học, và phụ dọn hàng cho các hiệu buôn dọc phố để trang trải mọi chi phí…

          Năm 78 – theo lời khuyên giải tha thiết của dì Cát – Đệ miễn cường nộp đơn xin thi vào đại học y thành phố nhu ý nguyện của cha anh. Phòng nhận đơn tuyển sinh của huyện đã gởi giấy cho gọi anh đến – yêu cầu chuyễn trường thi vì   “diện” của anh – không thể dự thi vào trường này. Đệ viết lại đơn – chuyễn thi vào trường nông nghiệp theo gợi ý của người trường phòng tuyển sinh. Kết quả Đệ đã đậu vượt điểm chuẩn đến 7 điểm. nhưng một lần nữa – đơn xin cắt khẩu nhập học của anh bị từ chối vì “Con của ngụy quân bị mất tích. Lý lịch không rõ ràng”.

            Nấn ná ở lại quê được hai năm làm đủ mọi nghề, mọi việc dể kiếm sống – Đệ quyết định xin dì Cát vào Saigon…Hơn mười năm lưu lạc lận đận nơi phố thị xa lạ rộng lớn rẫy đầy phiền nhiễu – cuối cùng, Đệ cũng đã được người giám đốc công ty thiết bị xây dựng nơi anh đang làm thư ký giúp đỡ cho một tờ hộ khẩu ở thành phố. Cùng vào năm ấy – anh thi đậu vào trường đại học kiến trúc. Người giám đốc tốt bụng vẫn cho anh nhận lương, theo học– nhưng làm việc vào ban đêm và các ngày nghỉ.  Ngày tốt nghiệp, Đệ ưu tiên được nhận làm việc cho công ty cú – và được ông giám đốc mai mối cho người cháu gọi bằng chú đang làm thủ quỹ của công ty ông. Được quen biết Hạnh ngay từ ngày đầu vào làm việc cho công ty, nhận tháng lương đầu tiên từ tay Hạnh– nên Đệ không cảm thấy đột ngột và xa lạ. Anh chấp thuận đề nghị của người giám đốc ân nhân năm xưa với hy vọng sẽ về quê đón dì Cát vào chung sống. Nhưng, chỉ ở bên Đệ được một năm, khi mọi dự tính chưa định hình rõ ràng  – Hạnh lại được gia đình thu xếp cho đi du học ở Mỹ.  Là con duy nhất của gia đình cán bộ cấp cao ở thành phố - Hạnh luôn được cưng chìu. và ngoan ngoãn đi theo sự dẫn dắt của cha mẹ như một con cừu non mà không có chút phản ứng cần thiết nào.  Hơn ba năm chờ đợi – ba năm có quá nhiều biến đổi bất hạnh cho anh – trong nỗi đau lớn nhất – là dì Cát qua đồi ở tuổi 56. Rồi một hôm, Đệ được cha Hạnh mời đến để “thương lượng” về chuyện Hạnh sẽ định cư lâu dài ở Mỹ - và có thể sẽ xin ly hôn với anh…

 

               Giọng bà Thìn – mẹ Tiểu Hương, trầm nhỏ, đều đều một cung bậc – như vọng lại từ chốn xa xôi nào của bóng tối ký ức già cỗi: “  Cậu biết không,  ở tuổi mười sáu, tôi đã bước vào cuộc đời khổ đau – kéo dài hơn hăm mốt năm, và cho đến hôm nay -  đã trên sáu mươi  sáu tuổi… ”.

          Bà kể lại ngày đám cưới của bà được vội vàng tổ chức ở sân đình làng vào buổi chiều tối với người cán bộ nông hội huyện, để rồi hai ngày sau – chồng bà được lệnh đi dự cuôc họp khẩn của cán bộ toàn khu V ở Bồng Sơn.  Trở về nhà. ông chỉ có đủ thời gian thu xếp mọi việc gia đình để chuẩn bị chuyến đi xa vào giữa năm 54 ở bến càng Qui nhơn…

          Hai mươi mốt năm chờ đợi với bao nhớ thương và đọa đày của cuộc sống mới; bà vẫn lặng lẽ, cam chịu và mong ngóng tin ông. Bằng bặt bao năm – bà vẫn không hề nhận được tin tức gì để bám víu hy vọng đợi chờ (ngoài những “tin đồn” từ những người dân trong xã mách lại.

) nhưng vẫn bền lòng son sắc cho đến ngày…

          Tháng 8 năm 75 – bà nghe những người đồng hương từ miền Bắc trở về cho biết chồng bà đã chết năm 67 trên đường vào nam. Lần theo sự chỉ dẫn từ những bạn  cũ của chồng năm xưa – năm sau, bà đã tìm ra  Hà nội để rồi chỉ nhận được tấm giấy ghi nhận ngày tháng năm mất  của chồng – “liệt sĩ Nguyễn Văn Ca”…

           Ba năm sau. ở tuổi bốn mươi mốt – bà Sương đã chấp nhận lời cầu hôn của người bạn học năm xưa đã thầm yêu quý bà – nay đã là một thương binh. Và năm 81 – bà Sương sinh bé Tiểu Hương – lại bắt đầu một cuộc gian truân mới…

           Đệ lặng lẽ châm thêm một điếu thuốc, lặng lẽ thở khói – nhìn lơ lửng ra con đường vắng vẻ chói chang ánh nắng, khô khốc, ngộp ngạt  của ngày đầu hè. Khu chợ dã vằng hoe trong nắng. Con đường như cong lên trong cái nóng hừng hực đổ lửa. Nhìn cảnh chợ hoang vắng, nhìn những mái lều tranh, tôn, vải bạt xiêu vẹo, nhìn cái trống trải im lìm của hai dãy nhà bên đường – Đệ thở dài: “ Đời thiếm và em Tiểu Hương cũng khổ thật! “.

-         Tội nghiệp con Hương – bà thì thầm, thiếm có giấy chứng nhận “ gia đình liệt sĩ”, nhưng nó không được chia sẻ cùng thiếm chút nào lại còn bị nhìn ngó, cư xử khác thường! Tình thương yêu dâu thể phân biệt phải không cháu”.

-         Rõ ràng là vậy rồi! – Đệ bổng cao giọng. cuộc sống vốn đã có sẵn mầm mống khổ đau – thêm những phân biệt, thù hằn, chia rẻ - càng làm cho dời người thêm khôn đốn thôi, thiếm à! Đệ vừa an ủi bà Thìn, cũng vừa an ủi cho nỗi bất hạnh của chính mình bấy lâu.

Nhìn bà Thìn dưa chiếc khăn đang vắt ở cổ xuống lau vội những hạt nước mắt bất chợt lăn dài xuống gò má – Đệ cười:

-         Cuộc đời là vậy thôi thiếm ơi! Biết đến bao giờ con người mới hết lòng thù hận. tranh gìành, để được gần gũi đằm thắm bên nhau …

Bà Thìn ngước lên – thoáng nhìn Đệ, giọng phân vân:

-         Đời thiếm không dài – thiếm biêt, nhưng chỉ lo cho cuộc đời con Tiểu Hương – cháu ạ! – giọng bà vẫn đều đều đến buồn bã – sau ngày nó ra trường rồi sẽ ra sao?

-         Hơi sức nào mà thiếm lo quá xa vậy? – Đệ nhếch cười, rồi đâu cũng vào đấy thôi! Giọng anh to rõ - như cuộc đời của cháu đây. có khi nào cháu lại tưởng tượng ra được cái ngày trở về một mình hôm nay?

Bà Thìn im lặng.

Đệ lại lấy thêm một điếu thuốc gắn lên môi như muốn đốt cháy dần nỗi buồn đau đang thao thức trong anh…

           

                - Em đã sáng chưa vậy?

              - Chưa !- Tiêu Hương cười, à…em không bao giờ ăn sáng mà!

              - Xưa nay vẫn vậy sao? Hay vì làm biếng?

              - Dạ ! nàng che miệng cười, nhưng nhìn thấy hai đồng tiền lún vào đôi má đầy đặn thật rõ – Đệ cũng biết Tiểu Hương đang rất vui – nhà nghèo mà anh?

               - Anh có đọc ở đâu đó một lời khuyên “ Hãy ăn sáng như một ông hoàng, ăn trua như một ông vua – và ăn tối như …một ăn mày!” – Đệ cười, có lẽ rất đúng đó em!

                -  Ăn sáng và ăn trưa như thế thì …đào đâu ra mà ăn chứ? – Nàng lại cười thoải mái – lời khuyên ấy có lẽ chỉ thích hợp với người giàu sang quyền chức thôi anh à!

                - Dĩ nhiên là bà con mình còn nghèo – không được như ”ông hoàng, ông vua” thì cũng phải…ăn cho no chứ? Như em vậy – bênh đau có “chừa” người nghèo ra không? Hay chỉ để dành tiền mà nuôi cho bác sĩ thêm mập ra và các hiệu thuốc tây thuốc bắc ngày càng thêm giàu?

              Tiểu Hương hớp từng ngụm nhỏ café sữa như thường lệ - hướng tầm mắt nhìn xa ra phía con đập đang rào rào bọt nước trắng xóa và khu xóm lặng lẽ bên kia sông. Một vài chiếc xe tải chở đất cát rầm rì qua cầu bê tông mới được xây lại kiên cố từ năm 2003 bên bờ phía dưới cây cầu cũ. Đệ nhìn hai chiếc cầu song song – cách nhau khoảng một trăm mét, nhận ra điều khác biệt: Cây cầu cũ từ thời Pháp thuộc qua bao lần bị phá sập vì bom và mìn. khẳng khiu. xiêu vẹo, trơ vơ như thân người già nua gầy gò cạn kiệt nguồn sống… Bổng Tiểu Hương quay lại – nhìn Đệ, reo lên: “ Anh có thấy con cò ở dưới chân đập không?”

-         Có! - Vừa nói, Đệ gắng nhìn theo hường Tiểu Hương – nhưng sao lại chỉ một con?

-         Con cò lẻ bạn mà anh…

-         Cò thường bay từng đàn, đi từng tốp, đậu từng cặp…nhưng sao con cò này lại chỉ một mình vậy?

-         Dâu phải bao giờ cũng có “đủ đôi, đủ đàn” anh?

-         Trông nó đứng im, lặng lẽ một mình bên chân đập – thật buồn…

           Đệ chợt nhớ đến lời thơ của người bạn ở Saigon đã nhắn qua máy cho anh ( anh ta vẫn thường nhắn thơ cho Đệ chứ không nhắn tin bình thường) : “ Đất- trời còn vẫn có đôi/ Cớ sao anh mãi đơn côi – một mình? “ –  mỉm cười.

-         Anh đang cười em sao?

-         Không phải! – Đệ cười lớn, anh cười nhà thơ lãng đãng của anh ở Saigon kia mà! Ngẫm nghĩ một lúc, anh đọc chậm rải cho nàng nghe: “ Đất - trời còn vẫn có đôi / Cớ sao anh mãi đơn côi – một mình!”…

-         Anh đã trả lời sao?

-         Chưa - Anh cười hồn nhiên, anh dốt thơ mà! À, hay em trả lời  giúp anh đi – cô giáo tương lai!

-         Bằng thơ?

-         Dĩ nhiên phải vậy rồi – chỉ cần 2 câu thôi! Ông nầy là thi sĩ cơ mà!

           Tiểu Hương sau phút đắn đo – nét mặt nàng bổng sáng lên:

-         Tạm thời như vầy – nàng lấy giọng, anh nghe có “lọt lỗ tai” không nhé: “ Lẻ loi bởi tại duyên trời/ đơn côi vì đất bời bời tang thương!”!

-         Được rồi! Vậy cũng đúng y chang ý của anh mà!

       Đệ không ngờ cô con gái mà bà Thìn nhiều lần nhắc đến như một “mẫu người khác thường” lại có một tâm hồn rất bình thưởng nhạy cảm. tinh tế đến vậy. Thuở bé, khi Tiểu Hương vừa lên ba – cha mất vì vết thương ở ngực của ông có mảnh đạn (hay bom?) chưa lấy ra được ngày đêm hành hạ - cô đã làm cho bà rất vất vả để nuôi nấng dạy dỗ vỉ cái tính lầm lì ngang bướng hơn cua! Tự mình làm, và quyết định mọi thứ - ngay cả chuyên ăn ngủ, sinh hoạt, học hành.  Anh nhìn Tiểu Hương với ánh mắt cảm phục lẫn xót thương ngùi ngùi. 

-         Này em - Đệ lên tiếng, nghe em đọc thơ – anh chợt nhớ tuần trước cũng tại chiếc quán này, tình cờ gặp một người đàn ông trung niên cũng đang ngồi nhâm nhi ly café  buổi sớm bàn bên kia. Thấy ông ta hí hoáy viết, rổi đưa mắt nhìn xa xăm lên đập nước. bầu trời , những áng mây…

-         Ông ấy là ai?

-         Anh chưa quen biết mà!

-         Rồi thế nào?

-         Lúc sau, ông ta bổng nhiên nhìn anh – rôi mỉm cười. rồi sang ngồi cùng bàn với anh…

-         Để làm gì vậy?

-         Ông ta muốn đọc cho anh nghe bài thơ mới vừa sáng tác ấy mà!

-         Anh còn nhớ không?

-         Dĩ nhiên là ông ta đã tự tay chép lại – gởi tặng anh một tò..

-         Anh cho em xem thử - được không?

-         Dĩ nhiên là được rồi! – Đệ cười thoải mái - Thơ là của chung mà!

     Đệ lấy từ túi áo ra quyển lịch bỏ túi, lôi tờ giấy nhỏ bằng nửa bàn tay được xếp làm bốn, trao cho Tiểu Hương. Nàng vui vẻ mở tờ giấy ra – chăm chú đọc: “ Em cò lẻ, anh chắc gì không lẻ?/Đời mãi đi tìm một chút ấm trong mơ/ Rồi chiều đến, em về hàng tre bến đợi/ Anh mãi buâng khuâng trong gió cuốn mây tròi”(1)

-         Hà hà…dù là ở đâu -đúng là đời sống luôn luôn cần đến thơ phải không Tiểu Hương?

       Nàng im lặng. Khẻ gật đầu…

 (1) Thơ Bùi Hòai Vân

 MANG VIÊN LONG

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=360168

TRANG THƠ ĐÓN MỪNG PHẬT ĐẢN & NHIỂU TÁC GIẢ
mangvienlong | 17 Apr, 2012, 05:43 | Bài viết của bạn văn | (359 Reads)

          

               P H Ậ T  Đ Ả N,

            NGÀY CỦA NIỀM TIN VÀ HY VỌNG

( Tạp chí vÔ ƯU số 47 - Kỷ niệm ngày Phật đản- PL 2556)

            

        Bài viét: Mang Viên Long

       

                Ngày Đức Phật thị hiện đản sinh đã được ngưỡng vọng gọi bằng nhiều tên khác nhau – bóng bẩy thơ mộng thì đó là “ Ngày Nở Hoa Cuộc Đời”, hay chí thành tri ân thì “ Ngày Lành Của Nhân Loại”, “ Ngày Của Sự Sống Bắt Đầu” …

           Nhà thơ Chơn Ngữ đã gọi ngày Rằm Tháng Tư là “Ngày của niềm tin & hy vọng”:

                 “… Trăng Rằm bát ngát giữa trời

                     Sáng soi khắp cõi – thập loài chúng sinh!

                     Niềm tin bừng giữa lòng mình

                     Bao tia hy vọng, bình minh sẽ về…”

          Nhà thơ Hạnh Phương cũng đã có cùng cảm nhận trong niềm tin yêu vô bờ ấy nhân ngày Phật đản sinh, bởi vì – chính từ ngày Đức Thế Tôn ra đời - loài người đã được an lành sống trong niềm tin & hy vọng giữa bê khổ vô minh đen tối -  cho một tương lai an lạc miên viễn của đời mình:

                  “Nỗi bước Bụt đản sinh

                    Mỗi hoa sen thơm ngát

                    Và mỗi bước chúng mình

                    Niềm tin yêu dào dạt

                …Mỗi chúng sanh tự tại

                    Hít thở khí trong lành

                     Mở lòng vô quái ngại

                     Liền thấy Bụt đản sanh! “

                  ( Ngưỡng Vọng Đản Sanh”

          Võ Phụng Tiến “ Càm Niệm Ngày Phật Đản” qua hỉnh ảnh của Đóa Vô Ưu tinh khiết ngời sáng niềm tin & an lạc bằng  bài thơ thất ngôn bát cú sâu sắc & ngát tình:

                   “ Vô Ưu báo hiệu một mùa Xuân

                       Hoa quý ngàn năm nở một lần

                      Thế giới ba ngàn đầy phước lạ

                       Ta bà bốn cõi hết mê tâm

                       Diệu âm tán thán, Trời cung kính

                      Thiên nhạc tung hô Phật giáng trần

                       Hồng ngọc lung linh ngời sắc báu

                       Hoa Đàm mở hội – dượm Từ ân! “

            Từ niềm Tin Yêu & Hy Vọng khởi xuất từ ngày Đức Thế Tôn đản sinh – nhân loại đã được soi sáng con đường dẫn đến sự “diệt khổ” để giải thoát mọi khổ đau – cùng nhau hướng về bến bờ của An Lạc. Triệu Nguyên Phong đã phần nào bày tỏ được mối quan hệ mật thiết giữa “ Đạo & Đời” trong bài thơ nhiều đoạn – VHT xin được trích giới thiệu một đoạn trong vườn hoa của chúng ta:

                   “…Bao nhiêu năm ấy

                          Đạo – Đời

                         Ánh vàng rạn chiếu một trời sáng trong

                          Sắc son tâm nguyện nối vòng

                          Tay trong tay với nỗi lòng khát khao!(..)”

             Một trong những mối quan hệ gắn bó giữa “ Đạo & Đời” từ nhiều thập kỷ chính là ngôi “ Chùa Quê” thân yêu, gần gũi – với biết bao kỷ niêm êm đẹp của một đời không thể nào quên. Với cách bày tỏ rất riêng-  người thơ Trần Minh Nguyệt đã ghi lại cảm nhận một cách nhẹ nhàng & thắm đượm đạo vị trong bài lục bát tứ tuyệt:

                      “ Chùa quê lộng ánh trăng thanh

                         Rằm vui lễ hội Đản sanh - Cha lành

                         Em theo lối nhỏ cùng anh

                         Vào chùa lễ Phật – long lanh nụ cười!”

              Cùng với “ Niềm Tin Ánh Đạo” – Hữu Cần đã bộc bạch chân thành:

                     “…Niềm vui ấy lan nhanh khắp cõi

                           Ánh Đạo Vàng tiến bước – vững tin

                            Duyên lành đâu chỉ cầu xin

                            Phát tâm hạnh nguyện – niềm tin dẫn đường”

               Hồ Thị Sương “ Mừng Ngày Phật Hiện” :

                     “ Phật hiện – nguồn cội thiết tha

                        Tình thương mở rộng bao la cõi Người

                        Từ Bi rạn rỡ, đẹp tươi

                        Phước lành cho khắp cõi người khổ đau”

               Hòa nhịp cùng niềm vui chung của người con Phật trên khắp hành  tinh – NS Thích Nữ Diệu Quả  cũng đã một lần nữa khẳng quyết niềm tin & hy vọng nhân ngày “ Phật Đản “ :

                        “ …Con kính ngưỡng đấng Từ Bi vô lượng

                               Cứu muôn loài thoát khỏi mọi đau thương

                                Bậc Y Vương – trong tất cả y vương

                              Nhà khoa học đứng đầu trong khoa học(..)”

                   Đào Phước Giao  với “ Búp Tay Con Niệm Phật Đà” rất chí tình & thi vị:

                         “ Búp tay con niệm Phật Đà

                            Hồn thanh thoát lạ - dịu hòa khổ đau

                            Ngoài trời hoa lá xôn xao

                            Luân hồi mấy kiếp, nhiệm mầu đổi thay! “

                    Với “ Hoa Tình Từ Bi” – Ngọc Ninh đã tâm sự:

                          “ …Nửa đời sống kiếp phù sa

                              Nửa đời còn lại hồn ta phiêu bồng

                              Cuối cùng về với cội nguồn

                              Nương thuyền Bát Nhã dẫn đường thảnh thơi”

                    Cảm nhận về ngày Phật đản sinh đã được thi nhân ghi lại thật vô cùng phong phú – mỗi câu, mối lời – là niềm tin yêu, sự tri ân và ngưỡng vọng vô bờ của người con Phật đối với vị Cha Lành kính yêu. Với một đoạn thơ ngắn – Võ Bá đã bày tỏ khá đầy đủ  cảm nhận về ngày vui trọng đại này:

                            “ Đản sinh

                               Phật hiện giữa đời

                               Mười phương khai hội

                               Đất trời hào quang

                               Chân Như tỏa ánh Đạo vàng

                               Từ Bi phổ độ vô vàn chúng sanh! “

                    Chúng ta lại thành tâm tường nhớ ngày ĐứcTừ Phụ ra đời giữa cõi Ta bà vô minh điên đảo khổ đau – chỉ để dạy về “ Khổ & diệt khổ” – dần dắt người con Phật tìm về với bến bờ “ Giải thoát & An lạc” cùng niềm tin & hy vọng…

                   Nhân ngày vui chung dưới ánh Đạo Vàng của Đức Từ Phụ - chúng tôi xin được gởi đến Quý thân hữu & đạo hữu lời cầu chúc : “THÂN TÂM THƯỜNG LẠC & VẠN SỰ KIẾT TƯỜNG! “

                 

Mang Viên Long

     

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=359469

ĐÓN MỪNG NGAY PHẬT ĐẢN PL 2556 : Trang Thơ HẠNH PHƯƠNG
mangvienlong | 14 Apr, 2012, 16:43 | Bài viết của bạn văn | (176 Reads)

     

NIỀM TĨNH LẶNG

 

Bên đài hoa sen trắng

Trông thấy ánh đạo vàng

Bên niềm vui tĩnh lặng

Thấy Phật tỏa hào quang


Yêu người mơ thấy Phật

Ngưỡng Phật thấy ngần xinh

Ba mưoi hai tướng tốt

Từng giây phút đản sinh


Mỗi tay chấp hoa sen

Mỗi vào chùa mô Phật

Ngập ngụa giữa bùn đen

Mỗi thăng hoa diệu mật


Cứ mỗi mùa khánh đản

Quán niệm Phật trong mình

Lâm tỳ ni bỉ ngạn

Hoa ưu đàm ngần xinh


Phật trỏ tay chỉ trời

Trời xanh biếc khơi vơi

Phật mỉm cười trỏ đất

Đất nâu bỗng rạng ngời

 

Phật hóa thân em bé

Tim mẹ ngát hương thiền

Phật hóa thân con trẻ

Vua Cha mừng lòng  yên


Thầm nghe giữa lòng mình

Mười phương Phật đản sinh

Kia hình hài máu mũ

Thảy thảy đều quang vinh


Thầm nghe tôi là em

Lắng nghe em là mẹ

Mỗi mỗi là hoa sen

Mưa lâm thâm lá hẹ


Bên đài hoa sen trắng

Lại thấy vương miện vua

Chuyển luân vương tối thắng

Ngoài được mất hơn thua

 

Đức Vua Pháp dạy mình

Tứ đại thực là xinh

Năm uẩn mà tối thắng:

Vì vậy: Phật đản sinh


Thầy Ba Cõi hằng khuyên

Mười phương thuần tịnh độ

Niệm Phật - tự phòng hộ

Pháp tánh hiện chân nguyên


Bên đài hoa sen trắng

Thấy bản thể chân như

Nghe pháp âm thù thắng

Hùng lực đại bi từ

                                       

   HP 

     Trầm hương Khánh đản

 

 Sớm nay trời ửng nắng hồng

  Lời chim hót - tiếng ca trong ngọt ngào

  Hải triều âm dậy dạt dào

  Hỏi ra mới biết Phật vào cõi hương

 

  Sớm nay nhân thế triêu dương

  Tin vui truyền khắp mười phương đất trời

  Vinh quang hạnh phúc cõi người

  Ca tì la vệ rạng ngời pháp thân

 

  Rằng nghe Linh thoại ngàn năm

  Ưu đàm hoa nở  trăng rằm tỏa hương

  Viên thành diệu sử một chương

  Đản sinh Văn Phật ơi hương ơi trầm

 

  Trời xanh hiện cát tường vân

  Trần gian xuân sắc thanh tân diệu kỳ

  Mười phương một niệm Tam quy

   Chân như hiện bóng từ bi cát tường.

 

  Hạnh Phương

 

 

 

Thơ Hạnh Phương

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=359146

NHÀ THƠ LUÂN HOÁN PHÁC HOẠ MANG VIÊN LONG ( Thơ)
mangvienlong | 10 Apr, 2012, 22:55 | Bài viết của bạn văn | (101 Reads)

NHÀ THƠ LUÂN HOAN

 

PHÁC HOẠ MANG VIÊN LONG

          Trên trang Wesite "vuong chiếu" do Nhà thơ Luân Hoán

          chủ biên- ngày mồng 8 tháng 4 năm 2012 đã có đăng bài

          thơ " Phác Hoạ Mang Viên Long" ( và các bài viết về MVL

          & hơn 10 tác phẩm - bài viết của MVL...) - trong loạt bài

          " phác thảo chân dung tác giả" trên vuông chiếu...

          Xin phép Anh được "mượn " bài thơ để chia sê cùng

          Bạn đọc nơi đây!

          Và chân thành cám ơn Anh đã dành cho tôi & anh em VN

          những tinh cảm quý báu - chân thành!

          MVL

       

Phác Ha Mang Viên Long

Luân Hoán

     

mất cha trong bụng mẹ

mất mẹ sau tám năm

hạt giống của trời đất

vẫn vươn mình thong dong

 

không chỉ là bút hiệu

tên khai sanh đàng hoàng

ôm dòng họ rất lạ

trôi ấm theo thời gian

 

ra đời năm bốn sáu

âm lịch nhằm Giáp Thân

đất An Nhơn Bình Định

nở thêm một loại bông

 

xuất thân trường sư phạm

nổi danh xứ Qui Nhơn

về Tuy Hòa cấy chữ

khởi mạch viết xuôi dòng

 

từ nhiều vạt văn hóa

nghệ thuật lẫn văn chương:

Bách Khoa, Văn, Ý Thức...

những tao nôi miền Nam

 

ông hình thành tốt đẹp

bốn tập truyện liền nhau

cộng một tập tùy bút

trước một chín bảy lăm:

 

Trên Đỉnh Mù Sa... rộng

Mùa Thu Trống Trải... buồn

Phố Người... ai mong ước

Có Những Mùa Trăng... thơm

 

lòng nhà văn kết nụ

Đóa Hồng Cho Người Yêu

một loại hoa bất tử

bằng ngôn ngữ thương yêu

 

mạch văn được tiếp nối

ba mươi mốt năm sau

bảy năm bảy tác phẩm

thật sung mãn đều tay

 

tất cả đều truyện ngắn

mỗi truyện nhiều cảnh đời

hơi thở từng nhân vật

nhiều góc cạnh phận người

 

nay tuổi đã sáu tám

thua tôi gần ba năm

nhưng mặt mũi trẻ lắm

nói chi cái tấm lòng

 

tôi tin ông còn viết

còn in tiếp dài dài

nghề văn vẫn dành ghế

cho  ông, một văn tài

 Luân Hoán

  chữ nghiêng tên các tác phẩm trước 1975 của MVL

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=358606

CON CHIM NHỎ TRONG LÔNG Truyện Nggắn Elena Pullcilo Trương
mangvienlong | 10 Apr, 2012, 19:14 | Bài viết của bạn văn | (25 Reads)

    CON CHIM NHỎ TRONG LỒNG

 

    Elena Pucillo Truong

    Nguyên tác : L’uccellino in gabia

    Của Elena Pucillo Truong

    (Bản dịch của Trương Văn Dân)

 

Ngồi lên cạnh giường, đôi mắt tôi hết nhìn bàn tay khẳng khiu đặt trước bụng đến nhìn chiếc va li nhỏ mà trong đó phải bỏ vào tất cả đời mình.

-                  - Má chọn những thứ cần đem theo, còn việc khác cứ để con lo! Trong tai tôi còn lùng bùng giọng nói thiếu thân thiện, ngạo mạn và không chút kính nể của đứa con dâu lúc mang chiếc vali để tôi thu xếp những thứ cần thiết trước khi dời đến nhà mới.

Vậy là tôi phải vĩnh viễn rời bỏ căn nhà rộng rãi và thoáng mát, nơi mà tôi từng sống như một người vợ được yêu thương và hạnh phúc. Được yêu thương... cho tới lúc chồng còn sống... Còn sau đó... thì tôi sống mà như đã chết... sống như một kẻ lạ mặt trong nhà của mình vì đứa con dâu mới thật là bà chủ, là người quyết định, và bằng thủ đoạn tàn nhẫn và nham hiểm nó còn cướp mất lòng yêu thương của đứa con trai rồi từng ngày, từng ngày nó còn xéo nát từng mảnh tim tôi.

Khó nhọc đứng lên, tôi bước đến chiếc tủ quần áo, cảm giác như vừa mở ra cuốn album với những tấm ảnh vàng vọt bởi thời gian. Bao nhiêu là quần áo! Treo, móc đó mà bấy lâu nay tôi chưa bao giờ đụng tới! Đây rồi, hai chiếc áo sơ mi, hai chiếc quần, một bộ đồ, vài mảnh đồ lót... chỉ có thế mà chiếc vali đã đầy ứ rồi, tôi còn có thể bỏ thêm gì vào nữa?

Nhưng thực ra tôi có cần gì những thứ áo quần! Cái mà tôi cần chính là chiếc khung hình đặt trên chiếc bàn nhỏ bên giường. Bao năm rồi tôi chưng khung hình lên đó để nó là hình ảnh cuối cùng mà tôi nhìn thấy trước khi ngủ và cũng là hình ảnh đầu tiên khi tôi vừa tỉnh dậy. Đứa con dâu khốn nạn có thể lấy đi hết thảy, nhà cửa, quần áo, vàng bạc, con trai... nhưng không thể cướp đoạt những giây phút hạnh phúc của tôi và chồng đứng ôm nhau quay lưng về phía biển trong một buổi sáng rực rỡ ánh mặt trời.

Một khoảnh khắctuyệt vời đã được giữ lại, mãi mãi, và gợi nhớ biết bao kỷ niệm.

Bao nhiêu say mê, bao nhiêu tình yêu đã từng có trong đời tôi! Tôi nhìn tôi trong tấm kiếng khi đóng lại cửa tủ, tuổi trẻ đã đi qua và mái tóc bồng bềnh như mây của tôi cũng đã điểm bạc hồi nào không hay. Trên khuôn mặt nhăn nheo chỉ còn lại đôi chút dấu vết của thời gian đó, màu biển trong mắt, nhưng khi mở ra trước sự thật tôi chỉ thấy bóng tối của nỗi cô đơn.

Hai hốc mắt của tôi vẫn còn xanh nhưng không có chút ánh sáng. Sự thiếu thốn tình cảm đã và đang dồn ép tôi vào giữa những bức tường quen biết ở nhà mình. Không ai đoái hoài gì đến tôi, chẳng ai thèm hỏi ý kiến và chẳng có ai bận tâm là tôi sẽ khổ sở biết bao khi phải sống trong căn hộ của một chung cư  mà chỉ vừa nghĩ đến tôi đã thấy mình ngộp thở.

                                                                        &

Và đúng như vậy, chỉ sau một tháng tôi đã thấy đời sống ở căn hộ ở tầng thứ 15 thật ngột ngạt. Với tôi, đời sống chỉ có ở bên ngoài cửa sổ, dưới đó tôi được nhìn những con người và đồ vật liên tục chuyển động giống đàn kiến hấp tấp, vội vã trước cơn mưa chiều.

Bị giam hãm giữa bốn bức tường, tôi như chết từng ngày, lặng lẽ ngồi cô đơn trên thành giường mà chẳng có căn phòng riêng nào để trú ẩn. Những tiếng động bên kia bức tường là của những người xa lạ, của những người hàng  xóm không quen, lạnh lùng, vô cảm trước những nỗi đau của tôi.

Chẳng biết có chuyện gì xảy ra mà tôi thấy khó thở và không ngủ được. Nhiều đêm tôi mò mẫm đi dọc theo tường nhà, như muốn tìm một lối thoát không hề có. Sự khiếp đảm và kinh hoàng đẩy tôi qua lại giữa những chồng gạch xây cao, như con chim bị nhốt trong lồng đang tuyệt vọng tìm cách vượt qua những chấn song để tìm tự do.

Cũng như chim, ý thức về sự bất lực của mình, tôi đành phải qui hàng, rồi thẫn thờ và mệt nhọc quay lại giường ngủ. Mở to mắt, tôi trừng trừng nhìn bóng đêm rồi nước mắt cứ trào ra, ướt gối. Bằng những ngón tay run rẩy tôi siết chặt cái kho tàng của mình, phút giây chớp nhoáng của niềm hạnh phúc, như thể nó sẽ giúp tôi thoát khỏi nơi đây, giải phóng khỏi những niềm đau.

Bởi tôi chẳng còn gì khác. Đứa con dâu đã vứt bỏ tất cả những gì còn lại trong căn nhà, quần áo, vật dụng, cuộc đời... và sự phiền hà duy nhất mà tôi mang lại cho cô ấy chỉ là một bát cơm... nhưng tôi cũng chẳng còn muốn nuốt... Rồi mọi ngày đều trở nên nhọc mệt, hơi thở mỗi ngày mỗi ngắn, như có ai hay có cái gì đang thít họng, may mà có một ngụm không khí từ cửa sổ tràn vào, tôi nhìn thấy những con người và mọi vật chuyển động như đàn kiến cuồng nhiệt trước cơn mưa, hơi thở mới thoát trong một cơn khò khè.

-Đủ rồi! Con không thể nào sống như thế này được! Con còn phải đi làm và cần phải ngủ! Má phải bỏ cái tật đi lung tung khắp nhà như một mụ điên!

Thằng con trai của tôi đã hét lên như thế.

            Giống tiếng kẽo kẹt từ mấy khúc xương sắp xụm, tôi ngã xệp lên chiếc ghế, toàn thân  như bị  băm vằm vì lời lẽ nhọn hoắc như những nhát dao. Biết bao đau đớn tôi đã sinh ra nó, một đời thương yêu và chăm sóc... thế mà giờ nó không chịu được tôi, xem như một sự phiền hà cần phải loại bỏ. Đó là lỗi tại tôi cưng chiều quá, và giờ thì tôi hiểu là mình vẫn còn có thể làm thêm một điều nữa cho nó. Và có lẽ cũng là làm cho chính mình.

Từ vài ngày qua tôi cảm thấy mình vui, đi đứng bình thường hơn giữa những bức tường và chiếc giường. Thỉnh thoảng trên môi tôi còn nở một nụ cười, nhất là lúc tôi nhớ lại những giai điệu của một bài hát  tình yêu cũ... Lâu lắm rồi, tôi không còn nhớ  trọn lời ca, chỉ mang máng nhớ  điệp khúc nói là mùa xuân đang trở lại... và tôi cũng ước muốn có một mùa xuân mới.

Đêm nay có một vầng trăng tuyệt đẹp trên bầu trời, chỉ có một phần rất nhỏ bị che bởi một sợi mây. Tôi bỏ khung hình vào túi áo, đó là kho tàng của tôi, và từ cửa sổ tôi nhìn xuống thành phố đang ngái ngủ. Tia mắt tôi dõi theo ánh đèn màu đỏ của một chiếc xe hơi dọc theo hàng trụ đèn đường.Yên lặng quá. Từ trên cao ánh sáng chiếu xuống mềm mại như bông làm tôi có cảm giác như mình cũng đang đứng trên một cụm mây.

Chỉ vài giây thôi! Tôi nhoài người, bay qua khung cửa sổ, rơi tự do trong không khí. Trên môi tôi vẫn nở một nụ cười, thật ngọt ngào, để khỏi phải hét lên, sợ làm phiền người khác.

         Elena Pucillo Truong

         Sài Gòn 9-2011



Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=358564

NHỮNG NÀNG TIÊN MÚA HÁT Truyện Ngắn VĂN CÔNG MỸ
mangvienlong | 08 Apr, 2012, 12:51 | Bài viết của bạn văn | (46 Reads)

NHỮNG NÀNG TIÊN MÚA HÁT

 @Truyện Ngắn

   VĂN CÔNG MỸ

 

          Vừa bước vào đã nghe Lão Mập la lớn : “Nè ông ! Ông chuẩn bị giật cái tít thật kêu cho cái “show” này nghen”. Tiếng Lão Mập to ,vượt lên những âm thanh ồn ào của mớ nhạc cụ điện tử ầm ầm náo động cả khán phòng. Phòng trà ban ngày là nơi các ca sĩ tập dượt để chuẩn bị cho một chương trình mới. Ngó trần trụi không có ánh đèn màu, không có những khuôn mặt được make up kỹ càng, không quần là  áo lượt… bộ mặt phòng trà xem chừng khá nhợt nhạt, vô duyên. Những khuôn mặt các cô gái tuy đã dặm lên một lớp phấn vẫn không dấu nổi giấc ngủ kéo dài từ khuya hôm trước đến trưa trật hôm nay.

         Tuấn mỉm cười khi nghĩ đến hình ảnh Lão Mập sẽ nhảy dựng lên và chửi thề vì khoái trá khi  anh sẽ gằn giọng đọc cho lão nghe cái tít của chương trình lần này. Lão Mập thiệt là thằng lắm chiêu. Từ những ngày đầu tiên lôi mấy em ca sĩ nổi tiếng ở phương bắc vào cái thành phố nắng nóng này gây nhiều tò mò cho đám dân chơi mới nổi, đến chuyện vẽ ra cái vụ nhạc 60-70 dụ mấy khứa lão ăn chơi hoài niệm thời hip pi, hip piếc…và chiêu nào bày ra cũng chật ních khán giả.

          Nhớ tháng trước Lão Mập kêu ra quán café máy lạnh ở trung tâm thành phố, không để Tuấn kịp khuấy ly café lão đã vào đề: “Đù, kỳ này tui làm chương trình “độc” chưa từng thấy ở Việt Nam cho ông coi !”.Không đè nén nỗi cảm xúc lão phun luôn: “Tui kéo  mấy con nhỏ hoa hậu, á hậu, mấy con diễn viên, mấy em người mẫu…và cho tụi nó hát. Đù, tui đảm bảo mấy khứa chết chắc !”.Tuấn thắc mắc: “Mấy con đó hát hỏng gì?”.Lão Mập cười hô hố: “Ối xời, ông khờ bỏ mẹ. Lip sync, lip sync  hết.  Hát con khỉ gì! Rồi tui moi “đạn” từ mấy thằng bồ tụi nó, gọi là tài trợ đó. Ông hiểu chưa?”

Lần này chiêu của Lão Mập đúng “độc” thiệt! Sơ sơ ba thằng bồ xin tự nguyện “ tài trợ” ba ngàn ngon ơ. Dĩ nhiên Lão Mập hứa hẹn với từng thằng: ẻm sẽ là cây đinh của chương trình! Sau khi khoe cái vụ tiền “tài trợ” Lão Mập ngó quanh đám nhạc công rồi lên giọng với Tuấn: “ Tui chịu cái tựa quảng cáo của ông đó. Đù, Những Nàng Tiên Múa Hát. Đúng “độc”, ông hơn thằng thi sĩ Quang Ròm nhiều!”. Lão Mập khoái Tuấn từ lúc lão “phát hiện” ra anh có chút năng khiếu về văn chương, chữ nghĩa thông qua việc Tuấn chấp bút viết mấy câu quảng cáo cho mấy chương trình ca nhạc, tỉ như thay vì viết : “Trân trọng kính mời quí vị khán giả đón xem chương trình ca nhạc đặc sắc với sự tham gia….” Tuấn dài dòng văn hoa trích dẫn: “ Tôi là con chim lạ bay đến bên đời ngứa cổ hót chơi. Xin giới thiệu giọng hát trẻ Mỹ Trâm” hoặc : “Các bạn hãy nhắm mắt lắng nghe dòng sông mùa thu chảy chậm…(ý là giới thiệu ca sĩ Thu Hà)”. Cái vụ văn vẻ này thì Lão Mập “nhường” hẳn cho Tuấn. “Để tui còn điều hành đám nhạc công, mấy con ca sĩ chứng chướng này chứ tụi nó, đù…dễ ngươi lắm!”.

               Ngày đã quá trưa, có thêm các cô gái lần lượt bước vô khán phòng. Bữa nay là ngày tổng dượt quan trọng để chạy chương trình y như thiệt. Đám nhạc công hào hứng thấy rõ. Thằng xếp ban nhạc đang nghiêm trọng dặn dò mấy em ca-sĩ-người-mẫu, chủ yếu là diễn chứ còn cái vụ hát thì ráng nhép miệng cho ngon là được rồi. Vậy mà sáng giờ nó cũng vã mồ hôi bắt mấy em hát đi hát lại vì trật nhịp hoài. Lão Mập đang rù rì với Hà  Ân, hoa hậu năm rồi. Khuôn mặt đẹp rực rỡ của Hà  Ân sáng trưng khi nghe Lão Mập đoan chắc nàng sẽ tỏa hào quang trong đêm diễn. Nhưng nàng vẫn ngần ngừ: “Em thấy mặt con Triệu Ngọc tuy buồn nhưng nó  dại dại sao ấy, mà mấy ông anh bảo là nó có nét… liêu giai!”. Dấu ánh nhìn trong cặp mắt kiếng đen, ngồi ở góc phòng Triệu Ngọc  nhìn thấy hoa hậu Hà Ân đang to nhỏ với Lão Mập, thỉnh thoảng hất hất cái đầu về phía mình. Làm ra vẻ không quan tâm, đuôi con mắt vẫn nhìn Lão Mập nhưng khuôn mặt Triệu Ngọc  quay lên sân khấu tuồng như đang xem mấy em người mẫu loi choi tập luyện. Nàng vẫn tự tin cái danh hiệu quốc tế đạt được cách đây hai năm, mà lúc ấy cũng được 10 tờ báo phỏng vấn chứ ít ỏi gì ! Thêm nữa nàng còn vớ được một thằng vũ công nhà nghề ở Mỹ về, nó copy một điệu nhảy ở Broadway hẳn hòi, tập dượt suốt một tuần nay. Rồi còn bộ trang phục giả một tay chơi Hollywood  giá năm nghìn  chớ bèo sao ! Thoạt đầu nghe ngóng hoa hậu Hà Ân  sẽ diễn vở Cô Bé Lọ Lem, Triệu Ngọc nhủ thầm: “Con này dại! Ngu, đi chọn vai Lọ Lem !”. Nhưng khi biết  Hà Ân  sẽ đóng vai cô tiên thì nàng đâm lo vì nghe đâu cái vương miện mà cô tiên Hà Ân đội trên đầu giá chót cũng hai chục nghìn đô ! Một cảm giác gai gai khắp người nàng khi Triệu Ngọc  tưởng tượng nụ cười liên tục sáng chói của Hà Ân  khi nhận những tràng vỗ tay của đám nhà giàu bên dưới.

             Buổi chiều, không khí ngoài đường chẳng dịu đi chút nào. Tuấn mệt mỏi ngồi xem các tiết mục đang diễn ra trên sân khấu, tai ù đi cơ hồ đang xem một cuốn phim câm. Dĩa cơm sườn trưa nay dường như  được tiêu hóa nhanh chóng. Phần dưới bụng nằng nặng, anh chậm chạp bước vào toa-let…nghe bên phòng toa-let nữ rõ mồn một  tiếng hoa hậu Hà Ân  gọi cho thằng bồ: “Anh à, lấy sẵn cho em cái đầm dạ hội mầu xanh ấy nhá…Ở cái tủ cao số bốn ấy…Có chưa, anh?”. Yên lặng một lúc, tiếng Hà Ân  có vẻ nóng nảy: “Sao, không thấy à? Ôi giời, thì cái màu xanh ấy. Sao mày… đần thế, thằng già ? Bà… chán mày lắm rồi !”. Như người bị trúng gió, khuôn mặt xanh lét và với một nụ cười khó tả, Tuấn lảo đảo bước ra khỏi toa-let. Anh nôn thốc tháo những nước và nước ngay trên bậc tam cấp gỗ được đóng bên cạnh cánh gà sân khấu…

 VĂN CÔNG MỸ

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=358200

LỜI RAO NGHẸN NGÀO Ghi Nhận : PN Thường Đoan
mangvienlong | 04 Apr, 2012, 19:07 | Bài viết của bạn văn | (49 Reads)

LỜI RAO NGHẸN NGÀO

alt

Nhà thơ P.N. Thường Đoan kể chuyện: “Tôi chen vào trước quày sách Bách Việt, nơi có rất đông bạn trẻ vây quanh, à ha, quá nhiều sách đại hạ giá, từ văn học trong nước đến văn học nước  ngoài, và đủ thứ thể loại linh tinh khác… Nhưng một thứ tôi quan tâm nhất là mảnh giấy học trò có ghi hàng chữ “ Thơ 2000 đồng”. Không tin, tôi hỏi lại cậu trai đứng bán hàng: - Một tập thơ mà giá 2000 đồng hả em? Cậu trai cười tươi tỉnh: - Dạ, mua đi chị, thơ 2000, truyện ngắn 5000, truyện dịch 5000…Rồi cậu trai chỉ vào từng chồng sách đã được phân ra trước mặt, tôi tối mắt lại khi nhìn thấy những tập thơ, những cái tên mà tôi từng biết họ: Tuệ Nguyên, Đỗ Trí Vương, Lê Vĩnh Tài… Thật đau lòng cho những người làm thơ! Một sự rẻ rúng công khai!”


alt


2000 ĐỒNG MỘT TẬP THƠ ĐÂY…

P.N. THƯỜNG ĐOAN

alt


Tôi dạo qua dạo lại vòng vòng hội sách 2012, đông vui quá chừng, tai điếc đi vì quá nhiều âm thanh chen lấn nhau cố để được chui vào cái lổ nhỉ nhỏ xíu. Chỗ nào thấy đông người thì dừng lại xem, kinh nghiệm đi hội sách những lần trước cho biết, nơi đông người là nơi sách giảm giá thấp nhất.
Đúng y bon!
Tôi chen vào trước quày sách Bách Việt, nơi có rất đông bạn trẻ vây quanh, à ha, quá nhiều sách đại hạ giá, từ văn học trong nước đến văn học nước  ngoài, và đủ thứ thể loại linh tinh khác…
Nhưng một thứ tôi quan tâm nhất là mảnh giấy học trò có ghi hàng chữ “ Thơ 2000 đồng”.
Không tin, tôi hỏi lại cậu trai đứng bán hàng: - Một tập thơ mà giá 2000 đồng hả em?
Cậu trai cười tươi tỉnh: - Dạ, mua đi chị, thơ 2000, truyện ngắn 5000, truyện dịch 5000…, 
Rồi cậu trai chỉ vào từng chồng sách đã được phân ra trước mặt, tôi tối mắt lại khi nhìn thấy những tập thơ, những cái tên mà tôi từng biết họ: Tuệ Nguyên, Đỗ Trí Vương, Lê Vĩnh Tài…
Thật đau lòng cho những người làm thơ! Một sự rẻ rúng công khai!

Mặc dù tập thơ Lê Vĩnh Tài mang tên” Đêm và những khúc rời của Vũ” đã phát hành năm 2008, tập thơ của Đỗ Trí Vương, “Thức ăn của ngày hôm nay”, phát hành 2009, Tuệ Nguyên “Những giấc mơ đa chiều”, phát hành 2009,… Và những tập truyện ngắn chỉ có giá 5000 đồng, như: “Chát” (Từ Nữ Triệu Vương”; “Thế giới trùm chăn” (Hoàng Long); “Người đàn ông có đôi mắt trong“ (Cấn Vân Khánh); “Tí ti thôi nhé” (Trần Thu Trang)… Trong số này, tác giả Cấn Vân Khánh vừa được ChiBooks mua bản quyền tác phẩm với thời hạn 10 năm để xuất khẩu ra nước ngoài.
Chợt nghĩ, giá như trước khi mang sách của các nhà văn, nhà thơ ra bán đại hạ giá ở hội sách, những người có quyền quyết định ở công ty Bách Việt có thể điện thoại cho các tác giả, rằng:
- Tôi bán sách của anh/ chị giá 2000 đồng, 5000 đồng, anh chị có mua lại thì liên hệ, nếu không tôi sẽ bán ra ở hội sách. Lý do: Sách để lâu quá không ai mua; Sách đã  “quá đát”; Không còn kho để chứa sách nữa.
Tôi chắc chắn khi nghe tin này, dù ở xa (như Lê Vĩnh Tài ở Buôn Ma Thuột), như Tuệ Nguyên đang lang thang đâu đó trên vùng Pleiku, Kon Tum…cũng sẽ nhờ bạn bè ở Sài Gòn mua lại hết. 

   alt                             

Tôi chắc chắn, khi nhìn thấy tận mắt sách của mình được rao bán chỉ bằng với giá mua một ly trà đá vỉa hè, vì  trà đá trong các quán cà phê máy lạnh giá 25 ngàn, còn trà đá ở trong khu cà phê các khách sạn từ 5 sao có giá 45 ngàn, nếu lên cà phê tầng 33, ly trà đá có giá 10 đô la Mỹ, thì các nhà thơ ấy sẽ chết đứng như Từ Hải.
Đối xử với các người viết như thế là quá xúc phạm, nếu nói huỵch tẹt ra xử sự quá bần tiện.

Còn nhớ, ở đợt sách giảm giá của Fahasa trong năm 2011, tôi mua được tập thơ của nhà thơ Triệu Từ Truyền với giá 10 ngàn đồng. 10 ngàn đồng mà đã làm đau lòng vì sự bèo bọt, chứ nói chi là 2000 đồng, hay 5000 đồng 3 cuốn. Đến giờ, mỗi khi đi mua sách giảm giá, cứ nhớ mãi gương mặt của nhà thơ Triệu Từ Truyền thất thần xụi lơ nói: - Anh mà biết họ bán vậy anh đến mua lại hết.

Tôi chưa kể đến sách dịch, giá 10 ngàn một cuốn, nhưng nếu trả giá 7 ngàn một cuốn, vẫn mua được, ví dụ: Trước trong và sau cuộc tình (Jean-Marc Parisic); Mười giờ rưỡi đêm hè (Marguerite Duras); Màu xanh trong suốt (Ryu Murakami); Vòng xoáy (J.M.G.Le Clézio –tác giả đoạt giải  nobel Văn học năm 2008)…

Chiều chủ nhật (25.3.2012), một người bạn đồng nghiệp đi hội sách về, đưa ra trước mặt tôi ba tập thơ, cười rất đểu:- 5000 đồng ba cuốn thơ nè…
Thơ ơi là thơ, vậy mà vẫn còn có khối người chạy vạy để in thơ kìa.

alt

PN Thường Đoan
Nguồn: báo Văn Nghệ TPHCM

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=357594

HAI TRƯỜNG HỢP, MỘT CUỘC TÌNH Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 28 Mar, 2012, 13:20 | Truyện Mang Viên Long | (59 Reads)

HAI TRƯỜNG HỢP,

 MỘT CUỘC TÌNH…

 

 Truyện Ngắn

MANG VIÊN LONG

 

              Tại phòng số 2 – cô nhân viên phụ trách phát cho Ngạn và Kiều mỗi người hai mẫu giấy, hướng dẫn sơ lược diền vào các khoảng, rồi chỉ cho họ đến phòng cuối dãy hành lang…

             Phòng “Viết Đơn & Thư” dành cho những kẻ có việc đến Tòa nhỏ hẹp – kê ba dãy bàn ngắn, trống trải đến nổi không có một tấm lịch treo tường. Nó trơ trụi, khô khốc, và lạnh lẽo như những con người đã bước chân vào đây. Vào chốn cuối cùng của tháng năm dằn vặt, muộn phiền để kết thúc một phần đời sống bất hạnh thương đau.

             Khi Ngạn và Kiều bước vào, thì hai cô cậu khoảng trên 25 tuổi cũng lần lược bước ra khỏi phòng. Cậu thanh niên mặc quần jean xanh, áo sọc rằn đỏ vội vã đi về phía phòng số 3 dể nộp đơn, còn cô gái ngơ ngác lửng thửng bước theo sau. Nhìn dáng vẻ lạnh băng, thiểu não và khô héo của cô gái, Ngạn hiểu họ cũng vừa làm công việc giống mình trước đó mấy phút, để chấm dứt một cuộc tình! Chấm dứt cái ngày xe hoa áo cưới nụ cười chúc tụng rộn rã mà có lẽ chỉ vừa xảy ra cách ngày hôm nay đối với họ không lâu!  Họ đã rời xa căn phòng rực rỡ sắc mầu  hương thơm hoa chúc dành cho tân lang và tân giai nhân để bước vào ngồi trong chiếc phòng trống trơn trắng toát này để vĩnh viễn rời xa?

             Kiều ngồi vào chiếc bàn trên – hý hoáy viết vào các khoảng trống, còn Ngạn ngồi ở bàn dưới – lơ đểnh nhìn vào hai tấm giấy đặt trước mặt, chưa viết vội. Anh có ý chờ Kiều viết xong – rồi  mượn ghi lại – cho nhanh.  Trong đầu anh trống rổng, đông cứng như tản đá, chẳng biết phải viết thế nào cho phù hợp với  toan tính của Kiều. Đồng thời, anh cũng nhận ra, trong các khoảng cần điền vào cho hợp lệ - Ngạn cảm thấy đối với anh không có gì khó khăn, phức tạp cả. Anh cũng đã từng nghĩ đến điều ấy từ những tháng trước khi đồng ý cùng Kiều đến đây rồi. Tất cả đều “ không” – bởi vì cái “không” lớn nhất  của đời anh – đã đến từ vài năm nay khi Kiều có ý định theo học lớp sư phạm do người chú đang công tác ở phòng giáo dục gợi ý v ì nàng có đủ điều kiện về bằng cấp và lý lịch! Chỉ cần ly hôn với Ngạn, là mọi chuyện sẽ êm thắm.  Còn nghề may vá sơ sài, riêng lẻ của Kiều đang vắng dần khách cùng với sự ế ẩm của nghề sửa chửa máy may cũ của Ngạn. Trong khu phố đã bắt đầu xuất hiện trở lại vài hiệu may uy tín, ngoài chợ áo quần may sẵn cũng dần được bày bán với giá thấp. Mọi chuyện đã rõ -  anh đâu “có” gì để yêu cầu, đề nghị giải quyết nữa? Mắc nợ ai và ai mắc nợ: Không! Tài sản riêng, tài sản chung: Không. Đòi hỏi gì về con cái: Không! Tất cả anh sẽ ghi theo ý muốn của Kiều để mọi chuyện sẽ được giải quyết nhanh chóng. Sẽ chẳng có một lời yêu cầu hay tranh chấp gì trong buổi chia tay vĩnh viễn này cả. Ngạn cảm thấy mỏi mệt hụt hẩng như đang bị chao đảo trên khoảng không ngờm ngợp nắng và gió.

             “Đã gần 10 năm từng ngày chăm chút cho hai đứa con với bao kỳ vọng dã trở thành số “không” rồi – thì còn gì để đòi hỏi, yêu cầu thêm cho những tháng năm còn lại cuối đời?”. Ngạn đã dửng dưng đồng ý đến Tòa khi nghĩ vậy theo sự bức bách ngày càng khẩn thiết của Kiều (mà trước đây anh đã nhiều lần khướt từ quyết liệt). Ngạn cũng đã thấy rõ tương lai của anh thợ “chuyên sửa chửa máy may” và “bản án vô hình” của anh sẽ chẳng có gì thay đổi tốt đẹp hơn, nếu không muốn nói là ngày càng tồi tệ.

                Đang học năm thứ 3 tại Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ (là tiền thân của đại học Bách Khoa sau 75) ngành công chánh. anh bị dồn vào trại nhập ngũ bởi lệnh tổng động viên năm 72. Giữa năm 73 ra trường, cấp bậc chuẩn úy – binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. Tháng 2 năm 75 bị bắt làm tù binh ở chiến trường Tây Nguyên trên đường rút quân về đồng bằng Phú Yên khi chỉ mặc áo lính chưa được hai năm. Vào trại “tù tàn binh” T53 gần hai năm – bằng thời gian anh ở trong quân ngũ, Ngạn được phóng thích khi đang ở vào tuổi 25.

                Trở lại quê nhà là niềm khao khát của Ngạn trong những  tháng năm sống ở núi rừng thâm u quạnh vắng. Người chị còn lại ở quê là điểm tựa duy nhất cho Ngạn khi anh quyết định ghi nguyện vọng của mình trong đơn xin phóng thích. Đi đâu? Về đâu? - Ngạn thật sự không thể tìm ra một chỗ nào trên quê hương có thể bao dung anh trong lúc này – ngoài quê nhà! Chung quanh anh – nơi nào cũng rẩy đầy bất trắc, đồi thay – lạ lẫm, mờ mịt! Cũng có đôi lần Ngạn nghĩ đến Cẩm – cô bạn đồng môn ngày trước ở Phú Thọ, nhưng hình bóng của Cẩm lại xa vời quá đổi – khiến anh không còn có thể níu kéo lại được gì trước cơn bão đổi thay của thời cuộc. Thôi thì có chết đói – cũng được chết ở quê nhà –  đôi khi quẩn trí cùng đường Ngạn đã nghĩ vậy, để tự an ủi cho quyết định cuối cùng của mình…

               Ngạn đến xin học ngay nghề sửa chửa máy may với người bà con phía chồng của chị để nhanh chóng tìm kiếm cơm áo khi trong túi không còn chút tiền nào dự phòng. Biết không thể ăn bám vào gia đình đang lâm vào cảnh khốn cùng của chị ( bốn con, chồng đang đi học tập. ruộng vườn đã quy hoạch sáp nhập vào hợp tác xã) - Ngạn bán đi chiếc đồng hồ Seiko 5 và chiếc nhẫn vàng tây một chỉ của Cẩm (cô bạn gái học cùng trường - ngành địa chính, đã đeo vào tay anh khi Ngạn rời Saigon lên trại nhập ngũ Trung Tâm 3 ngày nào) để chi đùng trong thời gian học nghề. Vì chỗ thông gia – và cũng vì thương cho tuổi trẻ của Ngạn sa cơ. ông đã nhận lời sau mấy hôm suy nghĩ. Trong tình trạng khan hiếm máy may, không có máy mới – tất cả đều tận dụng các máy đã cũ, mà nhu cầu may mặc bình thường hằng ngày vẫn phải có ( dù bất kì là loại vải nào) miễn không thể để cho cơ thể trống trải – nghề may vì vậy tương đối phát triển nhanh, “kiếm ăn” dễ dàng.

                  Kiều là một “khách hàng” quen thuộc của Ngạn. Nhiều lần Kiều mang máy đến. Cũng có khi Ngạn theo Kiều về tận nhà để sửa máy cho nàng. Chiếc máy Singer cũ của mẹ mua từ thuở mới sinh ra nàng để tự may vá ở nhà, nay được đem ra lau chùi như một bảo vật.  Kiều chỉ còn người mẹ góa bụa dã luống tuổi.  Thấy Kiều hiền từ,  xinh xắn, dễ thương – lại có trình độ  – Ngạn đem lòng thương yêu, gắn bó dễ dàng trong nỗi cô độc và buồn bã ngày đêm của đời mình. Một đám cưới đơn giản nhưng đầy đủ nghi lễ đã được thực hiện ngay sau khi mẹ Kiều đã cho gọi Ngạn đến, tâm sự: ” Ông ấy thoát ly sớm, rồi mất ở Khe Sanh khi mẹ chỉ có một mình con Kiều – nay, mẹ có thêm con trai – mẹ rất vui …”.

               Đứa con trai đầu lòng vừa lên sáu tuổi mới bước chân vào lớp một – Kiều đã nghe theo lời “gợi ý” của người chú – viết đơn xin ly hôn với Ngạn. Anh không chịu ký vào tờ đơn ấy – đến lần thứ ba, kéo dài thêm bốn năm. Kiều sinh thêm bé Ngân – và một năm sau, đã dứt khoát tự mình đến nộp đơn xin ly hôn – không cần chữ ký của Ngạn nữa! Anh trở thành “bị đơn” trong mẫu tự khai ở Tòa sáng nay…

               Kiều nhận lại hai mẫu giấy từ tay Ngạn – đọc lướt qua, rồi  bước ra khỏi phòng như vừa cầm được niêm hy vọng của cái tương lai đang rộng mở phía trước. Kiều đi – cô gái trạc ba mươi tuổi bước vào phòng, lại ngồi ngay vào chỗ của Kiều. Nhìn thoáng vẻ rụt rè – áo quần đơn giản, Ngạn đoán cô ta ở vùng ngoại ô các xã lân cận. Trước khi rời phòng – Ngạn hỏi: “ Cô làm đơn xin Tòa xử điều gì vậy? “

-         Tự nhiên em nhận được giấy đòi của Tòa. Đến đây – mới hay chồng em đã nộp đơn xin ly hôn với em…

-         Anh ấy không  hỏi ý em hay sao?

-         Không!

-         Chồng em đang làm việc gì vậy?

-         Tài xế…

-         Bây giờ em làm gì ở đây?

-         Em điền vào các khoảng trống theo lời dặn của cô phụ trách…Chỉ dơn giản là vậy thôi!

              

         Sau khi đã nộp đơn ở phòng số 3 – và sau đó, theo thứ tự được vào gặp ông chánh án ở phòng số 1 – Kiều đã lập lại lời yêu cầu trước đó, là đề nghị Tòa cho xử ly hôn, càng nhanh càng tốt. Ông chánh án kết luận: “ Nếu không có tranh chấp gì về tài sản, con cái, các khoản  nợ nần – thì chuyện xử ly hôn là đơn giản thôi…”. Theo lời hướng dẫn của ông, Kiều ( là  nguyên đơn) đến phòng số 2 nhận giấy xác minh, để đi đến “ Phòng Thi Hành Án” nằm ở khu phố Hai Bà Trưng nộp án phí . Ngạn bước ra khỏi phòng ông chánh án, lơ lửng bước theo Kiều – ngồi vào chiếc băng chờ ở dãy hành lang, trước phòng số 2. Anh cảm thấy thèm điếu thuốc – thò tay lấy bao thuốc trong túi áo khoát, khẻ khàng rút một điếu – châm lửa…

-         Tiền đây – anh đi nộp giúp án phí đi…

              Ngạn đứng phắt dậy – rút tấm giấy trên tay Kiều – đi vội về phía cầu thang. Lúc Ngạn dắt xe vừa ra khỏi cổng, cô gái  gặp sau cùng ở phòng viết đơn thư chạy vôi ra – gọi: “ Anh ơi! Em không biết đường Hai Bà Trưng, anh cho em đi với…”.

-         Cô gọi xích lô hay xe ôm đi! Ngạn quay lại nhìn, giọng lạnh lùng.

-         Anh làm ơn…

                Cô gái đã đến bên cạnh  – vẻ lo lắng, khẩn khoản:”Anh làm ơn…”

-         Cô lên xe gấp đi!

Xe chạy được một quảng – dừng lại ở ngả tư đèn đỏ - Ngạn quay lại - hỏi: ” Quê cô ở đâu?” – “ Dạ, thôn Đá Trắng, xã Hòa Ninh” – “ Có mấy con rồi mà ly hôn?” – “ Thưa, một đứa, con gái” – “ Mấy tuổi?” – “ Ba tuổi!” – “ Cô làm nghề gì vậy?” – “ Thợ may…”

            Vào đến sân khu “ Phòng Thi Hành Án” – Ngạn tắt máy, bước vội vào bên trong. Được hướng dẫn, anh lên ngay cầu thang – tìm phòng thu lệ phí. Ngạn ngồi ở hàng ghế chờ bên ngoài – lấy thuốc ra hút.

            Đến lượt Ngạn vào nộp tiền, thì cô gái cũng vừa đến – ngồi vào chỗ của anh. Nộp xong – Ngạn lại đoan đả quay về phía cầu thang. Khi đã dắt xe ra đến cổng, Ngạn moi tìm trong các túi áo quần không thấy chiếc chìa khóa xe ở đâu cả! Nhìn quơ quất xuống sàn nhà để xe – anh không thấy gì? Ngạn dựng xe nằm bên cổng, đi dần vào các phòng, thử tìm lại…

-         Anh đang tìm gì vậy? – Cô gái vừa xuống cầu thang, áy náy hỏi.

-         Chìa khóa xe…

-         Đây nầy – cô mở chiếc ví nhỏ cầm tay, rút chiếc chìa khóa trao cho Ngạn – lúc nảy anh vội đi, chỉ tắt máy mà không kịp lấy chìa khóa, em sợ bị mất…

         Ngạn vội thò tay lấy lại chìa khóa – nhưng cô gái đã kịp nắm chặt nó giữa lòng bàn tay mình - Ngạn  dã cầm lấy nắm tay cô gái giây lâu: “ Em sao vậy?” – “ Em muốn anh chở giúp em về…”

  Tháng 3 năm 1991

 MANG VIÊN LONG

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=356454

TRIẾT GIA & BƯỚM Biên Khảo VÕ CÔNG LIÊM
mangvienlong | 26 Mar, 2012, 17:50 | Bài viết của bạn văn | (69 Reads)

      TRIẾT GIA Và  BƯỚM

 

             Biên Khảo:

             VÕ CÔNG LIÊM

 

    Triết gia và bướm -The Philosopher and the Butterfly- qua tựa đề nầy cho ta một cái gì mơ hồ, một hình ảnh vô vi, một cái gì giữa ảo và thực hay chỉ là ’huyền sử ca’ của một người nằm mơ mình là bướm và bướm là mình.

Không rõ chuyện có thực không hay là truyền thuyết, dựng lên hiện tượng cho cái thời Đạo Lão đang thịnh và bành trướng gần như giáo điều của Lão giáo. Ở đây Đạo (Taoism) được xếp vào bộ môn nghệ thuật của người Trung Hoa. Taoism được phát âm Daoism xuất xứ của từ ’tao’ có nghĩa là con-đường và từ đó ’con đường’ là Đạo mở lối cho một triết thuyết; chủ xướng là Lão Tử (Laozi/Lao tzu). Nói đến Lão tử cho ta một hình tượng học về Đạo Đức Kinh. Đạo của Lão Tử có tính cách huyền nhiệm. Lão Tử đi tìm nguồn gốc của sự vật chớ không phải là nguồn gốc vật chất. Vậy Đạo là gì ? Đạo là bản thể của vũ trụ, chỉ là hình thức trừu tượng vượt không gian và thời gian là cơ bản của vũ trụ quan, mối tương quan giữa Đạo và  Người. Lão Tử cũng lý luận giữa Có và Không như nhà Phật, giữa hai triết thuyết gặp nhau của Thường-hằng và Không-Thường-hằng, cũng gần gũi giữa sinh và vô sinh, diệt và bất diệt. Do đó Lão giáo là Đạo huyền nhiệm và kỳ diệu, một ẩn giấu của vô hình mà hữu hình, hữu hình mà vô hình có khác gì giữa sắc sắc và không không ( Bát Nhã Kinh).

Trong Đạo Đức Kinh có ghi: ’Đạo pháp tự nhiên, y dưỡng vạn vật nhi vi bất vi chủ’ (Đạo bắt chước tự nhiên, nuôi dưỡng muôn loài mà không làm chủ). Cho nên Đạo là con đường, tu dưỡng thân tâm để đạt đến Tâm thì gọi là Đức. Tâm-Hư là tâm-hồn-nhiên không vướng đục để tâm trong sạch. Nhờ vậy nhân sinh đi tới hợp nhất với như nhiên , hòa hợp giữa vật và người. Đạo Lão có cái thế của HƯ-VÔ và cái dụng của VÔ-VI. Tịnh làm chủ cái Động. Không là chủ cái Có (Hữu sinh ư vô) Vô-Vi có nghĩa là không động tức ’không làm’mà rồi cái gì cũng làm được. Đạo Đức Kinh lý giải: ” Đạo thường vô vi, nhi vô bất vi” (Đạo dường như bất động, không làm mà thật sự không việc gì là không làm)..

Vậy thì cái đề tài: Trang Tử nằm mơ ’Zhuangzi Dreaming’ là hiện tượng của ’mơ về’ giữa cõi sống và cõi mộng, một trạng thái của hư vô, là một cái gì thuộc về hoán chuyển ’interchangeability’ là vấn đề của tư tưởng, tư tưởng đó là trọng tâm của Đạo. Ấy là sự khai ngộ giữa Đạo và Đời (tức Người).

Nói đến đây lại nhớ danh họa Paul Klee (1879-1940) cho rằng; khi Đạo nhập vào căn cơ bản thể tức kiểm soát được chính mình, là đạt được chân tâm. Ông nói: ’Điều gì thật sự cần thiết, thật sự có lợi ích; ấy là ĐẠO và sau hết nó trở nên hiện hữu tối thượng’

What is really essential, really productive is the WAY- after all, becoming is superior to being.

Tuy nhận xét của P. Klee không động tới cõi vô-vi của Lão nhưng nói đến cái Đạo xử thế giữa Đời và Đạo là một ấn tượng sâu đậm đối với Lão giáo. Nhưng đọc lại bài viết của thi sĩ Bùi Giáng (1926-1998) trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Đọc lên nghe như mơ hồ có pha một chút nghịch ngợm, nhưng đọc vài lần lại thấy cái ‘chân-không-vô-vi’ của Bùi tiên sinh : ‘Đêm tối trần gian đau đớn vô cùng và vẫn bảo trần gian lộng lẫy; ấy là Đạo vậy’ Tưởng đùa cợt nhưng gần quan niệm của Lão Trang. Đạo Đức Kinh viết: Đạo thường vô danh. Phác tuy tiểu, thiên hạ mạc năng thần dã.( Đạo thường hằng không tên. Tuy nhỏ trong cái mộc mạc, không có gì trong thiên hạ hơn nó được).

Hai tư tưởng trên chả ăn nhập gì với Lão giáo cả!  Có; nó bao hàm một triết lý vô vi trong đó. Chạm phải cái vô-thường-hằng của Đạo Lão, mà đôi khi không hay! Chính cái hư-vô ấy là trọng tâm mà Lão Tử muốn nói từ bấy lâu nay…

Trở lại với Giấc Mơ của Trang Tử (Zhuangzi/Chuang Tzu), giữa cái nhận biết  khác biệt đó, nói; một người và một bướm hoặc giữa cái khung cảnh ảo giác (panoramic-scroll) và một cái gì mơ màng dịu êm (modest-size) của đám lá vàng bay lơ lững từng chiếc một trong một không gian thần tiên, một cảnh vật mơ hồ cuộn theo khói mây mà tạo nên câu chuyện mông lung, huyền bí đó – Vì vậy mà thể tài này đem ra bình luận để rồi trở thành huyền thoại của thi ca hay trong cách nói khác! Đó là vai trò chủ thể của Trang Tử, một triết gia, một hiền triết, một quân tử Trung Hoa mà ông được tôn kính và được coi như một trong những người sáng lập ra Đạo(Taoism). Trong đó người mở đầu triết thuyết vô vi là Lão Tử. Không rõ triết thuyết nầy còn hay không còn hiện hữu với trần gian. Trang Tử (Zhuangzi) là một nhân vật lịch sử. Trang tin vào thuyết vô vi là cõi hư vô, ông sống và hành đạo vào thế kỷ thứ Tư trước Thiên chúa. Thời kỳ Chiến quốc (Warring States). Tất cả hành trạng của Trang Tử được ghi vào lịch sử (shi ji) kể cả bộ sử vĩ đại của Tư-Mã-Thiên (Sima Qian (145?-89? B.C.)(*)

Để biết thêm về triết gia mơ mộng nầy : Trang tử tên thường gọi là Chu (Zhou) ông người gốc bản điạ vùng núi thuộc sắc tộc Mường (Meng) tỉnh Hà Nam (Henan) Ông phục vụ như một viên chức trong cơ sở sơn mài (lacques).Trang Tử thời đó  tạm thời được xem là người thông thái về Khổng Giáo (Confucian) và cả Mạnh Tử (Mencius) Trang Tử có viết một loạt sách về những chuyện ngụ ngôn, thần thoại thiên nhiên. Sách của Trang Tử được qui vào loại văn chương cổ xưa nhưng lại được giới thiệu như một thể thức mới thuộc đời Tây Hán (Western Han) trong thế kỷ thứ Hai trước Thiên chúa. Gồm có 7 chương, chương ‘Nội cung’(Inner Chapters) là cốt tủy sáng sủa nhất, một tập truyền đầy đủ tư duy lý luận của nhà hiền triết như ông. Ở Trung hoa có nhiều họa phẩm vẽ Trang Tử, mô tả qua giấc ngủ của ông; trong những bức minh họa đó đều nói lên câu chuyện nổi danh và thích thú về giấc chiêm bao của Trang Tử, mà giấc chiêm bao đó vẫn còn truyền tụng và đem ra bàn cải để làm sao tìm cho ra một nghĩa lý chính đáng.

Có một lần Trang Chu (Zhuang Zhou) mơ mình hóa bướm, thoát hồn bay như bướm…và nghe vi vu tiếng tiêu vấn vít quanh đây. Trang Chu vui sướng và thỏa thê về cái giấc mơ của mình. Người không còn biết mình là Trang Chu. Bừng thức giấc thì nhận ra mình là Trang Chu. Nếu như Trang Chu không mơ mình hóa bướm hoặc bướm mơ bướm là Trang Chu; thì câu chuyện đó không có chi để nói. Nhưng giữa thực và ảo của giấc mơ vẫn là sự cớ huyền nhiệm để xây dựng thêm cho triết thuyết Lão giáo. Một hình ảnh hư vô của Đạo mà Lão Tử đề xướng để đưa con người vào con đường vô vi, đi tới cõi thường hằng. Cho nên chi giữa Trang Chu và bướm ắt phải có một sự phân biệt rõ rệt! Cái lý sự nầy người ta gọi là biến thể từ dạng nầy sang dạng khác ‘transformation of Things’ như ngày nay ta thấy thực hiện trên màn ảnh (movie/cinéma).

Trong số những hoạ phẩm vẽ về giấc ngủ trầm kha của Trang Chu. Họa nhân Lỗ Chi (Lu Zhi) (1496-1576) thuộc đời nhà Minh (Ming) với bức ‘thủy thái hoạ’ của Lỗ là lột tả toàn bộ hồn và xác của Trang Chu. Dưới ngọn bút tài ba, chấm phá bằng ‘cây cọ’ bút lông với mực xạ, điều độ một cách trong sáng, uyển chuyển một cách tài tình, đối chiếu tinh vi tế nhị, chất lỏng của mực tạo nên những đường nét thần kỳ tuyệt hảo làm cho bức tranh trở nên sống động. Nét chấm phá hiện ra trong cảnh mờ nhạt và chìm vào một không gian mờ ảo thơ mộng với rặng đồi thoai thoải bờ đá phủ vây, gây cho khi ngắm thấy được cả một vùng thăm thẳm xa xôi .

Đường bút của Lỗ thanh tao đạm bạc, thoáng, trong bóng. Ở trường hợp nầy Lỗ Chi chỉ dùng mực xạ để tương phản màu nhuộm (sepia-colored) vàng nâu của vải        

lụa, đồng thời biến đổi ‘âm sắc’ thay vì thêm màu nâu sậm và xanh lục, kỷ thuật đó Lỗ rút kinh nghiệm ở trường vẽ, một đường nét khéo léo, kĩ xảo với cái bỏ sót duyên dáng, đường cọ uốn mình dịu dàng, phớt, chấm nhẹ trên mực, vuốt đều để tạo được nét tự nhiên và sống động, có những lúc màu cho đậm hay nhạt  như nhấn mạnh vào hình ảnh, có một vài nơi trong tranh -tảng đá-  được đậm nét hơn. Ông đặt tất cả màu sậm ở tiền cảnh trong cái dạng nhấp nhô gợn sóng như vỗ vào đó một cái thế liên hoàn để phù hợp với lối trừu tượng nhưng đầy vẻ thẩm mỹ nhờ màu sáng, đậm, nhạt nhiều hơn là để lộ ra những ‘cọng’ bút gượng ép. Chấm phá của mực xạ vuốt mạnh, nhưng nhẹ lướt là coi như đạt ý của một người sành điệu về đường nét của thủy thái họa. Trước và sau cảnh, vẽ lên được một cái nhìn trống vắng của không gian, thoáng nhanh thì không thấy đồi núi choáng mắt mà tất cả như biến mất, chỉ để lại vóc dáng của người đang mơ. Làm sáng tỏ sự hiện hữu của Trang Tử. ‘Zhuangzi’s lightness of being’- khung cảnh trơ trụi của những cành nhánh, bụi rậm, quằng mình xuống như liễu rủ đem lại một cảnh tĩnh lặng, trống vắng của thiên nhiên đúng quan niệm, ý thức phép ‘Đạo’ của Lão giáo. Trang Chu duy trì cảnh bướm khi ông đang mơ về và sống trong giấc mơ; ông thở phào nhẹ nhõm  với một tinh thần sản khoái.

Đường cong, uốn lượng là cái nôi ru người ngủ, người ta không nhận ra tảng đá cứng đơ mà Trang Chu gối đầu lên đó và đầu thì ôm vào trong đôi tay với sự yếu đuối, mệt mỏi phản lên cái cung cách ‘bắt mắt’ làm lu mờ hình ảnh của núi đồi. Dường như những cột bóng cây che khuất cái giường đá ông đang nằm. Trang Chu là con người phóng ngoại, ăn ngủ không ngại khó, một nếp sống dể dàng, lạc quan, hay đó là tư chất của một người nghệ sĩ ? Trang Chu được đời gán cho là con người thoát tục. Ông là người nhạy cảm , thích ngao du sơn thủy, sống hồn nhiên như cây cỏ, vui thú với những khám phá mới lạ nhưng không phản ứng trước sự việc, luôn giữ tâm hồn vô vi như cuộc đời vốn đã có, hoà hợp vào thiên nhiên, vào cõi vô cùng của vũ trụ. Đúng như đã nói; Trang Chu là con người thơ mộng và lý tưởng hóa cuộc đời. Nhớ lại câu nói nầy của một nhà thơ khác; W. B. Yeats : ‘ Làm thế nào chúng ta biết được giấc mơ của người mơ ?’

                          (How can we know the dreamer from the dream?)

 

                                                       

Đi vào cõi mộng của Trang Tử; cho ta một cái nhìn về tâm hồn. Đó là vũ trụ tâm hồn, một khám phá của ngoại giới xâm lấn vào nội giới. Hai trạng thái nầy bắt gặp trong cùng một thể của tiềm thức (subconscience). Một siêu thức của tâm lý học, của triết học. Theo tâm lý học cái đó thuộc về nội giới là phạm trù chủ thể, nội giới biết mình trước khi ý thức về sự vật ngoại giới. Đó là hoàn cảnh của Trang Chu. Trong thực tế, nhận thức chủ thể không phải dễ dàng vì chủ thể của Trang Chu hòa tan vào một môi trường của cảnh sống. Chủ thể chỉ biết về mình khi sự vật ngoại giới xâm nhập vào tâm hồn, tiềm thức dấy động để gợi lại hiện hữu của mình, và cái giấc mộng trầm kha giúp con người thức tỉnh trong cõi mộng và thực mỗi khi tri giác (act intuitive) soi sáng nội tâm; đó là tri giác vũ trụ ngoại giới. Dựa câu nói nầy của A. Bosquet : ‘Trong thăm thẳm của mỗi chữ, tôi chứng kiến sự sinh sôi trong tôi’ (Au fond de chaque mot, j’assiste à ma naissance) Điều đó có sự tương quan của ý thức trong cùng một hành động, do đó Trang Chu thấy được tâm hồn mình. Cho nên liên trình của vũ trụ ngoại giới và vũ trụ tâm hồn phải đi qua một tác động giữa tri giác và tiềm thức. Đó là cái nhìn mơ-về của người nghệ sĩ cho ta thấy được một vũ trụ tâm hồn qua vũ trụ ngoại giới, hình ảnh của mộng là nhân chứng cho một tâm thức đang khám phá một vũ trụ khát vọng để thoát ly toàn thể vũ trụ quan để đi vào hư-vô. Do đó vũ trụ của tâm hồn đến sau, được nhận biết sau hoạt cảnh của giấc mộng. Chuyển biến đó cho chúng ta thấy rằng, Trang Chu muốn biến cuộc đời là mộng để được vào cõi như-nhiên; không rối ren, không bon chen để tâm hồn quyện vào cõi vô-vi. Chủ thuyết của Lão Trang là thế. Đạo không hiển hiện nhưng huyền nhiệm.

Dữ kiện đó là lý luận theo triết học, chớ nói cho ngay; không có một đối tượng nào của vũ trụ cả, mà chỉ có cái trừu tượng của tâm thức, một yếu tố vật lý khơi dậy và dàn trải bằng một tâm trạng mơ về cõi mộng và tâm trạng đó vụt hiện ra bằng hình ảnh qua sự thức tỉnh trực tiếp của tâm trạng nhiều hơn qua đối tượng. Nhưng phải hiểu rằng đối tượng của chủ thể lúc nầy là tập trung vào sự tương quan người (Trang Tử) và vật (bướm) từ cái nhìn ấy làm sáng tỏ tâm trạng của vũ trụ tâm hồn, một gắn bó tế nhị và sâu sắc để hình thành một giấc mơ của cả hai đối tượng; đối tượng chủ thể Trang Chu và đối tượng tha thể của bướm mà cả hai đi vào một nhất-thể : mình là bướm hay bướm là mình ? Con người mơ về vũ trụ và vũ trụ  mơ về quá gần nhau vì đồng thể và đồng trạng. Trạng ở đây là trạng huống giữa mơ và tỉnh, gần gũi với cái nhìn của Descartes: ‘Tôi nghĩ tức tôi hiện hữu’ Trang Tử cũng nhìn nhận mình hiện hữu với vật thể đó là thực hữu của tâm trạng người mơ. Với một nhà triết học như Trang Tử, giấc mơ đó có thể nghĩ rằng cõi không gian (trong đó) là một thể trung gian tượng hình giữa con người và vũ trụ. Hai vũ trụ giới đến cùng một lúc. Một cái nhìn trực tiếp của bản ngã và vô ngã, nghĩa là ta không chiếm cứ một vũ trụ không gian  mà chiếm cứ sự vật ngoại giới như kẻ xa lạ chiếm cứ cái bất ngờ đó rồi hòa mình vào sự vật không gian. Cái nhìn của Đông phương  khác cái nhìn chiếm cứ của Tây phương. Người Đông phương nhìn cái nhìn trung hòa, ung dung, tương thức giữa thiên nhiên  và con người, hai cái nhìn gần như hợp lẽ với nhau, xâm nhập như cùng một tạng thể để phát tiết vào vũ trụ quan, một vũ trụ tâm hồn nói chung :

                                              Trăng thanh gió mát là tương thức

                                                 Nước biếc non xanh ấy cố tri

                                                                                          (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

                                                            

     Đó là mối gặp gỡ giữa người và vật. Đẩy Trang Chu vào vị trí của khát vọng mỗi khi bắt gặp sự thỏa mãn của khát vọng. Trang Chu bừng dậy với một tinh thần sản khoái (pure spirit) như kẻ đã đến đích. Đó là cái đẹp tiếp thu tạo nên mối liên hệ tương giao giữa người và vật thì đó là cái nhìn khát vọng của Trang Tử. Một cảnh đời trong mộng và cảnh đời có thực  đã giao cấu vào nhau tạo nên một vũ trụ tâm hồn, vũ trụ dự ước và vũ trụ khát vọng.

Vậy giấc mộng của Trang Chu là giấc mộng lớn hay nhỏ, mơ thực hay giả có cần băng khoăn? Với Trang Chu có cái nhìn trung thực, hài hoà  giữa mình và bướm; ai cũng có những giấc mơ: đẹp hoặc xấu. Nhưng với Trang Tử mộng thành thực, có lẽ; ‘dream come true’ dành cho người nghệ sĩ như Trang Chu mà thôi!

 VÕ CÔNG LIÊM  (Forest Lawn. ca.ab 3/2012)

 * Không rõ ngày sinh tử của Lão Tử, chỉ biết Lão Tử cùng thời hoặc trước sau với Khổng, Mạnh và Mặc Tử ở đầu thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch; đều có sử ghi (shi ji) trong bộ sử Tư Mã Thiên. Bốn triết gia kể trên có một vài tư tưởng tương đồng và tương phản theo mỗi triết thuyết riêng tư.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=356136

BÁC SĨ MỤT RUỒI Truyện Ngắn TRẦN MINH NGUYỆT
mangvienlong | 24 Mar, 2012, 14:03 | Bài viết của bạn văn | (47 Reads)
alt
alt
( Nguồn My Opera hoadongphuong"Blogs)
 
 Câu chuyện bắt đầu từ việc mẹ tôi bị cao huyết áp, và tiểu đường vào bệnh viện Thanh Phước để khám. Hai lần đầu tiên, Mẹ về khen bác sĩ ở bệnh viện rất thân tình, nhẹ nhàng,chịu khó lắng nghe, tư vấn, cũng như việc cho thuốc và hướng dẫn cách uống thuốc. Dường như mẹ tôi vui, nên huyết áp điều hòa,lượng đường cũng thấp hơn.Mẹ tôi đi đâu cũng khen ngợi về bệnh viện,về đội ngũ y bác sĩ ở bệnh viện cả, dù mẹ chỉ mới tiếp xúc với một bác sĩ trực tiếp khám cho bà là bác sĩ Phát, và một vài cô y tá. Nhưng bà luôn khẳng định là không có ở đâu đội ngũ bác sĩ , y tá dễ thương, thân tình như ở bệnh viện này. Nhiều khi bà khen quá, tôi cũng đâm ra ngưỡng mộ họ, cũng muốn một lần xuống khám bệnh tiếp xúc với họ thử xem thế nào?.
 

Cho tới một buổi chiều nọ ,xảy ra cuộc tranh luận gay gắt với cậu Thơm-anh em cô cậu ruột với bà.Cậu ấy nghe bà ca mãi về điệp khúc “lương y như từ mẫu” của đội ngũ y, bác sĩ ở bệnh viện ,cậu ta phản đối:
- Cô nói vậy cũng không đúng, bác sĩ cũng tùy người thôi, bệnh viện Thanh Phước tôi lạ gì chứ? Có bác sĩ tốt thì thật tốt, còn người xấu thì tôi chắc không có bệnh viện nào bằng đâu?
- Anh nói sao? Em đến khám hai lần rồi, mà lần nào cũng vậy mà, em không nói sai đâu? .Mẹ tôi cãi. ngừng lại một lúc bà nói thêm:
- Bệnh viện dù nhỏ, không đầy đủ thiết bị, máy móc như bệnh viện tỉnh, bệnh viện thành phố, nhưng thái độ phục vụ thì khỏi phải chê. Và cũng không phải chờ đợi lâu, hay đi khám bệnh lấy số thứ tự từ 2h sáng nữa.
Cậu Thơm trầm ngâm một lúc ,buông thõng:
- Vậy cô từ hồi đi khám bệnh giờ đã gặp Bác Sĩ Hùng chưa? Lúc nào gặp, cô sẽ thay đổi điệp khúc “ lương y như từ mẫu” ngay mà!.
Trong khi cậu Thơm tôi dẫn chứng nhiều điều không hay về bác sĩ Hùng và một số y tá, mẹ tôi vẫn khăng khăng tin vào ý nghĩ của mình. Và khi cậu về rồi, mẹ tôi phân bua với tôi: “ Cậu mầy khó chịu thật đó, bác sĩ, y tá như vậy mà còn chê cái nỗi gì nữa? Họ như là bà mẹ hiền chăm lo cho con mà!”. Tôi không biết nói gì chỉ im lặng, mỉm cười. Cảm thấy mẹ tôi thật thà, chân phác quá!
Không lâu sau đó, mẹ tôi đi khám bệnh định kỳ, và giáp mặt với vị bác sĩ tên Hùng mà cậu Thơm có lần nhắc đến kia.Và lần khám bệnh này về, khác với các lần trước, mẹ trở nên trầm ngâm hẳn, mẹ chỉ nói với tôi về bệnh của mẹ thôi,và không nói gì thêm nữa.Nhưng chiều hôm đó dường như mẹ không chịu nỗi những ấm ức trong lòng. Mẹ tìm tôi như để chia sẻ:
- Sáng nay bác sĩ Mụt Ruồi khám cho mẹ!
- Là ai vậy? mẹ quen à?
- Đâu có! là bác sĩ đáng ghét mà cậu con nhắc tới đó mà…
- À! Ra vậy. Nhưng tên gì mà nghe lạ quá vậy mẹ?
Mẹ cười:
- Không phải! Ông ta tên là Hùng, nhưng trên mặt hắn có một cái mụt ruồi rất kỳ cục nên mẹ gọi vậy cho bõ ghét.
Tôi bật cười vì tên mẹ đặt cho gã ,mẹ tôi cũng cười theo.
- Mẹ thấy sao? Cậu Thơm nói đúng chứ?
- Cậu con nói chưa hết con người của ông ấy đâu. Gã có một bản mặt lầm lì, trơ trơ như được nặn bằng sáp và lạnh băng như đá tảng, và đặc biệt là bên mép phải của gã có một cái mụt ruồi to tướng như con mòng bò vậy trông rất kì quái lắm,nhìn vào gương mặt của gã đã thấy ác ác sao đó. Đúng là tướng hiện tâm mà!
- Mẹ thật là…Tôi cười, người đâu mà xấu quá vậy? Tôi trêu bà bằng cách ngâm nga hai câu ca dao của người xưa:
“ Thương ai, thương cả lối đi
Ghét ai, ghét cả tông ti họ hàng”
Tôi chồm tới ôm lấy vai mẹ, lắc khẽ và nói nhỏ: “Mẹ con là vậy mà, đúng chứ? “
Mẹ hất tôi ra và mắng yêu: “ Thôi đi cô, chỉ giỏi bênh cho người ngoài thôi”.
Tôi mỉm cười ,lắc đầu.
Một ngày tôi về muộn, nhà tối mù mờ, mẹ tôi đắp mền nằm yên trên giường, ba tôi ngồi ở ghế sa lông bên cạnh với vẻ mặt đăm chiêu, lo lắng xen lẫn tức giận. Tôi cứ nghĩ là chắc ba, mẹ tôi tranh cãi về việc gì đó, và tôi không muốn đổ thêm dầu vào lửa, nên xuống bếp dọn cơm ,không có cơm hay bất cứ thứ gì cho bữa ăn tối, điều này không bao giờ xảy ra trước đây. Cơ quan tôi cách nhà khoảng 20km, vì vậy trưa tôi hay ở luôn tại cơ quan, chiều sẩm tối, hoặc có hôm công việc nhiều tối mịt mới vác xác về đến nhà. Khi về nhà, vì mệt tôi thường chỉ muốn nằm dài trên nệm lăn qua lăn lại mà tôi hay nói đùa với gia đình là nằm lăn lăn đề lấy năng lượng tiếp tục cho cuộc chiến đấu những ngày tiếp theo. Tôi không phải làm công việc gì ở nhà cả, từ việc nấu nướng hay dọn dẹp. một tay mẹ tôi lo lắng, cáng đáng mọi thứ. Ba tôi nói vọng xuống từ nhà trên:
- Con nấu cơm giúp đi, mẹ mầy đau rồi!
- Con biết rồi! Tôi càu nhàu.
- Mẹ mầy chiều nay đi khám bệnh một chút nữa là chết rồi, con à!
Tôi bỏ nồi cơm mới lấy gạo xong, chạy lên nhà trên hoảng hốt:
- Mẹ đau gì vậy ba?
- Huyết áp chứ gì? Huyết áp cao quá nên xỉu ngay ở bệnh viện.
- Huyết áp cao cũng bởi thằng cha bác sĩ Mụt ruồi thôi! - Giọng mẹ tôi phẩn nộ.
- Sao vậy mẹ?
- Gã mà làm bác sĩ cái nỗi gì? Bác sĩ mà chẳng có chút đạo đức bình thường của một con người, xem bệnh nhân như cỏ rác vậy? Tao lớn tuổi bằng cô bác của gã ,mới nói: “Tôi bị huyết áp và tiểu đường nhưng tiểu đường thì ổn định rồi,chỉ còn huyết áp ,thưa bác sĩ!”. Nói vậy có gì đâu, vậy mà gã la lên như giẫm phải lửa: “Bà im đi, biết gì mà nói, nếu biết thì bà về nhà mà tự chữa, đến đây làm gì?”. Mẹ tức quá không dằn được cơn giận trào lên cổ cãi lại: “ Thì tôi có khai bệnh, ông mới biết chỗ mà khám cho nhanh, cho chính xác chứ? Nếu ông bắt người bệnh câm không nói năng gì, ông biết khám những gì?”. Mặt gã tối sầm lại, và từ từ biến sắc trắng bệch cái mụt ruồi bên mép giật giật liên hồi. Gã quắc đôi mắt sắc như lưỡi dao cạo nhìn tao và hét lên: “ Bà ra ngoài! Về nhà mà tự chữa đi, ở đây tôi không chữa cho người dám cãi lại bác sĩ như bà!”. Vừa nói gã vừa kéo tao ra khỏi phòng ,tao uất quá nên huyết áp tăng vọt,tao không gượng được nữa té sụm xuống trước cửa phòng của gã. Hai cô y tá tái mặt, dìu tao vào phòng cấp cứu và huyết áp của tao lúc đó là 210/100. Vậy mà khi y tá chạy vào báo với gã, gã chỉ đến nhìn qua tao một thoáng, lẩm bẩm gì đó tao nghe không rõ và bỏ đi không quay lại nữa. Tao sợ chết nên nhờ một người quen ra nhà thuốc tây trước cổng bệnh viện mua viên huyết áp ,loại huyết áp mà tao hay uống. Sau khi uống thuốc khoảng 30 phút, tao khỏe hơn một chút, ra đón taxi về nhà.
- Bác sĩ gì mà kì lạ vậy? Bác sĩ giết người à? Tôi nóng lòng, căm tức la lên khi nhìn thấy gương mặt mẹ bơ phờ, tái xanh đầu tóc rủ rượi.
Giọng ba tôi đã bình tĩnh ,gắng an ủi và trấn an bà:
- Bà hãy yên tâm nằm nghỉ ngơi cho khỏe đi, đừng tức giận gã làm gì? Ngày mai, tôi sẽ viết thư góp ý gởi đến sở y tế, giám đốc bệnh viện, và đài truyền hình…chứ không thể dung túng cho con sâu này!
- Con đồng ý với ba.Giọng tôi cương quyết “phải làm vậy, thì những hậu quả đáng tiếc mới không xảy ra cho những bệnh nhân khác nữa, ba à! Có lẽ, trong cuộc đời làm bác sĩ của gã, cứu người thì ít ,mà giết người thì nhiều? “.
- Thôi, bỏ đi ông! Kiện tụng mà làm gì, tôi không muốn “nổi tiếng” đâu .Mẹ tôi phản đối.
- Tại sao ông ấy lại ác cảm với mẹ như vậy? Lần nào khám bệnh, gặp ông ấy, không có chuyện này, cũng chuyện kia?.Tôi phân vân.
- Đâu phải mình tao? Người nào cũng vậy cả, ai hắn cũng hạch sách, quát tháo, nhưng những bà con nông dân chất phác không biết rõ gì về thuốc men, bệnh tật luôn im lặng nhẫn nhục,hắn bảo sao làm y vậy nên không bị tình cảnh như tao thôi.
Mẹ bỗng im lặng một chút ,nói như phân trần:
- Tao cãi lại với gã có ích gì? Sáng nay. ở nhà tao vừa mới thử đường xong, lượng đường vẫn bình thường nên mới nói vậy như lời tâm sự thôi…
- Thôi mẹ mặc kệ gã đi .T ôi đã trở lại trạng thái bình thường “lần sau nếu trúng gã khám, mẹ không khám nữa, bỏ về là xong…”.
- Không đâu, tao có cách riêng của tao rồi .Giọng mẹ tôi tỉnh táo “cha, con mầy đợi mà xem nhé “.


Một buổi chiều, sau khi đi khám bệnh về. vẻ mặt mẹ tôi rất hân hoan và lạ hơn là mẹ cứ tủm tỉm cười suốt.
- Hôm nay có gì mà vui vậy mẹ? Gặp bác sĩ Phát à?
- Không phải! Là bác sĩ Mụt Ruồi...
- Vậy sao mẹ vui thế? Tôi tròn mắt ngạc nhiên
Mẹ tôi bật cười thành tiếng:
- Có nhiều chuyện vui lắm. Tao vừa điều tra ra gã là “bác sĩ 100”!
- Bác sĩ 100 là sao? Mẹ nói gì con không hiểu?
- Mọi người gán cho gã cái biệt danh này vì nghe đâu khi gã thi vào trường Y tây nguyên, thi 3 môn, một môn một điểm, và hai môn còn lại là zero.
- Không phải đâu mẹ, vậy làm sao gã đậu chứ? Tôi chống chế. Trường y đào tạo những người chăm lo cho sức khỏe và sinh mệnh của con người nên khó vào lắm…Dù có mấy loại ưu tiên đặc biệt dành cho gã ,ít ra cộng 3 môn cũng được…10 chứ? Nên gọi gã cái biệt danh “bác sĩ 10”
Mẹ không tranh luận với tôi mà tiếp tục kể:
- Tao vừa chơi khăm gã một trận...
- Gì vậy mẹ? Tôi nao nức. kể con nghe đi?
- Khi cô y tá gọi tao vào phòng đo huyết áp xong, vẫn giọng lạnh băng như cũ hắn hỏi tao:
- Lại bệnh huyết áp à?
- Không phải! Thưa bác sĩ
- Vậy bà đau gì?
- Tôi bị táo bón, đã bí và không đi được gần hơn một tuần rồi
Gã không nói gì ,cúi xuống bàn hí hoáy viết đơn thuốc cho mẹ, chỉ có một loại thuốc duy nhất: 20 gói “Sorbitol”.
- Phí cả một buổi đi khám bệnh .Tôi cười nói
- Nhưng vẫn thấy vui con à. Còn thuốc huyết áp, tiểu đường mẹ mua ở ngoài vậy, cũng rẻ thôi…Mẹ đâu cần gã “bố thí”
Thời gian sau đó, cứ đi khám bệnh mà gặp phải bác sĩ Mụt Ruồi là mẹ tôi khai đi khai lại mỗi một bệnh là “ Táo bón lâu ngày”. Và mỗi lần như vậy được thêm mấy chục gói Sorbitol. Và lâu ngày vị bác sĩ kia cũng lờ mờ nhận ra là mẹ tôi đang chơi xỏ gã ,gã tức giận, mặt tím tái nhưng không biết phải làm gì ( vì mẹ tôi vẫn giọng nói ngọt ngào lễ phép, một câu dạ, hai câu thưa..).
Tôi vừa chạy xe về tới cổng, đã thấy mẹ ra đón với vẻ mặt rạng rỡ và nụ cười có vẻ mãn nguyện lắm. Tôi chưa kịp hỏi mẹ đã kể:
- Sáng nay, mẹ đã dạy cho gã ta một bài học làm cho gã bị bẻ mặt, và chấm dứt luôn cái cách riêng của mẹ để “đáp lại” cho việc làm vô tâm, vô trách nhiệm của gã con à!
- Mẹ lại nghĩ ra cái trò gì nữa vậy? Tôi áy náy. ngừng lại thôi mẹ, vậy là quá đủ với gã rồi.
- Trò gì đâu? Vẫn là “bệnh cũ” thôi mà, nhưng mẹ diễn đi diễn lại nhiều lần quá, hắn thấy tức giận và xấu hổ...
- À! Mà lần này kịch bản có khác một chút.Giọng bà thản nhiên, mấy lần trước vẻ mặt mẹ bình thường khi vào khám, lần này mẹ làm bộ nhăn nhó như “ khỉ ăn ớt vậy”. mẹ ôm bụng rên hừ hừ.
Gã thấy mẹ, mặt biến sắc, nhưng cũng gằn giọng hỏi:
- Lần này bà đau gì?
- Thưa bác sĩ! Táo bón…
- Lại táo bón? Bà giỡn mặt với tôi hả? Mời bà ra khỏi phòng cho.
- Mẹ đứng lên nhưng không ra khỏi phòng ngay, mà quay lại nhìn gã, nói tỉnh khô:
- Tôi bị táo bón, đau bụng tôi nhăn nhó. bác sĩ cũng bị táo bón à? Sao mặt bác sĩ nhăn quá vậy, trông rất là khó coi.
- Bà quá lắm, bà ra khỏi phòng nhanh lên.
- Đúng là sự thật thì mất lòng. Bác sĩ hãy cầm gương soi mặt mình xem, lúc nào với bệnh nhân, bác sĩ cũng nhăn nhó, lạnh tanh như vậy đó.
- Bà …. Gã không nói hết câu đứng lên. đẩy mẹ ra khỏi phòng và đóng sầm cửa lại.

Đúng là mẹ tôi -một cô giáo dạy triết đã nghỉ hưu gần tuổi “thất thập cổ lai hi” rồi, mà vẫn nghĩ ra được cách “ đối xử” làm quái lạ như vậy để dạy người. Không biết rồi vị bác sĩ Mụt Ruồi kia có thay đổi thái độ đối xử với bệnh nhân hay không? Nhưng mẹ tôi thì đi đâu cũng kể những chuyện về gã như một nỗi buồn không vơi…

 
TRẦN MINH NGUYỆT
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=355632

TRANG THƠ NHIỀU TÁC GIA : BCV & LH & THÂ & CTC & MM
mangvienlong | 21 Mar, 2012, 17:18 | Bài viết của bạn văn | (43 Reads)

TRANG THƠ NHIỀU TÁC GIẢ :

BÙI CHÍ VINH & LUÂN HOÁN & TRẦN HIẾN ÂN

& CAO THOẠI CHÂU & MƯỜNG MÁN

 

Bùi Chí Vinh

(Ta sinh ra gặp buổi nhiễu nhương

Bất lương bàn luận chuyện hiền lương

Kẻ sĩ cúi đầu làm binh sĩ

Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường)                   

  Chiều có Lan 

Chỉ cần ngón tay đưa lên môi

Ngàn năm nhan sắc ở em rồi

Ngàn năm trời đất thành thơ nhạc

Cây cỏ chào nhau kể lứa đôi

 

Chỉ cần chiếc muỗng em trong ly

Là tim anh chết rất nhu mì

Là thằng du đãng bay đâu mất

Một chút tình anh lẻn trốn đi

 

Chỉ cần em cứ ngồi như thế

Yên lặng nhìn anh suốt buổi chiều

Là anh trôi sạch bao dâu bể

Mở hết lòng ra đợi tiếng… yêu!

BCV

 

 Luân Hoán

  Bất Chợt Nhớ

 

rủ ai trở lại ngày thơ

ra thềm gió mát đánh cờ-gánh chơi.

mở bia,

            cầm nắp ken, 

                                 ngồi

nhớ mặt nền đất bóng ngời nắng mưa

 

rủ ai trở lại ngày xưa

đêm vàng trăng bám đu đưa góc hè

bàn tay “bịt mắt bắt dê”

run run như thể chưa hề quen hơi

 

rủ ai trở lại trò chơi

làm dâu,

             tôi cõng, 

                           cong người,

                                              đi quanh

chạng vạng luồn vào chái tranh

mép ao bờ ruộng âm thanh đêm vào

 

rủ ai cùng chống cây sào

thúc cho trái ổi rớt vào bê rê

tồng ngồng

                  thánh thiện

                                    u mê

lật áo chùi ổi,

                     em chê,

                                 không thèm

 

rủ ai trở lại vạt đêm

trốn mưa trong miếu ngó lên thần hoàng

hoảng hồn tay vói ôm càng

tỉnh ngay giây phút mơ màng không đâu

 

rủ ai sống lại phút đầu

trưa hiu hiu nắng cụng đầu vào nhau

cái cụng chưa đủ đau đau

mà thành cô bé vẫn hầu hạ tôi

 

rủ ai ?

       chi bằng rủ tôi

đi lang thang lại khoảng đời xưa xa

 

(6-3-2012, Ngày của em).

 LH

Trần Huiền Ân

 Qua Bến Tang Càn

 

 (Độ Tang Càn: Một bài thơ tứ tuyệt của Giả Đảo (khoảng 793-865), đời Trung Đường, tâm sự một người tha hương khi đi qua sông Tang Càn nhớ về cố quận).

  Em cứ tưởng như thuở nào trở lại

Dòng sông sâu mờ khuất lũy tre làng

Con thuyền nhỏ bên kia bờ dầu dãi

Người xưa đâu? Ai hát Độ Tang Càn

 

 Độ Tang Càn… Độ Tang Càn…

Giọng người nổi trôi trên cánh gió

Ào ào nước cuốn dưới cầu

Trúc đào se se lòng môi đỏ

Mười lăm năm bây giờ gặp nhau

 

Mười lăm năm tha phương lưu lạc

Tang Càn thác trắng mây cao

Em đứng lặng giữa bãi cồn ngơ ngác

Lối về nhà cũ hướng nào?

Em hỏi lá cành, lá cành xào xạc

Em hỏi con chim, con chim vù bay

Chợt nghe mơ hồ trong gió thoảng

Hồi chuông chánh ngọ vơi đầy

 

Xanh xanh một màu xa thẳm

Chân trời chiều bụi xóa nhòa

Độ Tang Càn… Độ Tang Càn…

Có phải cây rừng thương đời phiêu lãng

Tiết xuân dồn nở bốn mùa hoa?

 THÂ

 Cao Thoại Châu

  Xứ của ta biết ở nơi nào

 

Ta vẫn mơ nửa phần quê ngoại

Và nửa phần quê nội trộn chung nhau

Như sữa của những người hàng xóm

Pha trộn nuôi ta khôn lớn thuở nào

 

Nghe nói ta có nhiều nhũ mẫu

Không biết con bò có góp sức nuôi ta

Mà thân thể không cao ngoài thước sáu

Cân không hơn nửa tạ bao giờ

 

Là năm mới học đòi tâm sự thế

Học làm người không có quê hương

Tự bạch mình luôn làm kẻ lạ

Mòn biết bao giày vẫn là kẻ lưu vong!

 

Trời sinh bên vui và bên khác u buồn

Ta chọn của trời một bên bất đắc dĩ

Cành cây có bao giờ chọn gió

Chỉ chọn cho mình những lá khô rơi

 

Có một quê ta đã bỏ lâu rồi

Án biệt xứ là án văn chung cuộc

Chiều nhiệt đới run trong giá rét

Không cô đơn vì không có hai người!

 

Đời đã dạy phi thương bất phú

Ta chối từ nên khánh tận hôm nay

Văn chương đó là thứ hàng độc

Như ánh trăng ngời tỏa sáng đêm ba mươi!

 

Giá một chút vầng trăng quê ngoại

Soi cho ta thành kẻ phi thường

Thì gai góc có đâu ra nông nỗi

Nát bàn chân những bước đi hoang!

 

Trăng quê ngoại và trăng quê nội

Vẫn mọc lên vằng vặc những đêm rằm

Những trăng ấy không soi phía trước

Sáng vô cùng trăng mọc sau lưng!

 

Đêm viễn xứ mơ về cố xứ

Nhập nhằng không biết tận nơi đâu

Như khi gặp em hồn ta cũng vậy

Em là vầng trăng không biết sáng nơi nào?

 

(25-1-2012)

 CTC

Mường Mán

 Ngày Mưa Ngồi Quán

 

so vai, chạm trán chiều tà

duỗi chân, nhạc rụng la đà bụi mưa

chừng như có chút buồn vừa

rơi theo chiếc lá mùa chưa kịp vàng

chừng như có chút vui tan

long lanh trong ngọn đèn vàng mới chong

ngồi bù những lúc long đong

chờ đêm chở nắng qua sông mình về

MM

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=355166

L Ộ N N G Ư Ợ C Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 18 Mar, 2012, 11:14 | Truyện Mang Viên Long | (59 Reads)

 alt

L Ộ N  N G Ư Ợ C

              " Thân kính tặng anh chị T

               với niềm cảm thông sâu sắc…"

        Truyện Ngắn

       Mang Viên Long

 alt

              Ông khách vừa bước chân ra khỏi nhà, thì Thu – con trai đầu của ông Thiết cũng vừa dắt xe vào. Treo chiếc mũ bảo hiểm lên vách, Thu quay lại nhìn ông Thiết – giọng khô khốc: “ Lại khách với khứa! Ngày nào cha cũng trà nước ngồi tiếp hết người này đến người khác? “

-         Chứ mầy kêu tao phải làm gì nữa khi đã ở gần tuổi tám mươi? Bạn đến thăm mầy không thấy quý sao? Người không bạn bè như vỏ ốc khô lăn lóc…

-          Mấy đồng lương hưu của cha cũng chỉ đủ để mua trà thuốc…

-         Nhưng tao và mẹ mầy cũng chưa hỏi xin tiền của vợ chồng mầy kia mà? – Ông Thiết lại nổi nóng như bao lần.

           Thu cười gằn: “ Ông không lo, rồi cũng có ngày làm khổ hết đứa này, đến con khác cơ mà! “.

           Ông Thiết muốn lập lại lời đã đôi lần nói với Thu – “ tao có chết đói, cũng không xin tiền của vợ chồng mầy…” – nhưng bổng đồi giọng dịu dàng:

-         Con yên tâm đi!

            Thu vẫn giọng như lưỡi dao chỉa vào ông: “ Cha không nhìn thấy khối người bảy, tám mươi còn đẩy xe ba gác, đi xe đạp thồ,  bán bong bóng dạo đó sao? “

-         Mầy muốn tao làm y như vậy? – Ông cười nhạt.

              Nhìn thấy Thu vẫn còn đứng nguyên ở góc tủ chưa chịu rời - im lặng, ông buột nhắc lại điều đã nói với đám con nhiều lần, như lời tâm sự nhạt nhẽo với chúng: “ Lúc nhỏ đi học, gắng học – rồi lớn lên đi làm việc, gắng nuôi bầy con ăn học thành người, không thua kém bạn bè, có công việc làm để tự nuôi thân ồn định – tao bây giờ không làm nổi thêm gì nữa. dù muốn làm cũng không được nữa rồi! “

              Giọng Thu như nhát dao chém vào thớt:

-         Sao ông không nhìn sang nhà ông Đại, ông Hân, ông Ngọc?

-         Thì sao?

-         Nhỏ hơn tuổi cha, người ta tạo dựng cho con cái nhà cao cửa rộng- xe nhỏ xe to,  sống đời vua chúa – còn những đứa con của cha thì sao? Sao ông không so sánh với những người ấy chứ?

            Ông Thiết với tay bưng tách trà nguội – uống một hớp, cười xì một cái như chiêc bong bóng bị thủng : “ Con lại nói theo giọng ấy nữa thì cha chịu thua rồi. con ơi!” – Ông lại uống tiếp cho hết chỗ nước trà còn lại trong tách – như để nuốt trôi nỗi buồn đi – lại cười –  như tự nói với chính nổi cô độc của mình trong bao tháng năm qua:  “ Nuôi con ăn học cao cũng chỉ mong sau nầy chúng biết sống, biết “ăn ở” có đạo lý với đời, chứ đâu ngờ biết lý luận biện chứng giỏi để hạch sách cha mẹ - người thân và xa rời bà con ? – kết cục là vậy thôi! Đứa nào cũng rặt một giọng đòi hỏi, oán trách; chưa hề một lần tự hỏi chính mình …“.

            Thu đã bỏ ra phía nhà sau – có lẽ, để dùng cơm trưa với vợ con đang chờ. Thu đi, bà Tâm từ trong phòng bước ra – kéo chiếc ghế thấp, ngồi bên cạnh ông – liếc nhìn ông bằng đôi mắt thương cảm vô vọng - giọng thì thầm: “ Ông hãy nhịn đi, chúng còn trẻ người non dạ chưa hiểu thấu hết sự đời cơ mà!  Cải với tụi nó làm gì cho chúng ghét?” – “ Chúng đã có thương kính gì tôi đâu mà bà kêu sợ chúng ghét kia chứ? Nếu có chút tình thương yêu, chúng đã không nói những lời cay đắng , bạc nghĩa vậy rồi!”.

-         Sao không?

-         Ý bà muốn nói, lâu lâu chúng đã gởi cho bà một ít tiền chứ gì? – Ông Thiết nhìn vợ - nét mặt tê lạnh

-         Thì cũng đỡ khổ…

             Ông Thiết chợt cười lớn một tiếng – rồi lại nhìn đứng lên mặt vợ, đôi mắt đầy bất trắc, chua xót: “ Hơn hai mươi mấy năm nuôi chúng ăn học biết bao nhiêu là tiền của, mồ hôi – nước mắt, mà thỉnh thoảng chúng chỉ gởi cho bà nhúm tiền, thì bà đã mừng húm lên rồi!”

-         Cũng là cái tình của con chứ ông?

-         Đúng vậy! Tôi không nói đến tiền ít nhiều, mà chỉ nghĩ đến thái độ sống, cách cư xử của chúng – là tôi đã cảm thấy nuốt không trôi nữa rồi…Bộ chúng tưởng chút tiền bạc, quà cáp ấy  là sự thi ân to lớn lắm sao –  giọng ông bổng nhỏ dần – đôi khi chỉ cần một câu nói dịu dàng, cảm thông - cũng là điều chia sẻ quý báu rôi! 

              Bà Tâm kéo chiếc ghế gần vách – dựa lưng, thở dài:

-         Ông có tiếng là học rộng hiểu nhiều, nhưng hiểu biết không bằng mấy bà ngoài chợ…

-         Bà nói vậy là sao?

-         Ông hãy ra ngoài chợ mà nghe mấy bà ấy nói…

-         Trời ơi! Tôi đâu phải là kẻ ăn không ngồi rồi  chuyên đi ra chợ tụ tập để nói ba chuyện tào lao?

-         Sao lại tào lao?

-         Chứ còn gì nữa?

-         Tôi cũng chẳng phải người ngồi lê đôi mách, nhưng đi ngang qua – thỉnh thoảng nghe mấy câu – cũng …chí lý lắm!

-         Bà đã nghe câu gì – ông Thiết quay nhìn vợ - thử nói nghe một câu xem?

-         Không rõ trước đó họ bàn về chuyện gì, nhưng lúc tôi xách giỏ đi qua – nghe một bà mập mập lớn tiếng, giọng chắc nịch: “… thuở trước con cái nể sợ cha mẹ - ngày nay cha mẹ nể sợ con cái”- nghe vậy – tôi vừa đi, vừa nghĩ – “ …rồi nàng dâu kính nể mẹ chồng, nay thì mẹ chồng kính nể nàng dâu giống như tôi vậy!”…

                Ông Thiết im lặng giây lâu – đôi mắt trở nên ngơ ngác, lơ đãng nhìn ra đường. Giọng ông yếu lạc di như có gì đang vướng trong cổ: “ …rồi thầy cô nể sợ học trò, chồng nể sợ vợ, sự thật nể sợ giả dối, chân lý nể sợ gian tà…Sao bà không nói luôn đi? “.

-         Tôi không nói – bà Tâm thở dài, mà cuộc sống đã nói vậy, ông hiểu chưa?

-         Tôi có tai, còn đôi mắt sáng, sao lại không thấy?

-         Đã vậy, sao ông còn buồn giận, còn cải nhau với tụi nhỏ hoài mà không biết im lặng?

-         Tôi tưởng rằng bà đã hiểu, không dè…

-          Hiểu thế nào đây?

-         Tôi làm vậy, cũng bởi chúng là con của tôi – là tình thương yêu của tôi và bà bao năm, bà nghe rõ chưa? – ông nhìn lướt lên khuôn mặt khô héo của vợ - cười, hơn mấy chục năm dạy học, hôm nay bà đã quên hết cả rồi!

-         Tuổi già là vậy mà ông? Tuổi già thường có những cái mà người không cảm  thông cho là lẩm cẩm – nhưng mà, rồi ai ai cũng sẽ có ngày lẩm cẩm nbư vậy thôi! Như bài thơ tôi nghe lỏm được của mấy bà ngoài chợ truyền tai nhau vậy thôi!

-         Mấy bà ấy làm thơ?  Gọng ông Thiết vừa ngạc nhiên, vừa thích thú.

-         Chứ sao! Bà Tâm cười – Bây giờ ai cũng là thi sĩ hết trơn mà! Thơ của họ hay thơ của ai tôi chưa rõ, nhưng nghe thì thuộc liền, ngộ nghỉnh lắm!

-         Bà còn nhớ không?

-         Tôi chỉ nghe qua một lần là nhớ…

-         Bà đọc tôi nghe coi?

-         Nghe đây – Bà Tâm ậm ừ trong cổ để lấy giọng : “ Công cha thua chiếc Honda/ nghĩa mẹ khó sánh vợ ta bây giờ/ Có tiền – có của, chúng thờ/ Nghèo khô – cháy túi, chúng lơ thôi mà! “(1)

                 Như bao lần cùng nhau trò chuyện, sau những lời tâm sự rồi dần dần dồn nhau vào ngỏ cụt – cả hai ngồi yên lặng. Ông Thiết chợt nhớ đến  buổi chiều hôm qua khi có Trang – em gái út của Thu ghé lại thăm; hai anh em đã xúm nhau dồn ông như dồn đàn vịt bằng những lời lẽ chê trách oan trái của mớ suy nghĩ tự mãn khôn khéo ngu ngốc – đã xem ông như một thứ rong bèo lêu bêu vô dụng - ông đã thét to lên : “ Chúng bay hãy im ngay!” – Thu đã trừng mắt, hếch mặt – nhìn ông: “ Ông định dánh tôi phải không? Nếu giỏi thì hãy đánh thử xem?”. Nhìn gương mặt đỏ gay của Thu – ông đã tỉnh lại – giọng ôn tồn: “ Các con cứ hỏi mẹ của các con đi rồi sẽ biết! Từ khi sinh các con ra, đến khi lớn – cha có khi nào đánh các con một roi nào không? Thuở sáu bảy tám mười tuổi không hề đánh các con – thì nay – sao lại có thể làm vậy?”.

                 Dường như biết chồng đang chìm vào sự nhớ tưởng đen tối chua xót – bà Tâm đứng dậy, khẻ cầm tay ông: “ Tôi đã dọn cơm xong rồi – ông vào ăn chứ kẽo nguội!”.- Bà mỉm cười – “ Mấy bà ngoài chợ coi vậy mà yên thân hơn những người học cao, hiểu rộng. Biết nhiều, khổ nhiều chứ có ích gì!”.

                 Ông Thiết bực mình:

-         Bà nói vậy là thế nào? Sao cứ mang mấy bà ngoài chợ vào nhà hoải vậy?

-         Tôi có đôi dịp chứng kiến, sau khi kể đủ thứ chuyện của nhà nầy, người kia – họ thường cùng nhau đúc kết một câu “kết thúc” buổi nói chuyện như bài học xử thế rất ngắn gọn…

-         Chẳng hạn như câu nào?

-         Tôi chỉ nghe được câu cuối cùng như thế này của một bà đã lớn tuổi, trông rất nho nhã: “ …Đời là vậy mà mấy bà – hễ cha mẹ giàu có, thì con cháu gần gũi, kính nể, vâng lời răm rắp; còn cha mẹ nghèo khó – con cháu xa lánh, khinh miệt, dù có van nài cũng không chịu nghe!”

                 Ông Thiết khẻ lắt đầu – chợt nhớ hai câu của bài tứ tuyệt người bạn lúc sáng ghé thăm đã đọc; “…Chẳng qua cái nợ mình còn/ Nợ cón – phải trả, chớ hờn trách chi!” (2). Ông mỉm cười…

                 Vịn tay vợ - đứng dậy. Ông thèm nói với bà một câu, nhưng nghĩ sao - vẫn giữ nó trong đầu như mọi hôm: “ Bà ơi! Khi mà tình thương yêu và đức hạnh bị xem thường. bị gạt bỏ ra khỏi đời sống - thì, cuộc đời này – tất cả đều lộn ngược! Rất diễm phúc cho tôi – trời thương, còn cho tôi con Thủy hiếu thảo - nghĩa tình… “

 MANG VIÊN LONG

 (1) & (2) thơ NKT

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=354697

THƠ THIỀN Hay THIỀN THƠ Bài Viết VÕ CÔNG LIÊM
mangvienlong | 11 Mar, 2012, 12:10 | Bài viết của bạn văn | (136 Reads)

alt

THƠ THIỀN Hay THIỀN THƠ

 

                 ”Zen is a matter of chracter, not a matter of  intellect”*

                                              D. T. Suzuki

      Bài Viết:

     VÕ CÔNG LIÊM

alt alt

     Thoạt tiên nghe hai từ nầy như một, nhưng thực ra có ý nghĩa khác nhau. Thơ thiền hay Thiền thơ là một bày tỏ của người Đông phương mang nặng tính chất tư duy để đem lại sự tĩnh lự trong tâm linh (soul) là trí dục; nhờ vào đó mà vận dụng một trí tuệ siêu thoát để đi tới toàn trí tức trí năng (vijnàna), thể xác (body) là thể dục; luyện thân thể tráng kiện để có một thể lực vững chắc, hài hòa vào thiên nhiên, gia nhập vào mọi hoàn cảnh giữa người và vật, ngấm ngầm trong trạng thái tư duy để rồi biểu lộ thành văn hay thơ, một thao tác theo lối du già (yoga), một phép luyện khí công để thư giãn cả tâm và xác. Ba phép tu tập trên là một hành động nhập định, từ đó gọi là thiền và thiết lập hệ thống Thiền đạo, một môn phái tu luyện đứng ngoài các giáo điều tôn giáo, nhưng ngày nay thiền đưa dẫn con người đến gần tôn giáo như phép ’thần thông’, một nội lực mà phần lớn dành cho những người tu học Phật xưa và nay.

Nói đến thiền định như thể là một đặc trưng dành riêng cho người Đông phương thì người Tây phương cho đó là lối thù tạc có tính độc tôn, làm mất đi tinh hoa độc đáo của thiền. Thiền ngày nay trải rộng khắp nơi, đến với chúng ta như phép tu tập. Nhưng có lẽ phép tu thiền của người viễn đông thì ít ai chứng tỏ một quan điểm sâu sắc như người Đông phương. Vậy thiền hiện diện và phát sinh từ lúc nào giữa cõi đời này ? Lấy từ thời Phật (c. 563-483 B.C.) lúc Phật nhập định, cái đó ngày nay gọi là thiền định. Thiền không phải là chứng tích lịch sử để ghi lại, mà thiền phát nguồn từ những lúc tĩnh lặng (meditations); phát nguồn từ Phật, một tổng thể hợp nhất mà Ngài đã truyền đạt (preached) bốn thế truyền thông (fourfold) của chân lý để vượt ra khỏi bể khổ, ra khỏi chính mình, đó là những lúc đạt tới chân tâm, thiền được coi như một tâm linh trong sáng và hiển lộ, một cử chỉ và hành động siêu thoát để tìm thấy được chân lý và lẽ đạo làm người với một ý thức cao siêu đôi khi trừu tượng và siêu hình nhưng chính trong cái tiềm ẩn, sâu kín đó lại gần gũi với thiền và đưa tới ý niệm thoát tục. Thật ra thiền giữa Đông và Tây có hai tính chất tìm thấy: Đông phương im lặng không có nghĩa là không động mà động trong cái sự tìm thấy bất chợt để phát ra một tư duy ngắn, gọn (verbal) và thấy được cái lý ngã của nó. Im lặng ở đây không có nghĩa là ’lì đòn’ để đạt tới ý nghĩa vô ngôn. Ngược lại Tây phương âm ỉ hơn trong tư thế thiền, nghĩa là tĩnh trong động và động trong tĩnh, một chuyển hóa nội tại, một hòa hợp giữa hồn và xác. Cho nên thiền của Đông và Tây đều có tính truyền thống riêng cho mình. Hai tâm thức hai hành động. Song le; vẫn đem lại một tổng hợp bao trùm, thích hợp, không phân biệt diễn dịch hay hành động, phi hệ thống, giáo điều, kinh điển, một trực giác siêu lý thuộc tâm thức. Cũng chính nhờ thiền mà đem lại đại giác, đại ngộ. Đấng đại từ ngồi dưới cội cây già, tức tìm thấy ở chính mình một con đường để giải thoát; một sự nhập thiền và thoát thiền là đi tới liễu ngộ chân như, trong sáng để thoát ly cảnh giới. Giữa hai cái thế nhập và xuất của thiền đã góp phần đem lại một chân lý tuyệt đối, không còn là bí truyền của tôn giáo mà một thực thể thông thường, một phép tu tập như nhiên đề đi tới thân tâm (soul and body).

Nhà Phật có một định nghĩa rõ ràng: Kinh là văn xuôi, kệ là văn vần. Vần biến thành thơ, từ đó gọi là Thiền Thơ, biến Thơ Thiền thành những câu thơ ngắn gọn, mục đích vần thơ phải được cô đọng cả ý lẫn nghĩa thì lúc ấy mới đúng ’kệ-thơ’ hay thiền thơ. Cho nên đi vào triết lý thiền là cả một phạm trù lý luận có tính triết học suy diễn. Tây phương cho rằng; giữa ’Có’ và ’Không’ là ’KHÔNG’ và ngược lại. Đông phương thì lại khác ’Có’ lướt qua ’Không’ và ’Không ’ lướt qua ’CÓ’. Qua hai định nghĩa trên cho ta thấy được ý thức vật lý  của phép nhị nguyên. Đối với thiền; nhập thiền hay xuất thiền cho dù là im lặng tuyệt đối để đạt tới thiền tính. Tất cả ở đây Thơ thiền hay Thiền thơ đều trở nên Vô-ngôn là Phi-ngôn chỉ để lại trong ta một sự nhập thể. Lời không còn là ngôn từ là Phi-lời. Xác thịt không còn xác thịt là Phi-xác-thịt mà ở đây nhập vào một, cái đó gọi là Tính-không và Vô-biên. Lề lối nầy; nói chung là con đường của Thiền, lối nhận thức thuộc tiền-khoa-học hay siêu-khoa-học và từ mấu chốt đó Thiền lao đầu vào nguồn sáng tạo và uống tất cả những tinh hoa trong đó; trong cái vô-thức đó chính là thức tỉnh để ra khỏi vô-thức. Từ lý luận nầy cho ta thấy được nhà thơ phải thâm nhập vào sự vật và cảm nhận được rằng sự vật (things) nằm nguyên vẹn trong tâm mình và chính mình phải sống đời nó. Điều đáng quan tâm Thơ thiền hay Thiền thơ đều qui vào ngưỡng cửa nhà Phật và văn tự đó là của học thuyết mà ra (Dhamma-pada/Words of the Doctrine) cho nên chi vần điệu được coi như đề tài chính cho Thơ thiền và từ sự cố đó Thơ thiền chế biến (infused) ra một tâm linh có tính cách đam mê về luân lý cao độ để đạt đến một luân lý hoàn toàn tự do. Đôi khi trong Thơ thiền hay Thiền thơ có những cái gọi là vô thức, nhưng vô thức là một cái gì để cảm: Không nhưng mà Có và Có nhưng mà Không những nghĩa lý đó đòi hỏi trí năng nhận thức. Thơ thiền thường gặp những câu thơ vô thức, một tặng phẩm kỳ diệu như một biến hình, hóa thân (metamorphosis) của phép ẩn dụ. Nhưng rồi những cảm giác vô thức là sự thức tỉnh của ý thức. Cái ngã của thiền giả là vô niệm. Đọc bài thơ nầy của Vô Nan  Thiền sư (1603-1676) xem cái ngã nầy có chạm vào vô thức không :

                                                   ”Trong khi sống

                                                   Hãy là người chết,

                                                      Chết hẳn hoi;

                                            Và hành động như kẻ thích,

                                               Và mọi sự đều tốt lành”

Có phải đây là một thứ vô thức vũ trụ? Mỗi người nhìn vô thức đó tùy theo thiên tư từng cá nhân mà cảm nhận; biến cuộc đời mình thành một cái gì vừa có tính nghệ thuật vừa có tính chuyển hóa đời sống. Cho nên Thơ thiền hay Thiền thơ đều tạo nên một chân pháp hay từ một tâm thức cho cả hai ý thức, hai sự cớ phát tiết để tạo nên một nội tâm chân chính ; cái đó là chân lý thiền bao trùm trong đạo giáo và không-đạo-giáo. Thơ thiền hay Thiền thơ đều đưa tới cái ngộ của chân lý thiền. Cho nên vô thức theo nghĩa của Thiền là một cái gì huyền nhiệm chính vì lý sự đó mà thiền có tính cách phi khoa học hay tiền khoa học. Do đó; ý thức của vô thức đòi hỏi một sự tôi luyện dày công, một phép tu tập thâm hậu về phiá ý thức. Đòi hỏi như thế vì rằng không có vô thức, ý thức không hoạt động được. Bởi Thiền cho rằng Đạo là: ’bình thường tâm’ chính mỗi khi bình thường là tâm phát khởi không động vọng; tĩnh và trong cái tĩnh đưa tới cảm tính, tức đối diện với hiện hữu để thấy mình trong hiện sinh; ’Khi đói ta ăn, khi mệt ta ngủ’ đó là ý thức của vô thức,sự bình nhật đó nó nằm trong chủ thể của vô-sinh, vô-diệt. Nói chung thiền du nhập toàn bộ ý thức của Có và Không của Hữu thức và Vô thức để dựng lên một bình-thường-tâm, biến hoá giữa lý tính của Thiên, Điạ, Nhân hài hòa, hội nhập vào nhau, rồi phát sinh ra cảm tác của sáng tạo. Để hội nhập vào giòng Thơ thiền hay Thiền thơ, thiền giả hay thi nhân là dòng chảy tự phát của tri thức, bắt nguồn sâu xa từ kinh nghiệm Thiền mà chính cái sự ’dùi mài’ (passion) đó đã đưa tới cực điểm cho thi nhân, bung phá thành Vô-Thức-Vũ-Trụ (chaos), bởi gia nhập vào vô thức vũ trụ mới thực là nền tảng hiện thực; một không gian như-nhiên, quyện vào nhau đi lần vào tiềm thức, nằm lịm dưới vực thẳm của ý thức con người và đọng trong biển vô thức. Đó là lúc mà Thiền gọi là ý thức con người bừng tỉnh trước chân tánh của mình: tức ngộ (satori), ngộ nầy tức cảm nhận trong vô thức vũ trụ để trồi lên trên bề mặt vô thức đem lại một sự dụng văn (thơ) làm cho bài thơ của thiền như công án (kònan), gần như lối đối thoại đột khẩu của Thiền.  

Ở bài viết hạn chế chiều dài nầy không thể đào sâu ’lý tính’ của thiền mà cốt dẫn đưa chúng ta vào lý tính Thơ thiền hay Thiền thơ. Tìm xem trong vô thức vũ trụ đến lúc nào và nhập lúc nào vào hồn thơ riêng biệt qua từng thế kỷ, từng niên đại, để tìm thấy cá tính của thiền; có thể những đột xuất xẩy ra như thế đem lại cho thi nhân thiền giả đốn ngộ. Cho nên ngộ trong thi ca thiền là chứng thực của thực tại, một hiện hữu tối hậu được phơi bày cái nỗi u ẩn của tâm như đi vào một tư duy ẩn mật. Nhưng phải hiểu cho rằng: ngộ là chức năng của tư duy bị phá vỡ và Trống-Không nhưng không hề Tiêu-Vong. Một hiện hữu sống động đầy tính nghệ thuật thi ca của Thiền.

 alt

                                                       *

 Thơ Thiền là gì ? Có thể đây là một luận thuyết về thi tứ của các vị tu Thiền. Có thể đây là một xác quyết cụ thể cho những người ảnh hưởng ít nhiều về thiền. Hoặc có thể đây là lòng ưu ái của nhà thơ khi cảm nhận được chân lý sâu sắc của thiền rồi phát sinh ra những nguồn thơ về Thiền.

Thiền thơ là gì ? Rút tiả từ những cảm tính siêu lý của Thiền, cô đọng trong một trực giác vô thức giữa vũ trụ vô thức để đi tới vô-cảm-thức bằng một ý niệm giác ngộ và giải thoát tâm linh cũng như thể xác, xâm nhập vào trạng thái như nhiên của vô thức đưa tới chân lý tánh không bằng văn tự hay thi tứ chuyển hóa vào ’kệ’ từ thi-kệ để thuyết giảng thành văn. Ghi chép lý tính để trở thành ’giáo lý’. Thật ra Thiền đứng ngoài ’giáo ngoại biệt truyền, không lập văn tự’, trong cái như nhiên kể cả công-án, vô hình chung trở thành văn. Cái đó gọi là Thiền thơ.

Vậy Thơ thiền hay Thiền thơ cả hai vị trí nầy đều chìm đắm trong một trạng thái thấm thấu của việc trầm tư (meditative absorption). Một phép tu tập, một biểu hiện nhập thể; nguyên nghĩa là ’zazen’ (Nhật) Thiền, ’tso-ch’an’ (Trung Hoa) Thiền-na, rút ra từ Phạn ngữ (Sanskrit) Dhyâna. Nguồn thiền xuất phát từ Ấn độ. Đó là yêu cầu của thiền giả cũng như thiền thi bằng một tri thức tu tập:  ’Bình tâm và lòng cảm mến để đạt tới chân như và một trí tuệ siêu nhiên’. Một kinh nghiệm thiện xảo dành cho phép thực hành Thiền.

‘Collectedness of mind and compassionnate heart that leads to self-realization and transcendent wisdom’. The experience of Zen remains an intellectual exercise.

(X)

Mặc khác, các nhà thơ Trung hoa và Nhật bản làm sáng tỏ vai trò thơ của mình qua một cảm xúc riêng biệt, mỗi khi nhận thức được lý lẽ của Thiền.   Ở đây nhà thơ làm nên những  bài thơ  trác tuyệt không phải dâng tặng trọn vẹn cuộc đời, sự sống của họ vào thơ ngay cả những tỳ kheo, sư sãi hoặc mấy vị cư sĩ; mà họ đã xuất thần để thâm nhập giữa hai hoàn cảnh nội giới và ngoại giới, hòa nhịp vào nhau trong một tư thế như nhiên (Thiền) để rồi cảm hóa giữa người và vật.  Những nhà thơ dẫn đầu đời nhà Đường  và đời nhà Tống; trong số đó có Vương Duy (Wang Wei) và Tô Đông Pha (Su Dongpo) là nặng tư tưởng về Thơ thiền, làm nên những bài thơ thấm nhuần chất thiền, dù không chú ý hay xây dựng những bài thơ thiền như một số thi nhân khác. Điển hình nhà thơ trữ tình Bạch Cư Dị (Bai Juyi) là người có thiện cảm sâu đậm với Thiền, coi tư thế thiền như một cái gì xoa dịu vào sức sáng tác. Bạch gặp những lúc bức xúc hay rơi vào hoàn cảnh bế tắc thường vịn vào Thiền để giải hòa tư tưởng và được xem như dự phần vào dòng suối triết học của thi tứ, nhờ đó mà đem lại niềm tin cho nhà thơ họ Bạch.

Sự thật hiển nhiên như thế đối với những nhà thơ Nhật Bản, họ đã gặt hái thành quả trong thi nghiệp. Người ta thừa nhận một nhà thơ nổi danh của Nhật đó là  thiền giả Basho; ông ảnh hưởng Thiền một cách hoàn toàn vào cuộc đời của mình cũng như trong thơ Thiền, nhưng không phải đó là bối cảnh để nói hành xử độc đáo của Basho mà cái độc sáng ở ông là xây dựng được một nghệ thuật thơ hài-cú (haiku hay hokku). Những bài thơ ngắn gọn và trong sáng, cái độc chiêu mà Basho xử dụng đã gắn liền tên tuổi ông cho tới ngày nay. Basho cũng còn rút tiả và dàn trải những thể loại thơ truyền thống khác đến gần với Thiền  (Những bậc tổ của thể thơ hokku như sư Buson, sư Issa có những thể loại thơ không đến với Thiền như Basho đã thực hiện) Chính quan điểm đó tạo ra một lằn ranh giữa hokku và thiền; nhìn thì giống nhau nhưng khác hẳn, tợ như hai mặt của đồng tiền, sự kiện nầy hoàn toàn không thể đi tới với nhau được.

Có một điều cần phải nói; giữa những những thi nhân Trung Hoa và Nhật Bản, đúng ra là thiền sư hoặc các vị ẩn sĩ đưa tới việc tồn lưu cho Thiền trong tư cách kẻ sống-đời với Thiền  và trong tinh anh của Thiền phát tiết ra giòng thi thiền chớ không phải phát hiện thơ thiền như qui cách của Thiền đưa ra. Ở Trung Hoa nhà thơ lừng danh Hán-Sơn qua bài thơ ”Núi Lạnh”. Nhà thơ chịu ảnh hưởng vào thơ của các bậc thiền sư Nhật. Đáng chú ý thiền sư ẩn dật Ryòkan (1758-1831). Một ảnh hưởng khác của Thiền học là sự kết cấu vào tư tưởng của những nhà thơ Trung Hoa và Nhật Bản qua thi văn của họ. Thí dụ nhà thơ Vương Xương Linh (Yang Wanli) tin vào sự giao thông mạnh mẽ, nối liền một cách bất ngờ; giải thoát của Thiền là một thức tỉnh, nhờ vào một thứ nghệ thuật trong thơ thiền mà Vương đã làm nên những trác tuyệt về Thơ thiền -có một số thi nhân liên đới với thơ thiền, nhưng trong số đó vẫn giữ lại những mâu thuẩn đối với Thiền hoặc nhẹ lòng về những khúc mắc kỳ quái của Thiền-  cái sự cớ không tới với Thiền nguyên do từ những kinh nghiệm tìm học ở Thiền mà rồi không đến gần với thơ thiền như những người đi trước. Cũng có nhiều vị làm thơ thiền nhại theo kiểu cách thiền sư Shinkei để phản ảnh một thi tứ riêng tư về Thiền, cảm thức đó đã đi sai truyền thống của Thiền và cái thứ dụng thi đó chuyên chở tới một giòng thơ vô ý thức ( ambiguities of perception). Những nhà thơ được sắp xếp theo thời gian thì phải kể đến Vương Duy và Hán Sơn là tiêu biểu hơn hết. Hai thi nhân nầy đúng là thiền thi có thực. Một thi nhân khác đã dâng hiến trọn đời với Thiền như Tạ Linh Dân (Xie Lingyun) hoặc có những thi phẩm khác nói về thiền thi đã bị tiêu hao, nhưng bên cạnh đó vẫn có những nhà thơ làm nên những câu thơ, bài thơ trác tuyệt với một sắc thái như sờ mó được vị thiền, ngửi được thiền và nếm được  mặn, ngọt của thiền.

 VÕ CÔNG LIÊM

                                             

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=353696

SỰ LIÊN HÊ GIỮA BÌNH ĐỊNH & PHÚ YÊN Tạp Bút TRẦN SĨ HUỆ
mangvienlong | 07 Mar, 2012, 04:31 | Bài viết của bạn văn | (56 Reads)

  

SỰ LIÊN HỆ GIỮA BÌNH ĐỊNH VÀ PHÚ YÊN

 Tạp Bút

Trần Sĩ Huệ

 

Bình Định và Phú Yên là hai tỉnh lân cận, cách nhau một dãy núi Cù Mông, đã có sự liên hệ mật thiết ngay từ xa xưa.

Con đường của những lưu dân người Việt vào mở cõi Phương Nam qua hai ngả. Một là qua đèo Cù Mông, dọc theo ven biển để định cư trước hết ở Cù Mông (lưu vực sông Tam Giang), thị xã Sông Cầu ngày nay, hai là theo đường núi phía tây lập ra nguồn Hà Duy, thuộc huyện Đồng Xuân ngày nay, bởi vì theo lệnh của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng việc khai khản đát hoang, kết lập thôn ấp phải đồng thời từ trên đầu nguồn xuống tơi ra biển.

Năm 1471 khi vùng Bình Định đã sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt thì vùng Phú Yên là đất ki mi. Có chăng một tiểu quốc Hoa Anh (1471-1578?) thì việc chịu ảnh hưởng Đại Việt vẫn mạnh hơn chịu ảnh hưởng Chăm Pa. Với trận Thành Hồ (1578?), giai đoạn liên minh lỏng lẻo giữa chúa Nguyễn và vua Chăm (1579-1597?) và sau đó cuộc khai khẩn của Lương Văn Chánh là người từng điều hành huyện Tuy Viễn (từ 1597) và từ khi lập phủ Phú Yên (1611) đến khi mở dinh Thái Khang (1653), Phú Yên là vùng đất trấn biên, được xác định bằng tên Dinh Trấn Biên (từ 1629)... tất nhiên sự liên hệ giữa Phú Yên và Qui Nhơn (sau này mới đổi là Bình Định) rất chặt chẽ, cả trong đời sống dân chúng và hai đơn vị hành chánh.

Thời chúa Nguyễn, năm 1744 Võ vương Nguyễn Phước Khoát chia đặt cả cõi Nam Hà là 12 dinh và 1 trấn (Hà Tiên) thì dinh Quảng Nam rất rộng, bao gồm cả các phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, trong khi ấy vì nhu cầu xây dựng vùng đất mới Phú Yên đã là một dinh. Thời nhà Nguyễn, năm 1808 vua Gia Long chia lại các đơn vị hành chánh từ Bắc vào Nam làm 23 trấn và 4 doanh, Bình Định và Phú Yên đều là trấn. Sau đó, có khi Phú Yên là một phủ của tỉnh Bình Định (phủ Tuy An năm 1831), năm 1832 trở lại là tỉnh.  Năm 1834 vua Minh Mạng đặt ra các trực, các kỳ, Bình Định và Phú Yên cùng thuộc Tả Kỳ. Từ năm 1853 đến năm 1875 Phú Yên là một đạo của tỉnh Bình Định, mọi công vụ phải trình qua quan tỉnh, trừ việc quân cơ cấp bách tâu thẳng lên triều đình đồng thời thông báo cho tỉnh.

Từ năm 1875 đến năm 1945, Bình Định và Phú Yên đặt dưới sự giám sát và đôn đốc của một vị Tổng đốc Bình Phú, có khi như năm 1944-1945 vị Tổng đốc này kiêm cả Kon Tum và Gia Lai, như ông Pham Phú Tiết là Tổng đốc Bình Phú Côn Gia.

Giai đoạn kháng chiến chông Pháp (1945-1954) Bình Định và Phú Yên trong vùng kiểm soát của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bình Định là trung tâm của Liên khu V.

Về phong tục tập quán, các sử gia triều Nguyễn trong Đại Nam nhất thống chí đã công nhận hai tỉnh có nhiều điểm giống nhau. Trong ngôn ngữ, có tiếng “nẫu” là biến âm của “nậu ấy” dùng để chỉ ngôi thứ ba số nhiều. Nậu, nguyên nghĩa là một nhóm người cùng làm cỏ ruộng, sau dùng để chỉ một nhóm người cùng làm một công việc (như nậu nại, nậu rớ, nậu rổi...), nậu cũng là một đơn vị cơ sở nơi hẻo lánh, dưới cấp tổng, thuộc, ngang với thôn, phường, man... Hiện nay nhiều người Bình Định và Phú Yên ở Sài Gòn tự nhận là “dân xứ nẫu”.

Về văn hóa, từ khoa thi Hương ban đầu của nhà Nguyễn năm 1807, thí sinh Phú Yên thi tại trường thi Gia Định hoặc Huế, từ khoa thi năm 1855 đến khoa thi cuối cùng năm 1918 thí sinh Phú Yên thi tại trường thi Bình Định. Giai đoạn quốc ngữ phát triển, trước năm 1945 cả xứ Trung Kỳ chỉ có 3 trường trung học tại Vinh, Huế và Qui Nhơn, sau khi đậu bằng Tiểu học, học sinh Phú Yên muốn tiếp tục đường học vấn phải ra Qui Nhơn, những năm 1945-1954 Phú Yên chỉ có trường cấp II, học sinh cấp III ra học ở Bình Định, những năm 1956-1975 trường Sư phạm Qui Nhơn là nơi đào tạo giáo viên bậc Tiểu học cho Phú Yên và sau năm 1975 không ít học sinh Phú Yên học tại trường Đại học Qui Nhơn.

Quốc lộ 1A ngày nay, trước gọi là đường thiên lý, đồng thời cũng là đường quan báo, trên đường từng chặng đặt các trạm dịch, có Đội trạm điều khiển các phu trạm đảm nhận công việc chuyển văn thư. Trên đỉnh đèo Cù Mông có trạm Bình Phú chung cho 2 tỉnh Bình Định – Phú Yên, cũng như trên đỉnh Đèo Cả có trạm Phú Hòa chung cho 2 tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa.

Giao lưu về thương mại thì cho đến năm 1945 và có thể nói là đến năm 1954 nhờ cửa biển Qui Nhơn, Bình Định có điều kiện tiến triển hơn, các nhà buôn ở Tuy Hòa, Sông Cầu lấy hàng từ Qui Nhơn về phân phối tại địa phương. Đặc biệt Qui Nhơn có hiệu trà Toàn Phát, nhãn hiệu “con nai đen”, gọi là trà chữ mực, được dân chúng Phú Yên từ đồng bằng đến miền núi ưa chuộng.

Ca dao có câu:

                   Tiếng đồn Bình Định tốt nhà

                   Phú Yên tốt ruộng, Khánh Hòa tốt trâu

Thợ mộc Bình Định nổi tiếng về việc cất nhà cũng như đóng bàn ghế, chắc chắn, đẹp đẽ, mộng ngàm ăn khớp, chạm trổ tinh vi. Họ thường được mời vào Phú Yên và nhiều người lập gia đình, ở luôn xây dựng sự nghiệp tại Phú Yên. Có thể nói trong số đàn ông Bình Định vào cưới vợ Phú Yên đông đảo hơn là thợ mộc và thầy giáo, tiếp theo, ít hơn,  là một số vị thầy võ.

Lịch sử mở đất xuôi theo dòng nam tiến, những người con trai Phú Yên lại vào Khánh Hòa lập nghiệp, cưới vợ, sinh con, sống luôn ở đó. Ngược lại ít khi thấy người Khánh Hòa ra Phú Yên cưới vợ ở lại Phú Yên, hoặc người Phú Yên ra Bình Định cưới vợ ở lại Bình Định.

Chính điều này đã đúc kết thành câu ca dao:

                   Anh về Bình Định thăm cha

                   Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em. /=

 

 TRẦN SĨ HUỆ

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=353198

NGÔI SAO ( The Star) Truyện Ngân ESTHER CLAES - Tràn Cẩm Tú (chuyễn ngữ)
mangvienlong | 02 Mar, 2012, 19:37 | Bài viết của bạn văn | (47 Reads)

 

                             N G Ô I  S A O

                    alt    

                            Nguyên Tác: THE STAR

                       Tác Giả      :   ESTHER CLAES

                       Người Dịch :  TRẦN CẨM TÚ

                        alt

         

                      Một khi thế giới đi đến hồi hủy diệt, chính bạn có cảm thấy xấu hổ khi giam mình trong phòng ngủ suốt ngày chỉ để khóc thầm nức nở?  Bạn nhìn thấy vị tổng thống cũng đang khóc và van xin trên Ti vi, điều này vô tình làm cho bạn càng kinh hoàng và khiếp sợ hơn. Bạn nằm như chết ở trên giường kéo mền phủ kín đầu và làm mỗi một việc là khóc than - bạn không muốn mở cửa cho bất kì ai, người giúp việc, quản lí, đồng nghiệp và ngay cả cha, mẹ của bạn vì bạn biết rõ họ chỉ muốn làm một điều duy nhất là bắt bạn ra khỏi phòng ...

                     Sau hai mươi bốn giờ, cha bạn phá cửa vào, kéo bạn ra khỏi nơi ẩn nấp, đưa bạn xuống lầu vào một phòng khách ẩm thấp được lót thảm trắng, và ghế bành bằng da. Bạn la hét giảy dụa cho đến khi ông ta vác bạn lên vai mang vào phòng. Bạn phản đối dữ dội, và đe dọa lấy lại chiếc Mercedes bạn đã mua cho ông ta vào mùa giáng sinh năm ngoái.

                    Mẹ của bạn ngồi bất động trên ghế bành, tay cầm chắc tờ báo - bà ta nói một cách chán nản rắng tất cả là sự thật không thể khác được.

                   Bạn quắc mắt nhìn và hỏi: “ Cái quái gì đang xảy ra với thế giới này vậy?”. Bạn sẽ vẫn phải tham gia nhiều buổi biểu diễn vào tháng tới mà?

                   Đài truyền hình đầy những đường sọc màu và âm thanh rè rè. Cha của bạn nói rằng tình trạng này sẽ qua nhanh thôi, bạn không cần phải lo lắng nhiều. Ông ta còn nói thêm có nhiều thứ quan trọng đang xảy ra, bạn làm sao lo lắng hết được? Ông ta đã dự định ra mắt một loại nước hoa mới vào tháng tới nhân ngày ra mắt, giới thiệu và phát hành album mới nhất của bạn.

                  Mẹ của bạn thì lại bảo rằng không có album nào ra đời hết. Bạn nói với cha, mẹ họ luôn là những người sai lầm. Bạn không tin những gì bà ta nói, dù bà ta có nói gì đi nữa, sẽ vẫn có một Album ra đời và Ti vi sẽ luôn tồn tại để phục vụ mọi người/ Và điều này sẽ mang lại một luồng sinh khí mới cho những ngày sắp tới dù thế giới có biến đổi như thế nào đi nữa.

             Mẹ của bạn bảo rằng thế giới đang đi dần đến hồi kết thúc. Họ đặt bom ở khắp nơi. Thù hận và đe dọa giết nhau. Còn cha của bạn đã thêm vào nhiều lý do, như bệnh tật, chất phòng xạ, chất độc trên khắp đất nước.

Nhưng không phải ở LA  một mình bạn đã hét lên phản đối

             Mẹ của bạn cầm tờ báo như minh chứng cho những gì bà ta nói. Chiến tranh nổ ra nhiều nơi, đi cùng với nó là thảm cảnh diệt vong, tàn phá đất nước ngay cả ở LA. Bạn cảm thấy sợ hãi, choáng váng. Bạn muốn biết,  bạn có thể làm gì để ngăn chặn điều ám ảnh kinh hoàng này, và bạn nghĩ bất cứ ai cũng có thể làm một điều gì đó để đạt được những gì mình mơ ước cho đời sống.

               Hai ngày sau đó - cha, mẹ bạn thảo luận về sự sống còn, và đổ đầy nước từ vòi vào những chai, lọ có sẳn, phòng khi cần.  Cha bạn lo lắng về việc điện có thể tắt bất kì lúc nào. Bạn ngồi ở trong phòng khách tự hỏi tại sao tất cả những người giúp việc lại bỏ nhà ra đi vào một ngày trước đó và những người phụ tá có nhắn gửi gì cho bạn hay không? Sự liên lạc duy nhất với thế giới bên ngoài là Radio, nhưng nó cũng không cung cấp thông tin có ích gì mà chỉ toàn là tiếng khóc than, tiếng cầu nguyện trên tất cả các băng tầng. Cha bạn khuyên nên bậc kênh AM bởi vì ở đó có nhiều thông tin có ích hơn.

               Bạn nghe những báo tin về cái chết và sự tàn phá ở khắp nơi. Và tất cả những điều mà bạn có thể nghĩ bây giờ là hi vọng LA sẽ không sao, sẽ được bình yên như xưa? Nhưng khi nghe đến bản tin về những người chết trong xe hơi, vì các tai nạn - thì kênh này cũng giống như các kênh khác mà thôi. Một kênh đài mà sao lại nói toàn những việc khó nghe, u ám như chiến tranh, đau bệnh và chết chóc vậy?. Một nơi đẹp như Hollywood mà cũng sẽ bị tàn phá thì làm sao dám chắc LA sẽ không sao?

              Vào tối hôm đó điện cúp, mắt của bạn đau rát và đầy những giọt nước mắt nản lòng. Bạn thắp lên những cây nến thơm mà bạn để dành cho những dịp đặc biệt. Radio hoạt động bằng pin, nhưng chúng không kéo dài lâu được. Cha của bạn bảo rằng phải tiết kiệm pin, không được mở quá nhiều. Bạn ngăn ông ta lại và nói rằng: Bạn có cả hàng ngàn cục pin dự trữ loại này. Người nam phát thanh viên trên Radio báo tin rằng bờ biển phía Đông bị tàn phá dọc theo Detroit và Chicago. Chất bụi phóng xạ đang lan ra với tốc độ kinh hãi. Bạn mong ước có một tấm bản đồ để có thể theo dõi, biết rõ sự di chuyển, tàn phá của phóng xạ, của thiên tai, của chiến tranh đã gây kinh hoàng, thảm khốc cho con người. cho quê hương như thế nào ?

             Thay vì cứ ngồi một chỗ mà lo lắng - bạn đã đi ra ngoài tìm việc gì đó để làm. Bạn muốn trang điểm móng tay để mong tìm sự bình tâm trở lại, nhưng bạn lóng ngóng làm đổ chai nước lên tấm thảm - bạn biết mình không thể  an tâm làm gì nữa, đành bật khóc.

              

             Vào một buổi sáng. cha bạn báo tin mẹ bị đau nặng, và ông ta cũng cảm thấy không được khỏe. Bạn mở to mắt nhìn,và bảo họ uống thuốc, nhưng không hiểu sao bạn luôn tin tưởng là họ sẽ không chết, không  bỏ bạn lại một mình. Vì vậy bạn quay trở lại phòng mình, ngồi trước cửa sổ. Nhà và vườn của bạn vẫn như xưa, không có gì thay đổi. Bạn tự hỏi cái gì đã thay đổi bên ngoài cánh cửa kia?

                 Buổi chiều, bạn mang bốn huy chương vàng và ba giải thưởng Grammy treo lên phòng để bạn có thể ngồi ngắm chúng. Bạn đưa tay sờ lên tên mình được ghi trên giải thưởng. Và bạn cũng thoáng chút ngạc nhiên – không hiểu, làm thế nào một người bình thường như bạn có thể đạt được quá nhiều giải thưởng trong một thời gian ngắn như vậy? Nên bạn nghĩ - mình không được phép sợ hãi, mình là một ngôi sao, được sự bảo vệ của Chúa - bạn có thể làm tốt mọi chuyện.

                Cha của bạn gọi to tên bạn trong phòng khách, giọng của ông ta yếu và nghèn nghẹn. Bạn không muốn ông ta làm bạn dao động thêm nữa nên im lặng. Bạn kéo mền trùm kín đầu và nhắm mắt lại. Giọng nói của cha bạn xa dần xa dần và mất hút. Bạn ôm chặt giải Grammy vào ngực và ngủ thiếp đi.

 

              Ngày mai, bạn tỉnh dậy và mọi thứ sẽ tốt hơn. Ngày mai bạn cũng sẽ lên sàn diễn như thuở nào - vẫn quyến rũ, vẫn đáng yêu như trước. Ngày mai đồng nghiệp sẽ xin lỗi vì đã không gọi bạn, và ngày mai bạn vẫn mãi là một ngôi sao mang lại niềm tin yêu cho tất cả…

  TRẦN CẨM TÚ

( chuyển ngữ)

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=352678

ĐÊM ĐỌC THƠ HOÀNG LỘC Vương Đúc Bình
mangvienlong | 28 Feb, 2012, 20:02 | Bài viết của bạn văn | (34 Reads)

ĐÊM ĐỌC HOÀNG LỘC 

 Vương Đức Bình

  

Đêm nay qua trông nhà giùm cô em gái. Căn nhà không xa phố chợ, chỉ cách một dòng sông. Bên kia sông phố chợ rực rỡ ánh đèn nhưng ở đây đìu hiu kinh khủng.

Hoàn toàn tĩnh mịch. Thứ âm thanh duy nhất nghe được là tiếng thạch sùng chặc lưỡi ngoài hiên! Cũng không phải rãnh rỗi gì nhưng trong đêm sâu buồn hoang vắng này chỉ còn muốn ngồi bó gối để nói chuyện với chính mình mà thôi. Nói chuyện với chính mình có khi không phải là độc thoại mà là nghe tiếng nói của người kia vang vọng trong tâm tư của mình. Ấy là khi mở quyển thơ của Hoàng Lộc ra đọc lan man!

Cô em gái vừa gởi về quyển thơ còn mới tinh thơm, trang nhã. Hơn một trăm bài thơ! Chắc phải còn lâu mới đọc hết cả trăm bài đó! Thơ chớ có phải giáo trình đâu mà phải đọc tuần tự hoặc đọc cho nhanh. Câu thơ đâu chỉ có chữ nghĩa, cú pháp. Câu thơ là món quà của một cuộc đời riêng, là sự rung động tế vi của một tâm hồn đòi lan tỏa tới kẻ tha nhân. Câu thơ có thể được viết ở một không gian nào đó, một thời điểm nào đó, trong một cõi phù vân thực mà huyễn mộng, theo trang giấy run rẩy tới đây, trong đêm sâu này, để “cho dẫu phù vân” cũng có thể giao hòa một nhịp tâm tư:

ta nằm im

một mình nghe

cái thinh không

lạnh

bốn bề thinh không

và nghe tiếng gió trong lòng

thổi như xé buốt trăm năm trễ tràng

(nằm nghiêng với bệnh, trang 68)

Vậy đó ta với người giờ đây chia sẻ cái-thinh-không-lạnh-bốn-bề-thinh-không. Ta đọc một bài ở trang này, trầm ngâm trong cô quạnh, nghe lòng ta lòng người nói với nhau. Ta bỏ một bài ở trang kia vì không nói gì với ta trong cái đêm sâu này.

Tập thơ là của một kẻ đã luống tuổi đời, kẻ ngắm nhìn hoa còn tiếc vẻ đẹp của ngày nào năm trước: Đào hoa y cựu tiếu đông phong! Cái ảo ảnh của người tình nhân xa rồi của năm xưa vẫn còn hoài, làm tình làm tội:

năm mươi năm đời ta

                    hoài con bướm thức

hoa vàng nhà em đêm khờ - trở giấc

thì ra có thiệt mùa xuân

bướm đã già rồi –

                tội lắm – tình nhân !

(thơ xuân của bướm già - trang 46)

Ơ hơ! Hoa có nở vì bướm già đâu. Chẳng phải đã có kẻ ngày xưa bùi ngùi:

Kim nhật hoa tiền ẩm
Cam tâm túy sổ bôi
Đản sầu hoa hữu ngữ :
Bất vị lão nhân khai. 

(Ẩm tửu khán mẫu đơn - Lưu Vũ Tích)

Hôm nay uống rượu ngắm hoa

Cạn đôi ba chén gọi là mua vui

Chỉ e hoa nói lên lời:

Em không phải nở cho người già nua.

(Bản dịch của Tương Như)

Kẻ tình nhân già nọ:

có những bài thơ viết khi nào không nhớ

lật ra dòm – bỗng thấy bóng em trong

có một loài hoa một đời chưa chịu nở

bỗng vì em mà phải nở rất buồn

(thơ tình của người có tuổi – trang 176)

rồi tóc trắng phất phơ chiều sương khói
thế xuân thu rẻ rúng chuyện công hầu
tình cũng chảy mỗi dòng theo mỗi cõi
ai trách lòng ta khỏi biển xanh dâu?

câu thơ viết bên kia trời tưởng nhớ
đưa ta về ray rứt giữa canh đêm
trăng phố thị dẫu tàn hiên cổ độ
dễ nguôi khuây những ngọc nát châu chìm.

(mưa cuối đời thơ - trang 47)

Thế thôi chuyện biển xanh tang điền, lấy ai mà trách lòng ai! Sông xưa đã rẽ mấy dòng, tình xưa phố cũ châu chìm giữa đêm! Hoài giang có ai còn thấp thoáng bóng ngà bước qua phố đèn lồng trong đêm trăng? Đâu đó cố hương có ai để chia sẻ nỗi lòng?

Ta làm kẻ xa - người chưa gặp một lần - mà không lạ, trong đêm vắng làm người lắng nghe, để cho giọt lệ Giả Đảo được nâng niu:

Nhị cú tam niên đắc

Nhất ngâm song lệ lưu

Tri âm như bất thưởng

Qui ngọa cố sơn thu.

để cho - khi mà:

...

cây đời ta gãy hết

những ngọn tình phù vân

...

(ngoại ô, đêm - trang 36)

thì ở nơi đây - đêm nay cũng là một đêm ngoại ô - cũng đâu phải cần làm chi nhiều lắm đến hai câu:

hiểu sao  nhị cú tam niên đắc

chỉ nửa câu đây đủ khóc ròng

….

(lạc địa - cho dẫu phù vân 17)

25-2-2012

 VƯƠNG ĐỨC BÌNH

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=352276

V Ũ N G L Ầ Y Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 23 Feb, 2012, 07:50 | Truyện Mang Viên Long | (79 Reads)

 

V Ũ N G  L Ầ Y

 Truyện Ngắn

MANG VIÊN LONG

 

             Hắn cao hơn một mét sáu một chút – không thể gọi là ốm, cũng không xem là mâp. Dáng người tầm thước, trung bình – như bao người khác mà chúng ta thường gặp. Chỉ có khuôn mặt – có đôi nét khác thường: Đôi mắt sâu, nhỏ. Không hề thấy mở lớn, hay nhỏ hơn – cứ một vẻ cố định như hai lổ hổng trên thân cây. Nó mở ra, cố định – cứng ngắt dù lúc vui hay buồn. Chiếc miệng – ít khi mở lớn, ngay cả lúc nói và nhất là lúc cười: luôn đóng kín lại sau mỗi lần mở ra. Bởi vậy – giọng hắn cũng một âm điệu, một chuẩn mực đều đều, nhàn nhạt, lửng lơ! –“ Hì hì…cái thằng cha ấy mà!” - “Hì hì…cái con mẹ ấy mà!”. Vừa nói, vừa nhìn đâu đâu – hắn không hề dám nhìn vào mặt người đối diện bao giờ.

          Nhìn hắn, và nghe giọng hắn – ai cũng có cảm giác là hắn không quan tâm tới bất kỳ điều gì! Không thể gần gũi, thân thiết – với bất cứ ai. Nó trơn trụi như mặt một tản đá. Có lẽ, ngay cả khi đối diện với người mà hắn cho là đã yêu thương cũng thế chăng? (Hay với vợ và đứa con gái duy nhất của hắn bây giờ?). Hắn tỏ ra cách xa mọi người – như một kẻ từ trên cao nhìn xuống, cách biệt –  coi thường. và không hề tỏ ra quan tâm tới ai cả! Vậy mà – không biết sao, hắn vẫn thường nói nhiều về những đứa con gái mê hắn, theo hắn một cách khó hiểu? Và, có một điều mâu thuẫn khó hiểu nữa, là hắn lại thường moi tìm mọi chỗ để chê trách người chung quanh cho dầu đó là những điều mà không ai thấy, không ai quan tâm. không là chuyện gì khác thường để quan tâm?  Và, hắn thường tỏ ra hãnh diện – (được nhận thấy trên khuôn mặt trơn tru lạnh ngắt bổng căng ra) - vì đã làm điều khác mọi người!

          Không ai biết hắn đã học hành tới đâu – có loại bằng cấp gì, nhưng chỉ biết rõ là hắn đang  là anh công chức ở một cơ quan tài chính của tỉnh sắp nghỉ hưu. Vậy mà – hắn thường bàn về văn học thế giới (về tôn giáo, về các ý thức hệ… ) – thường bắt đầu bằng câu hỏi: “ Cậu đã đọc Enest Hemingway. Erich Mariaremarque, Leon Tólstoi.  Stefan Zweig, Súsean Donovan, hay Kalei Florder, Jennifer Crusie (..) chưa?”.  Và, như một người sành thạo – thỉnh thoảng, hắn chêm một câu tiếng Pháp vào giữa câu nói – không ăn nhập gì đến câu chuyện.

           Lúc không thể chắp vá lại được các kiến thức vụn vặt không đâu vào đâu của các tác giả nước ngoài ấy hắn bèn đọc dăm ba bài thơ của hắn để minh chứng cho cái tài năng văn học ít ai có thể đạt tới ở xứ này. Ví dụ 4 câu hắn thường hiu hiu goi là “tuyệt tác” trong loại thơ tứ tuyệt, sánh ngang hàng thơ Lý Bạch, Đỏ Phủ đời Đường:

                      “ Áo em trắng phủ  mờ sương lạnh

                         Che lấp đời ta giữa tháng đông

                         Phố thị buồn tênh chiều tiễn biệt

                         Anh buồn da diết cõi hư không”

            Tóm lại , trước hết - người nghe thơ của hắn có chung một cảm nhận là sự ngạc nhiên đến lạ lùng, vì tìm mãi trong ý thơ của hắn, không có chút dính dáng gì đến con người hắn cả! Lạ lùng đến nỗi – họ nghĩ, hắn có thể copy ý thơ, lời thơ của ai? Giữa thơ và người, là một sự mâu thuẫn ghê sợ. Dạo này, thơ không biết ở đâu mà lại bay đi tràn lan – có kẻ tự hào, một ngày làm đến năm bảy bài thơ các loại. từ thơ tình đến thơ thế sự, xã hội, tôn giáo…Người ta thấy hắn làm thơ đề tặng cô này cô nọ - chịu khó nghe đọc, để tìm sự thích thú trong cái ngạc nhiên lạ lẫm lúc ngồi ở quán café, quán nhậu - chứ không phải là cảm nhận của thi ca. Thi ca không có mặt, không tồn tại trong sự ngụy tạo dối lừa mình, phỉnh gạt người!            

             Hết đọc thơ, hắn than: “Trong máy điện thoại của mình tái khoản có luôn trên máy mấy trăm ngàn mà có bao giờ dùng đâu?”. Giọng hắn nhỏ, đều đều – rè rè – tưởng như nói với chính hăn: “Ở trong cái thành phố này, mình cô độc lắm! Cô độc và buồn bã ngay trong cái nhà của mình nữa trong bao nhiêu năm trời!”. Rồi hắn nhắc tên người này người nọ (trong và ngòai nước) đã gởi cho hắn tiền để trả khoản nợ vỡ hụi của vợ hắn lên đến mấy trăm triệu không biết bao nhiêu lần. Hắn tỏ ra thất vọng kể về mấy nhân vật mà hắn cho là “khó ưa” trong cùng cơ quan dã không thể “chơi” được; không hề nhận ra “tài năng đa dạng” của hắn trong mấy chục năm trời, mà cũng chẳng hề bỏ ra xu nào trong lúc gia đình hắn khốn đốn vì nợ kêu réo!  Ngồi nghe hắn, ai cũng thấy rất rõ có một điều dễ nhận ra mà hắn không hề nhìn thấy - là suốt bao năm, có thấy hắn tỏ ra “ưa” thật lòng ai đâu – mà ai đem lòng ưa hắn? Chẳng lẽ trong bao nhiêu con người chung quanh đời hắn ( ngay những người thân, vợ và con) – không có được một vài người để hắn tin tưởng, yêu thương? Người ta cũng thắc mắc: “ Vậy mà hắn cũng cưới được vợ mới là điều lạ!”.  

             Bất cứ gặp người quen ở đâu (quán café, trong đám giỗ, tiệc cưới, hay bên hè đường) – với giọng sắc nhỏ, nhát gừng. lạnh băng – chui ra từ chiếc miệng khin khít hai hàm răng – hắn quở trách người này, kẻ kia ( vì chuyện này chuyện nọ) mà người nghe biết rất rõ là hắn chỉ biết lỏm bõm trong  các vấn đề này!

 

                 Không hiểu vì lý do nào, bổng nhiên hắn bỏ cơ quan – đi đâu mất biệt gần tháng trời sau khi đến tòa ký vào giấy xin ly hôn của vợ.  Nhiều tin đồn đãi về hắn trong lức căn nhà được tòa đem ra bán đấu giá để trả nợ cho chủ. Nhiều người nghĩ rằng, ngôi nhà trong con hẻm nhỏ - không phải là cái lý do chính để hắn bỏ đi, nhưng không ai hiểu gì thêm. Người ta chỉ thấy vợ hắn cùng đứa con gái đang học lớp 12 phải ra thuê một căn phòng của ngôi nhà cấp bốn nhiều phòng, được dựng lên trên khu đất khá rộng vốn là vườn cây ngoại ô, để cho học sinh, sinh viên, hay cán bộ nghèo thuê tạm.

             Còn hắn, sau khi về lại cơ quan xin được cho về nghỉ hưu vì lý do sức khỏe trước thời hạn - vội vã mang túi xách ra đi. Như chạy trốn. Đứng bên đường đón xe khách Bắc –nam, hắn cứ chốc chốc thò tay vào túi áo. lấy chiếc máy điện thoại di động -  bấm máy, thoáng nhìn vào máy rồi cất vào túi. Không rõ hắn muốn xem giờ, coi tin nhắn, hay muốn gọi cho ai? Mấy trăm ngàn trong tài khoản có của máy chắc vẫn còn nguyên như cũ?

              Sau nhiều tháng ngày lêu bêu, lang bạt đó đây – hắn không còn tiền để thuê được một căn phòng trọ rẻ mạt nhất ở khu bến xe, hay xóm chợ ngoại ô. Một buổi chiều, người ta thấy hắn đi mãi miết ra vùng quê xa thành phố đến hơn mười cây số. Phía trước hắn là con đường dẫn lên con xóm lác đác vài ngôi nhà tranh, nhà lá – phía xa là chân đồi, ngọn núi mờ nhạt như bức tranh nhòe.

              Hắn cứ đi. Không hề thấy quay đầu nhìn lại…

              Cuối cùng, khi mặt trời đã nằm gần kề dãy núi phía tây bên trái con đường mòn – hắn cũng nhìn thấy được mái ngói rêu phong của ngôi chùa mà bà chủ phỏng trọ đã nói với hắn lúc sáng. Ngôi chùa có tên “ Linh Phong Tự”.

              Hắn khẻ đẩy cánh cửa cổng chưa được cài then – lách mình vào, toàn thân như chiếc bong bóng bị xẹp. Hắn bước nhè nhẹ từng bước vào khoảng sân đất đầy lá khô. Tiếng khua – dù rất khẻ, cũng đôi lần khiến hắn hoảng hốt, dừng lại.

              Từ chiếc cửa chánh điện khép hờ, hắn nhìn thấy vị sư già ngồi bất động, như một pho tượng. Hắn tựa cửa, đứng nhìn – chờ đọi. Mỏi mệt, hắn ngồi dựa vào vách tường phía trước. Chờ đợi.

              Không rõ đã mấy giờ đã trôi qua mà hắn không hề nghe thấy một tiếng đọc kinh nhỏ - hay một âm thanh nào – ngoài tiễng muối vo vo mỗi lúc một nhiều.

              Hắn ngồi yên như vậy.

              Và ngủ...

              Tiếng vị sư vang lên như tiếng sấm làm hắn giật mình, đứng bật dây như con robot được bấm nút. Hai tay chắp trước ngực – trân tráo nhìn vị sư qua ánh đèn nến leo lét ông đang cầm trên tay. Có lẽ, trong cuộc đời của hắn – đây là lần đầu tiên đôi mắt sâu. nhỏ của hắn đã mở lớn đến vậy?

-         Ta biết con sẽ đến đây từ khi con bắt đầu rời thành phố…

-         Dạ…

-         Ta đã tự ra mở cánh cửa chùa, bỏ hờ đó – sau khi chú Thiện Trí đã khóa.

-         Dạ..

-         Những điều con muốn tìm không có ở đây đâu!

-         Dạ…

              Khi vị sư gìà chớm bước đi – hắn òa lên khóc : “ Thầy ơi! Vậy con phải tìm ở đâu?”

-         Trong con chưa hề có chút gì con muốn tìm cả, thầy cũng không giúp gì con được – Vị sư quay lưng, lặng lẽ bước đi.

-         Thầy ơi!

-         Gì vậy?

-         Thầy ơi! Con khổ lắm!

-         Thầy biết! – giọng vị sư già ôn tồn, kẻ nào đã làm cho đời con khổ như sa vào vũng lầy vậy?

             Hắn im lặng.

             Đứng yên như một thân cây.

             Nước mắt hắn cứ chảy tràn qua mặt – nhỏ xuống giọt giọt, mỗi lúc một nhanh.

             Vị sư bước đi vài bước – chợt quay lại: “ Con có lúc nào được khóc như vậy chưa?”

-         Thưa, chưa…

-         Vậy hãy đứng yên mà khóc đi, nhé? Những giọt nước mắt sẽ chỉ cho con thấy điều con muốn tìm đó, con ạ!!

-         Dạ..

Tiễng vị sư già vang lên như tiếng chuông:

-         Rồi con sẽ tự vượt ra khỏi vũng lầy, và thấy điều con muốn tìm là không xa…

  MANG VIÊN LONG

    

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=351498

ĐỌC "CHO DẪU PHÙ VÂN" - TẬP THƠ THỨ 4 CỦA HOÀNG LỘC
mangvienlong | 20 Feb, 2012, 01:56 | Tản văn Mang Viên Long | (71 Reads)

alt

ĐỌC TẬP THƠ THỨ 4

CHO DẪU PHÙ VÂN “

 CỦA HOÀNG LỘC

alt

 

          T Ì N H  Y Ê U  K H Ô N G  B A O  G I Ờ  C Ũ

 alt    mang vien long

             Bài Viết:

            MANG VIÊN LONG          

                            Cách đây hai năm, trong một lần phone về thăm, nhà thơ Hoàng Lộc có nói ý định, đang chuẩn bị “ý tưởng” cần  thiết cho tập thơ thứ 4 của anh. Dịp này, anh cũng cho biết sẽ chọn lại trong hơn 500 bài thơ đã viết trước và sau 75 - ở quê nhà hay lúc tha hương, và chỉ lấy khoàng 100 bài cho tập thơ tình này. Nghe tin vui – tôi đã luôn động viên, nhắc nhở HL là nên có một tập thơ sau hơn 12 năm ( tập “ Qua Mấy Trời Sương Mưa XB ở Hoa Kỳ năm 1999) để ghi dấu kỷ niệm một chằng đường dài sống gắn bó với Thơ!

       Trong hai năm – chúng tôi thình thoảng tiếp tục trò chuyện về “ dứa con” sẽ chào đời này, dầu tôi vẫn biết HL rất kỹ tính, thận trọng – và không có gì tỏ ra vội vã! Nhưng, nếu nói theo lý “nhân duyên” – thì năm 2012 là năm “đủ duyên” cho tập thơ thứ 4 được ra đời – đỉnh đạt đến với người yêu thơ tình Hoàng Lộc từ gần nửa thế kỷ qua…

        CHO DẪU PHÙ VÂN  đã được phát hành đúng ngày Lễ Tình Nhân ( Valentine 14 th 2 – 2012) là một sự trùng hợp thú vị. Cho Dẫu Phù Vân gồm 107 bài thơ tình đã được HL sáng tác trong nhiều chục năm; được họa sĩ Đinh Cường ưu ái vẽ tranh bìa và minh họa; nhà thơ – nhạc sĩ Nguyễn Trong Tạo tình nguyện trình bày bìa – do nhà xuất bản Hội Nhà Văn cấp giấy phép. Sách dày 200 trang, in trên giấy trắng láng, bìa cứng dày mầu nâu sáng nhũ chữ vàng, và lớp bìa áo ngoài trên giấy satine láng cứng…Tất cả đã làm nên một tập thơ tình thật trang nhã, mỹ thuật –nhưng giản dị. Có thể nói – đây là một tập thơ quá đẹp!

         Trong lời “ Cảm Tạ “ được đưa lên trang Blogs Thơ Tình HL – nhà thơ đã ghi: “ …Đến hôm nay, thi phẩm “ Cho Dẫu Phù Vân” cũng đã ở trên tay một số bằng hữu và độc giả thơ tình Hoàng Lộc. Tôi xin bày tở lời cảm ơn chân tình với các bạn rất xa của tôi:

       Nhà báo Biki Bùi (Mascow), Nhà Văn Trần Thùy Mai (Huế) & (..) – là những người tôi chưa gặp bao giờ, đã hổ trợ cho tôi một cách vô tư nhất để tác phẩm thơ Hoàng Lộc được ra đời. Chính những người bạn này là những người đầu tiên nêu ý tưởng về việc in thơ Hoàng Lộc tại Việt Nam. Quê hương tôi. Và với tránh nhiệm trong công việc, các bạn đã tận tình giúp tôi, nên tuy xa đến nửa vòng trái đất, mà chỉ trong một thời gian kỷ lục, tôi cũng kịp có thơ tình tặng bạn đúng vào dịp Lễ Tình Nhân măm 2012. Tôi cũng xin tạ lòng những bạn hữu khác đã chăm lo cho sản phẩm văn hóa này: Họa Sĩ Đinh Cường (Hoa Kỳ), nhà thơ – nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo (Việt Nam), nhà thơ Phan Xuân Sinh ( Hoa Kỳ) & (..) “.

            Cảm nhận đầu tiên của tôi khi đọc “Cho Dẫu Phù Vân” không khác với ghi nhận lúc đọc tập thơ thứ 2 ( Trái Tim Còn Lại –XB năm 1971 tại Saigon của Hoàng Lộc qua bài viết được đăng trên tuần báo KH lúc bấy giờ) : Hoàng Lộc chỉ “thích hợp” với thơ Tình! Qua hơn 40 năm. trang thơ tình Hoàng Lộc đã dần dần hình thành một “phong cách thơ tình HL riêng” – ngày một phong phú, rõ nét và sâu sắc với nhiều cảm xúc mới, nhiều tâm trạng lạ, nhiều ý tưởng rất tiêu biểu cho một phong cách “ thơ tình rộng lớn” trong cõi tình riêng của đời mình! (Trong cõi tình riêng “anh &em” này luôn bàng bạc cái tình chung của quê nhà, của số phận, của đời sống quanh ta – đã đẩy những dòng thơ tình HL lên cao hơn. mạnh mẽ và mới lạ theo từng biến đỏi của nhịp sống, của sự từng trải, dày dạn thăng trầm…)

           Thơ tình HL không bay bướm, không gắng gượng tạo cái mới để hấp dẫn đánh lừa người đọc – nhưng tự những cảm xúc chân phác, tự trái tim thao thức trăn trở bao năm – đã bật nên những dòng thơ không thể đè nén, khỏa lấp, hay quên lãng: Đọc thơ tình HL tôi luôn cảm thấy thật thoải mái, gần gũi, cuốn hút thú vị vì sự giản dị chân tình, vì cái hồn nhiên trong Tinh Yêu, vì chính cuộc đời  quá đổi phong trần của nhà thơ ! HL đã sống & viết thơ tình cho chính cuộc đời mình bằng một ngôn từ không mới, hình tượng không lạ – nhưng cái chính cái được xem là bình thương kia đã làm nên sự phi thường trong thơ anh vì tính rất chân xác được trải nghiệm. được ấp ủ bao năm - ( mà không thể có ngôn từ & hình tượng nào thay thế được) – và không phải người làm thơ nào cũng nhận ra, và làm được…

          Ví dụ: Bài “Chổng Mông Trông Người “ ( trang 55 dài 6 đoạn – 24 câu). Xin lược ghi 3 đoạn :

          “quần thủng đít ngó trời, trán vùi xuống gối

            mẹ phá lên cười thấy anh nằm chổng mông

            bảo: chỉ mình mi mẹ nuôi chưa nổi

           em út làm gì –đừng con, đừng trông!

 

      … mẹ nuôi một anh ra ngày khôn lớn

           kể mấy mươi năm thôi nằm kiểu ấy

           nghi hoăc người xưa nói lời xằng bậy

           chứ thế nằm nào là thế trông em?

 

      …như phép mầu rất kì diệu linh thiêng

          hễ anh vừa chổng mông là em vừa ghé

          anh muốn nói một điều riêng với mẹ:

          con chổng mông nằm để trông tình!(..)

          Trong bài “Vang Động” ( tr 7- dài 4 đoạn) đã được HL viết từ rất lâu – nhưng quả thật “âm vang” bao năm ấy vẫn còn kéo dài suốt cuộc đời thơ anh – xin trích đoạn cuối:

     … “ lòng vẫn thế cứ theo cùng mây nổi

             biết trong ta chẳng vắng được quê nhà

             em vẫn thế của những ngày xưa cũ

             là những ngày vang động mãi trong ta”

           Đọc thơ HL – tôi cũng dễ nhận ra sự vi tế hòa hợp tự nhiên của nhạc tính & ngôn từ - cho dầu là trong bất kỳ thể thơ nào! Âm nhạc nằm trong ngôn từ, cách diễn đạt ngắt câu rất bất chợt. đầy tính sáng tạo. Điều này đem lại nhiều thú vị cho người đọc thơ.

           “ đã biết rằng yêu nữ sinh rất khổ

              nào hay yêu cô giáo lại khổ hơn

             ta, trái đất – một đời quay lảo đảo

             một đời yêu mà chẳng thể tròn vòng (..)”

                         ( Gởi Cô Giáo – tr 19 )

           “ mời em chút rượu mừng sinh nhật

              chắt ở đời ta – chắt của thơ

              em thắp trăng thề khêu hẹn ước

              yêu thương nán lại đến bao giờ?

      ….  đã chắt đến khi không thể chắt

             chỉ bấy nhiêu - thơ cỗi, đời già

              tưởng khóc, mới hay không thể khóc

              ngồi giữa ngày sinh nhật một bóng ta(..) “

                         (Rượu Mời Sinh Nhật – tr 32)

     Và một đoạn trong “ Bữa Rất Buồn” ( tr 148):

         “ đã buồn không bữa nào hơn

            ngoài kia gió thổi

           đêm trường

           ủ ê

            ra đi để trở lộn về

            yêu em

            để một đời nghe tồi tàn

        …ta thèm được một cơn say

            mà con sâu rượu lâu ngày đi đấu? “

    Thơ lục bát thường được HL sử dụng, nhưng sự cách tân trong cách ngắt câu, cách dùng ngôn từ bất chợt đầy sáng tạo – đã đem lại một sinh khí mới cho thể thơ dễ làm, nhưng khó đạt nay.

           “ hạt lệ ta, hạt lệ người

              kể như đã thấm vào nơi tuyệt tình?

              hạt lệ em hạt lệ mình

              có khi rớt ở biển xanh mất rồi?

          …sao không úp hạt lệ gần

               lên vai nhau khóc một lần rồi thôi? “

                    ( Nổi Chìm Hạt Lệ - tr 62)

             “ anh đi về phía niềm vui

                 hỉ thần

                 ôi, hỉ thần ngồi tủi thân

                 anh đi về phía tình nhân

                 thì em vừa đủ mấy lần đổi thay

                 

                 có không về một ngày xưa

                 là em

                 và thuở mình chưa có gì?

                 đã đời một đứa tình si

                 trang thơ bèo bọt từng khi trắng lòng (...) “

                         ( Bài Xuất Hành   - tr 158)

         Là thơ tình – HL viết rất nhiều ( trên 500 bài) – nhưng mỗi bài, người đọc luôn cảm thấy rất mới! Mới, vì nhiều lẽ : Trái tim yêu thương nhạy cảm quá đổi chân tình ( cho dầu có nhiều cuộc tình khác nhau đi qua đời thơ). Có thể nơi bản chất mầu nhiệm của Tình Yêu là không bao giờ cũ với những trái tim thương yêu chân thành. Và – như một đọc giả đã nhận xét: “ .. Anh luôn chỉ viết về một chữ tình mà thơ của anh đặc biệt hơn những người khác  : Anh có viết bao nhiêu năm, tứ thơ từ bao nhiêu người - thơ anh vẫn chuyên chở một khối thất tinh dường như chỉ với một người vậy. Khác là ở chỗ đó, và thơ anh có thể hay cũng ở chỗ đó.  Và ai đọc, họ cũng có thể nghĩ trước sau những bài thơ ấy chỉ viết dường như với một .... mình (anh)”. Tôi nghĩ thêm, thơ tình HL còn canh cánh đau đáu cái tình của quê hương xa cách, của cõi đời vô thường biển dâu đầy hệ lụy của kiếp nhân sinh. nên TY ở thơ anh rất rộng lớn, có thể bao dung được tất cả chăng? (Ví dụ như bài thơ “ Lạc Địa” ( tr 16) mà tôi rất yêu thích - đã có lần bày tỏ trước đây. Xin mời đọc trên vanchuongviet.org hay trên các trang Website khác).

           Có quá nhiều bài thơ tôi  đã yêu thích từ rất lâu – nhưng trong giới hạn của một bài giới thiệu – không thể bày tỏ cho thật đầy đủ. Chỉ xin ghi nhận đôi điều tiêu biểu để kịp chia vui cùng nhà thơ & chia sẻ cùng bạn dọc thân mén.

           CHO DẪU PHÙ VÂN nhưng Tình Yêu vẫn mãi sống trong lòng mỗi chúng ta cho đến ngày tận thế?

 

Quê Nhà, đêm 18 th 2 năm 2012

MANG VIÊN LONG

         

    

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=351001

NGƯỜI KHÔNG GIỐNG AI Truyện Ngắn TRẦN MINH NGUYỆT
mangvienlong | 18 Feb, 2012, 03:57 | Bài viết của bạn văn | (61 Reads)

NGƯỜI KHÔNG GIỐNG AI.

 

Truyện Ngắn

 TRẦN MINH NGUYÊT

 

           Hắn là bạn thân của tôi từ thuở tóc còn để chởm đến bây giờ - Hắn có một cái tên rất ấn tượng: “ Trần Đại Hà”. Do vậy mà lũ bạn của Hắn và tôi hay gọi Hắn bằng cái tên trìu mến là “ thằng cầu Nại Hà” hay là người - giữ - cầu - Nại – Hà. Là bạn rất thân của Hắn, đôi khi thấy lũ bạn đùa giỡn quá trớn, tôi cũng cảm thấy tội nghiệp - xót xa, trong khi đó Hắn lúc nào cũng cười tỉnh bơ xem như không có việc gì xảy ra cả! Và, đôi khi, tôi còn có cảm giác Hắn lại tỏ ra thích cái tên đó nữa chứ. Nhiều lần bực mình - tôi gắt :

-         Bộ cậu đông cứng lại rồi à? Sao cậu không phản ứng gì hết vậy? Đùa giỡn gì mà quái ác quá?

        Hắn cười hiền:

-         Lỗi đâu phải ở họ, tại ba, mẹ mình đặt tên vậy mà. Với lại họ gọi đùa vậy chứ có ác ý gì đâu ?

         Hắn còn nói thêm:

-         Như thế này mà cậu thấy buồn rồi sao? Ở xóm này ai cũng yêu quý mình, nhưng họ luôn dặn mình là không được đến nhà họ vào ngày mồng một, ngày rằm; có người còn cẩn thận hơn cấm cửa mình vào buổi sáng nữa kìa, họ sợ mình mang điều không may đến cho họ. Ban đầu mình buồn lắm, nhưng lâu dần mình quen rồi…

       Tôi không biết nói gì để an ủi Hắn trước một sự thật quá đau lòng và quá quắt như thế - đành yên lặng lãng sang chuyện khác.

    

        Người ta thường nói: “Không ai thương mình bằng chính mình thương mình”. Vậy mà Hắn nhiều lần bảo với tôi : “ Mình ghét cái bản mặt của mình nhất, ghét kinh khủng, ghét thâm căn cú đế, ghét cái tính chẳng giống ai của mình!”. Lần đầu nghe vậy, tôi ngạc nhiên, tròn mắt nhìn Hắn, nhưng lâu dần tôi cũng quen dần với những câu chuyện mà Hắn bảo là “chằng giống ai” của mình, quen đến nỗi chúng ngự trị trong đầu óc của tôi, và lúc nào buồn tôi dùng chúng để tự an ủi cho mình. Mặc dù đã quen nhưng cứ nghĩ lại và nhớ đến điệu bộ của Hắn là tôi không sao khỏi phì ra cười.

 

            Chuyện đầu tiên mà Hắn vẫn thường ca cẩm đó là chuyện hắn sinh ra trong một cái lều rách nát, không gọi là nhà được, túp lều ấy lại tọa lạc ở một bãi đất hoang bên bờ sông Đại Hà - tên của con sông cũng gần giống như Cầu Nại Hà trên con đường dẫn xuống cõi chết. Vậy mà không hiểu sao ba, mẹ Hắn lại chọn nơi này làm túp lều hạnh phúc cho họ và còn lấy luôn tên cây cầu đặt cho Hắn nữa chứ?. Ba, mẹ Hắn cùng cảnh mồ côi sớm, ông bà nội, ngoại của cả hai người cùng dắt dìu nhau, kẻ trước người sau - cùng nhau viễn du đến nơi vô định mà không hẹn ngày về. Lúc còn sống, họ là những trưởng lão cái Bang hàng bốn túi, nên khi họ ra đi, không có gì để lại cho hắn cả, chỉ có một mảnh dất cắm dùi, hắn cũng bán nốt để chữa trị cho mẹ lúc nằm viện. Cha, mẹ chết khi Hắn học hết lớp 11, vậy là năm 12 Hắn vừa mò cua, bắt ốc, vừa sống nhờ vào tình thương yêu đùm bọc của các cô chú trong họ và bà con xóm giềng. Được cái Hắn rất sáng dạ, học ít nhưng  vẫn học rất giỏi. Và cuối năm, Hắn đã thi đậu vào trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh trước sự ngỡ ngàng của những người thân và hàng xóm. (Họ không ngờ thằng bé khù khờ, quần áo xốc xếch, quanh năm lấm lem bùn đất lại giỏi như vậy). Thế là bà con làng xóm lại có dịp nhắc lại giai thoại Hắn mặc áo mưa đi học vào mùa hè khi trời nắng như đổ lửa. Nhà  nghèo quá, Hắn luôn đến trường trong bộ đồ rách bươm, vá chằng, vá đụp và đủ màu sắc. Mẹ Hắn cứ nhặt được miếng vải nào lành lặn, bất kể màu gì - là để dành để chằm quần áo cho Hắn. Nhìn Hắn lúc đó giống như một con cá ngũ sắc vậy. Một người bà con xa đến thăm ba, mẹ  và cho Hắn một bộ đồ áo mưa bằng nhựa màu nâu. Vậy là chiều đó hắn mặc bộ đồ áo mưa đi học, khi cô giáo bắt cởi bộ áo mưa ra, Hắn thành ra trần như nhộng, còn chúng tôi thì được một trận cười nghiêng ngả.

                   Ngày Hắn nhập trường, bà con cô bác giúp cho hắn một ít tiền đủ cho Hắn mua vé xe và sống những ngày đầu tiên khi bước chân vào đại học. Hắn lại phải vừa lo học, vừa lo cơm, áo hàng ngày cho chính mình. Hắn làm gia sư, phụ việc ở quán ăn, bốc vác, cho đến việc thông cống, sửa hầm cầu, không chuyện gì mà hắn không làm. Vậy mà trong khi tôi học ở Trường tổng hợp phải tất bật, lo lắng với các kì thi đi, thi lại, còn Hắn học phần nào cũng qua một cách nhẹ nhàng, có lúc tôi không hiểu Hắn có phép màu gì nữa?

 

                 Năm năm đại học rồi cũng trôi qua, tôi và Hà cùng ra trường. Hắn không còn gì ở quê nữa, bàn thờ ba, mẹ ngày Hắn vào Đại học đã gởi họ vào ngôi chùa làng, để có người hương khói, chỗ túp lều rách nát ngày nào giờ chỉ là một bãi đất trống, lau sậy mọc um tùm. Vậy mà Hắn không ở lại thành phố, nơi phồn hoa có nhiều cơ hội cho Hắn xin được việc làm tốt, Hắn nhất quyết đòi về quê. Đêm cuối cùng ở thành phố, tôi hỏi Hắn:

-         Cậu quyết định về quê thật à?

-         Thật chứ sao không? Hắn quả quyết trả lời

         Tôi nhìn lướt lên mặt hắn, một gương mặt chai sạm với đôi mắt trũng sâu vì những đêm mất ngủ, tôi thực sự thấy thương Hắn. Tôi không muốn phải xa Hắn nhưng tôi không muốn hắn phải khổ thêm nữa.

          Tôi tiếp tục góp ý:

-         Cậu về quê làm gì? Rất khó xin việc. Hãy ở lại đây đi,  mình nghĩ với tài của cậu không mấy chốc sẽ làm giàu lên thôi.

          Hắn mân mê li trà tên tay - cười buồn, đáp lời tôi:

-         Tôi cũng có lúc nghĩ như cậu vậy. Nhưng tôi không thể xa ba, mẹ tôi, không thể xa những người đã cưu mang tôi, và hơn nữa làng mình đã giữ của tôi biết bao kỉ niệm vui, buồn….

          Tôi bật cười:

-         Cậu làm thơ à? Cậu lãng mạn và đa sầu đa cảm quá rồi! Còn hơn mấy ông nhà thơ nữa mà?.  Người chết, người sống gì cậu cũng nhớ hết vậy? Ai bảo cậu đi luôn đâu? Nếu thích cậu cũng có thể xin nghỉ phép về thăm quê mà?

-         Cậu đừng khuyên tôi nữa, tôi đã quyết định rồi, sẽ không đổi ý đâu. Hắn nhăn mặt đáp lời tôi.

        Tôi bỗng dưng cảm thấy ghét cái tính ngang bướng của Hắn nên nói lẫy:

-         Tùy cậu thôi! Cậu muốn làm sao thì làm, mình không dám can thiệp vào dời riêng của cậu nữa.

       Hắn biết tôi giận, vội ôm lấy vai tôi - hạ giọng, năn nỉ:

-         Trước kia mình không có gì hết, là một thằng bé mồ côi mà vẫn sống được, giờ mình đã là ông kỉ sư rồi, làm sao chết đói mà cậu lo?

 

          Dù có bằng tốt nghiệp loại Khá trong tay, nhưng thân cô thế cô Hắn không xin được việc làm vừa ý. Người ta vẫn thường nói đi nói lại đến nhão nhẹt câu “ Quý trọng nhân tài, ưu tiên hiền tài” . nhưng Hắn vác đơn đi đến đâu, cũng khó chui qua “ cánh cửa hẹp”. Cuối cùng, cũng xin được làm một chân quản lý máy điện của công ty may mặc ở huyện. Còn tôi một thằng kiến thức chỉ lõm bõm, lơ mơ thôi nhưng tương lai thì rộng mở. Ba, mẹ tôi nhờ sự quen biết của mình đã xin cho tôi vào dạy ở trường cao đẳng gần nhà.

         Hắn làm việc vất vả chứ không nhàn hạ gì. Tổ điện của Hắn có bốn người, ba người trên Hắn học Trung cấp Điện, Hắn có bằng cấp cao nhất Kỉ sư Điện, vậy mà trong phòng, Hắn chỉ là một người để sai vặt, phải làm đủ mọi việc từ sửa điện, bắt ống nước, đến việc giữ các hóa đơn chi phiếu. Hắn về quê ở tạm nhà tôi, bốn tháng sau khi có việc, nhận được những đồng tiền lương ít ỏi. Hắn thưa với ba, mẹ tôi cho hắn ra dựng nhà ở riêng trên bãi đất hoang um tùm lau sậy mà trước kia là nhà của Hắn. Và sau đó không bao lâu, một ngôi nhà bằng tre được dựng lên giống như ngôi nhà nhỏ trong rừng của Bảy chú lùn vậy. Đúng là Hắn lập dị, làm những chuyện không đâu vào đâu cả, vậy mà không hiểu sao, cha, mẹ tôi cứ đem Hắn ra làm gương cho tôi và mấy đứa em của tôi học theo mới chết chứ.

         Hắn lại ghét hắn về cái khoản cưới vợ. Đầu tiên,  Hắn yêu một cô gái làm kế toán ở cùng công ty, nhưng khi biết Hắn mồ côi, và ở trong một ngôi nhà tranh vách đất gần bờ sông, ba mẹ của cô gái kia cấm cửa không cho con mình qua lại với Hắn nữa. Mà cũng không cần cha, mẹ ngăn cản, cô gái kia không muốn có một người chồng nghèo hèn như vậy làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đời có quá nhiều ước mơ cao vời của mình. Chỉ hai tháng sau khi chia tay với Hắn, cô ta lên xe hoa với một anh chàng hào hoa, nghe đâu làm việc ở cảng. Hắn cũng đẹp trai, gương mặt khôi ngô - nên rất nhiều cô gái theo đuổi, nhưng cứ quen Hắn một thời gian là họ bỏ hắn để đi lấy chồng khác. Nghe thấy vậy - tôi hay đùa Hắn:

-         Cậu chắc tích được nhiều phúc lắm? Cô nào ế ẩm, không có ai, chỉ cần quen cậu một thời gian là có chồng liền.

      Hắn cười buồn:

     - Cái số mình nó vậy mà! Nhưng mình nghĩ đó không phải là tình yêu đâu? Rồi mình sẽ tìm được một người vợ đúng nghĩa của chữ yêu cho cậu xem.

     Và rồi người vợ đúng nghĩa, cái tình yêu đúng nghĩa của Hắn, cũng xuất hiện. “Hễ có mong chờ và hy vọng – là sẽ có kết quả thôi” – Hắn đã tâm sự vậy khi báo tin vui với tôi. Vợ Hắn - một cô gái nghèo, mẹ mất sớm ở với cha và mẹ kế. Học hết lớp 12, không có điều kiện học tiếp nên nghỉ học xin vào công ty may. Cô có duyên – xinh xắn, nên chỉ một thời gian ngắn cô cũng tìm cho mình được một anh chàng hào hoa, giàu có. Những tưởng mình có thể đổi đời nên cô quá tin vào lời dụ ngọt kia, rồi đã đánh mất đời con gái. Khi giọt máu đã tượng hình trong bụng, thì người tình hào hoa phong nhã giàu có kia  cũng quay lưng để mặc cô trong nỗi sợ hãi khốn cùng. Bầy tình xưa nay vẫn vậy – nhưng sao có lắm kẻ còn mờ mịt để lại sập vào đó nhỉ? Thì ra, cảnh sang giàu, tiền bạc – luôn làm lu mờ tâm trí, và là hấp lực mảnh liệt cho tất cả mọi người sao?

        Cô muốn tìm đến cái chết để chấm dứt mọi chuyện thì gặp Hắn. Hắn không những cứu cô khỏi chết mà còn cùng cô về nhà chịu lỗi với ba, mẹ cô. Thế là một đám cưới chóng vánh xảy ra, không hân hoan, không mong đợi.     Tôi lại một lần nữa làm kì đà cản mũi:

-         Cậu bị làm sao vậy? Cậu cứu cô ấy là được rồi, sao lại nhận đứa con là con của cậu chứ?

       Hắn lại giở trò biện minh cho mình:

-         Cô ấy hoàn cảnh cũng tội lắm. Với lại đứa trẻ có tội gì đâu chứ? Đành rằng nó không phải là con mình, nhưng cậu nghĩ mà xem mọi người xin trẻ mồ côi về nuôi làm con thì sao?

       Tôi cự lại:

-         Đó là những người giàu có mà không có con, còn cậu còn trẻ, vả lại cậu có thể có những đứa con do chính mình đẻ ra mà.

-         Tôi yêu cô ấy cậu à - Hắn thì thào, rồi cậu sẽ thấy vợ tôi tuyệt vời như thế nào - Hắn ra vẻ hài hước

       Tôi một lần nữa lại ôm đầu kêu lên: “Cậu đúng là ngớ ngẩn, không giống ai”.

 

               Không ai nghi ngờ gì về bé Mai - con đầu lòng của vợ chồng Hắn cả, vì ai cũng nghĩ nó là con Hắn, chỉ có tôi là biết rõ sự thật mà thôi. Sau bé Mai, vợ Hắn sinh thêm cho Hắn hai thằng con trai bụ bẩm, mà Hắn đặt tên là Hải, Sơn. Hắn tự hào khoe với tôi nhà Hắn có đủ núi, biển. sông, nước – vì vợ hắn tên Thủy. Vợ Hắn khéo tay, chịu khó, chìu chồng, yêu con hết mực. Hắn ngập tràn trong hạnh phúc. Rồi thì hai vợ chồng Hắn cũng xây dựng được một ngôi nhà ngói khang trang, và trong nhà  sắm đầy đủ các tiện nghi, có của ăn của để. Cuộc sống như vậy đã là mơ ước của biết bao người.   Nhưng rồi một hôm hắn lại tìm tới tôi với một vẻ mặt thiễu não:

-         Tôi có một chuyện thật khó xử, tôi không biết phải giải quyết làm sao? Cậu giúp tôi với?

-         Tôi quan trọng vậy sao? Mà là chuyện gì? Tôi cố đùa cho Hắn bớt căng thẳng

-         Ba ruột con Mai tìm gặp tôi, xin nhận lại con?

        Hắn còn muốn nói thêm điều gì - nhưng tôi đã ngắt lời, phản đối:

-         Không được! Mai là con của cậu và Thủy, cậu nhất định không được đồng ý đâu đó. thằng Sở Khanh đó không có tư cách nhận lại con. Nó có bằng chứng lý lẽ nào đâu?

-         Ban đầu tôi cũng giận lắm, cũng muốn cho hắn một nắm đấm vào ngay giữa cái bản mặt điểu cán khinh khỉnh của nó - nhưng nhìn nó tiều tụy quá, tôi có cảm giác nó đang đau nặng, sắp chết cậu à?

-         Mặc xác hắn, Tôi bực tức hét lớn.

      Hắn vẫn nhỏ nhẹ, kiểu mưa dầm thấm lâu:

-         Ông ấy sắp chết, phải để Mai nhìn mặt ba nó chứ, nếu không thì không còn kịp cậu à?

-         Vậy cậu muốn làm gì thì làm đi, hỏi tôi làm gì? Tôi trừng mắt nhìn Hắn.

        Hắn thấy tôi giận không dám nói gì thêm, lẳng lặng đi về. Tôi không hiểu Hắn thuyết phục Thủy như thế nào mà sau đó hai vợ chồng Hắn dẫn bé Mai đi thăm người đàn ông kia, và để bé Mai ở lại bên ông ta những ngày cuối đời.

 

          Dự án qui hoạch dất đai, một con đường mới sẽ được mở ngang qua nhà Hắn, và bỗng dưng những lô đất trước kia rẻ như bèo, Hắn mua chỉ để trồng thêm rau, cải ra chợ bán, kiếm thêm thu nhập, bây giờ lại trở nên có giá trị ngàn vàng. Vậy là vợ chồng Hắn tự dưng trở nên giàu có. Rồi dự án đình lại, khu đất lại trở nên hoang vắng như xưa, những người mua đất của Hắn cất nhà mặt mày trở nên ủ rủ, buồn hiu. Hắn lại sang bàn với tôi:

-         Tôi và vợ tôi bàn với nhau lấy lại đất, trả lại tiền cho họ cậu à?

       Tôi tròn mắt ngạc nhiên, nhưng tôi biết Hắn nói thật:

-         Tại sao cậu lại làm như vậy? Thuận mua, vừa bán chứ cậu có ép họ đâu chứ?

-         Tôi cũng biết như vậy, nhưng cứ nhìn thấy khuôn mặt buồn như đưa đám và nghe tiếng thở dài của họ là lòng tôi lại xốn xang không chịu nổi - Hắn phân bua

         Tôi cố ngăn Hắn lại:

-         Nếu cậu thấy khó chịu thì sẳn có tiền cậu lên huyện mua một ngôi nhà khác để ở, nơi đồng hoang, cỏ cháy này cậu luyến tiếc làm gì?

    Tôi đã nói đến vậy rồi mà Hắn vẫn gàn, bướng:

-         Họ làm cả đời mới có một ít tiền những tưởng mua được một nơi lí tưởng để làm nhà, vậy mà…. Tôi có cảm giác như đang đi lừa họ vậy?

       Sáng hôm sau vợ chồng Hắn trả tiền lại cho những người mua nhà, và lấy lại đất. Hắn đã “khùng” rồi, không ngờ Thủy - vợ hắn, cũng “ ngớ ngẩn” theo. Cuối cùng Hắn cũng bán được đất của mình cho những người nghèo khổ, cơ nhỡ với giá rẻ mạt mà còn cho họ trả góp nữa.

       Và lần này - không phải riêng tôi mà cả xóm đều có chung một nhận xét : “ Vợ chồng hắn không giống ai, lập dị nên luôn làm những chuyện không đâu vào đâu cả”. Nói vậy thôi, chứ mọi người trong cái xóm ai cũng yêu thương gia đình của Hắn. Họ xem Hắn như người thân của họ vậy. Hắn không trở nên giàu có như Hắn đã nói với tôi ngày nào, mặc dù Hắn có nhiều cơ hội. nhưng tất cả - ai ai cũng nghĩ và thấy rõ được rằng cuộc sống của gia đình Hắn đang thật Hạnh Phúc và tuyệt vời…

 

TRẦN MINH NGUYÊT

                    

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=350770

CA DAO THƯỜNG NHỚ Tạp Bút TRẦN HUIỀN ÂN
mangvienlong | 18 Feb, 2012, 03:49 | Bài viết của bạn văn | (24 Reads)

MẤY CÂU CA DAO THƯỜNG NHỚ

 

Tạp Bút

Trần Huiền Ân

 

Mỗi lần nói chuyện với các thân hữu Bình Định, câu ca dao tôi nhớ đến trước tiên là:

                            Ngó lên hòn tháp Cánh Tiên

                             Cảm thương ông Hậu thủ thiềng ba năm

Nói về việc Võ Tánh bị vây ở Qui Nhơn thời chiến tranh giữa hai lực lượng của nhà Nguyễn Tây Sơn và Nguyễn Gia Miêu.

          Theo tư liệu được đọc, tháp Cánh Tiên, tên chữ là Tiên Dực, người Pháp gọi là Tour de cuivre, nằm trong phạm vi thành Đồ Bàn cũ (thành Qui Nhơn, sau đổi là Bình Định), thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông Hậu là Hậu quân Võ Tánh, tướng của Nguyễn vương (Nguyễn Ánh), thủ thiềng là biến âm của thủ thành: giữ thành.

Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim ghi chép sự kiện này: Năm 1799 quân của Nguyễn vương lấy được Qui Nhơn giao cho Võ Tánh và Hiệp trấn là Ngô Tòng Châu đóng giữ, năm 1800 hai tướng nhà Tây Sơn là Trần Quang Diệu vào vây thành Qui Nhơn một cách cẩn mật, quân tiếp viện bên ngoài không đánh nổi mà quân trong thành cũng không thể nào phá ra được, lương thực ngày một cạn và có nguy cơ bị tiêu diệt. Nguyễn vương cho người lẻn vào thành bảo Võ Tánh và Ngô Tòng Châu bỏ thành mà ra, nhưng Võ Tánh phúc thư lại rằng: Tinh binh của Tây Sơn đang ở cả Qui Nhơn, vậy xin đừng lo việc giải vây vội, hãy nên gấp ra đánh lấy Phú Xuân thì hơn. Đem tính mạng của hai chúng thần đổi lấy kinh đô Phú Xuân, cái giá ấy quá rẻ. Nguyễn vương nghe theo lời, để một lực lượng ít do Nguyễn Văn Thành chỉ huy ở lại đối địch với Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng, đem đại quân ra đánh chiếm được kinh đô Phú Xuân. Trong khi ấy quân của Võ Tánh tại Qui Nhơn hết cả lương thực, không thể nào chống cự được nữa. Võ Tánh gửi thư cho Trần Quang Diệu yêu cầu khi vào thành không giết hại quân sĩ bởi họ chỉ biết vâng lệnh thượng cấp, rồi lên lầu bát giác tự thiêu, Ngô Tòng Châu cũng uống thuốc độc tự tử. Trần Quang Diệu vào thành, đáp ứng đúng yêu cầu của Võ Tánh. Đó là năm 1801.

Ba năm ông Hậu thủ thiềng.

Câu ca dao nói lên nỗi niềm thương cảm của dân chúng trước tấm gương  trung nghĩa của Võ Tánh, lời lẽ giản dị mà thấm thía, khiến chúng ta cũng nên suy nghĩ về tư cách người làm tướng. Đã làm tướng thì không thể đầu hàng, tướng phải chết theo thành như Võ Tánh, chết giữa trận tiền như Châu Văn Tiếp, Võ Di Nguy v.v…hoặc là bị bắt, bị tử hình như Trần Bình Trọng, mới xứng đáng với vinh dự và trách nhiệm. Làm tướng dù có dày công hãn mã khi chiến tranh mà đến lúc hòa bình cón cố nắm quyền thì trước sau gì cũng bị thiệt thân, như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Đặng Trần Thường… chẳng hạn. Nếu còn được mạng sống thì cũng chỉ kéo dài chuỗi ngày tàn để mơ về một thời oanh liệt mà thôi.

          Thiết tưởng cũng nên lưu ý cách gọi của dân chúng: tôn kính mà không xa cách, thân mật và không suồng sã – hai tiếng Ông Hậu đậm đà tình nghĩa hơn hai tiếng Hậu quân. Cũng như dân chúng Miền Nam gọi Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, người có công lớn trong công cuộc mở cõi là Ông Chưởng, một vùng đất trù phú mang tên Cù lao Ông Chưởng:

                             Chiều chiều quạ nói với diều

                             Cù lao Ông Chưởng thiệt nhiều cá tôm.

 Một câu ca dao khác tôi cũng thường nhớ đến là:

                   Chiều chiều én liệng Truông Mây

                   Cảm thương Chú Lía bị vây trong thành

Chuyện dân gian khu vực Nam Trung Bộ có kể về Chàng Lía, cũng gọi là Chú Lía. Từ thời thơ ấu, trước năm 1945 học lớp Sơ đẳng (lớp Ba) tôi đã đọc trong Giáo Dục tạp chí, chuyên san của Nha Học Chánh Đông Dương  và còn nhớ, sau này đọc trong Nước non Bình Định của Quách Tấn...

Lía là một thảo khấu sống vào thời chúa Nguyễn (không biết cắc chắn chúa nào), dựng sơn trại tại Truông Mây, (còn có tên là Hóc Sâu) thuộc xã Ân Đức, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, tung hoành khắp chốn khiến cho giới quan lại và trọc phú khiếp sợ. Rồi cũng vì tham nhan sắc, bắt cóc nàng hầu của quan Tuần phủ về làm vợ, bị cô ta nội ứng, hẹn với quan quân, phục rượu cho Lía và đồng bọn say mèm, trói Lía lại trên tấm phản lớn. Lúc quan quân từ vòng vây bên ngoài tiến vào giết hết đám tay chân thì Lía vừa tỉnh rượu, mang cả tấm ván chạy thoát, may gặp một cụ già giúp đỡ và Lía đền ơn bằng cách tặng cụ cái thủ cấp để về trình quan lãnh thưởng. Nhưng cụ già vốn đã nghe tiếng hào hiệp của Lía, mến mộ Lía, nhưng quá bất ngờ không kịp ngăn cản Lía tự sát, lấy cái tình của người tri kỉ dù cảnh ngộ khác nhau, chôn cất Lía tử tế.

Về sau, nhìn cảnh nhớ người, dân chúng đã ngậm ngùi cảm thán, lưu truyền.

 Tôi cũng nhớ mấy câu trong một bài vè truyền khẩu kể về cuộc đời của Lía, lúc nhỏ, hoang đàng, trốn học... Tác giả bài vè gọi Lía là thằng, nhưng vui vẻ, không có ác ý:

Thằng Lía là thằng Lía hoang,

 Nào ai dám chứa hổ mang trong nhà.

Một câu nữa, thật ngộ:

                   Thằng Lía là thằng Lía cồ,

                   Bẻ gai thồ lồ chích đít thằng Lía.  

 Thồ lồ là một loại gai rừng, bén nhọn, dài đến 5cm, thời trẻ con chúng tôi thường dùng để găm nơi đầu chiếc kèn lá không cho bung ra. Kèn lá đoạn trong quấn bằng lá múi dẻ, đoạn ngoài quấn bằng lá chuối cho lớn bằng kèn thật. Chúng tôi còn dùng gai thồ lồ để xăm những trái dôm già mới hái cho ra bớt mủ đắng, đem giú trong lùm bụi, vài ba hôm sau đến lấy ăn, dôm sẽ ngọt hơn và bùi hơn. Chúng tôi nghêu ngao câu ca dao trên, tưởng tượng ra thằng Lía cồ cao lớn, vạm vỡ, ngang ngược... thế mà vẫn phải nể sợ gai thồ lồ, tất nhiên là nể sợ cả người bẻ gai thồ lồ chích đít thằng Lía.

Vui lắm chứ?

TRẦN HUIỀN ÂN

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=350769

1 2 3 ... 26 27 28  Sau»