Sign up
CHÚC MỪNG NĂM MỚI NHÂM THÌN-2012...
mangvienlong | 20 Jan, 2012, 09:37 | Tản văn Mang Viên Long | (116 Reads)

 

ĐÓN CHÀO XUÂN MỚI

NHÂM THÌN

2012

 

 

       KÍNH CHÚC QUÝ THÂN HỮU & BẠN ĐỌC

       NĂM MỚI AN VUI & HẠNH PHÚC!

       MỘT MÙA XUÂN

       TRÀN ĐẦY TÌNH THƯƠNG YÊU

        & HY VỌNG…

 

         Huệ Thành

       MANG VIÊN LONG

  

                

       MỖI LẦN XUÂN, ĐỜI TÔI

     TÔI LẠI BẮT ĐẦU…

     Tạp Bút

      Mang Viên Long

 

         Nhà thơ lão thành Tống Anh Nghị đã viết câu thơ trên khi Ông đã ngoài 70. Cái tuổi “xưa nay hiếm” – nghĩa là ít có người vượt qua con số 70 để tiếp tục cuộc sống – nhưng với nhà thơ, tuổi 70 – vẫn còn đang bắt đầu!

        Mùa Xuân là mùa bắt đầu trong bốn mùa. Ngày Xuân – là ngày mới bắt đầu cho 365 ngày tiếp sau đó. Bởi vậy – mùa Xuân ươm mầm cho bao hy vọng, bao ước mơ trong tâm hồn mỗi người. Có thể nói là tất cả - từ người nghèo, bị bất hạnh; đến kẻ giàu, được diễm phúc – đều có những kỳ vọng riêng cho tương lai đang bước tới của đời mình. Đây, dường như là khả năng “ sinh tồn “ đặc biệt của con Người ở cõi đời, nếu không vậy, thì cuộc sống sẽ tẻ nhạt & vô vị biết bao! Và mùa Xuân sẽ không còn là Mùa của Niềm Tin Yêu & Hy Vọng nữa!

        Vẫn biết cuộc Vô Thường ở cõi tạm là “ bất khả tư nghì” – sẽ đến  với đời ta bất cứ lúc nào của ngày hôm nay & hôm mai – nhưng, Sống Một Ngày, là Yêu Thương & Hy Vọng một ngày!

        Tình Thương Yêu & Niềm Hy Vọng sẽ đem lại cho chính chúng ta và mọi người quanh ta niềm An Vui của một ngày sống có ích!

        Dù sống trong một hoàn cảnh không thuận lợi, có nhiều bất hạnh phải luôn nổ lực vượt qua – nhưng, câu thơ của Tống Anh Nghị đã cho tôi thêm năng lực để đón Xuân – bởi vì, “mối lần Xuân, đời tôi – tôi lại bắt đàu!”.

         Trước thềm Năm Mới –Xuân Nhâm Thìn đang khẻ khàng từng bước đến bên đời, tôi mong tất cả chúng ta – hãy “ bắt đầu “ đời mình trong giờ phút thiêng liêng giao thừa bằng một tâm hồn An Tịnh & Tin Yêu, để đón chào Mùa Xuân …

         CẦU CHÚC TẤT CẢ MỌI ĐIỀU TỐT ĐẸP!

 

Quê Nhà,

Ngày cuối năm Tân Mão -

Đón Xuân Nhâm Thìn – 2012,

MANG VIÊN LONG

       

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=347458

TRANG THƠ XUÂN NHIỀU TÁC GIẢ....
mangvienlong | 16 Jan, 2012, 04:43 | Bài viết của bạn văn | (43 Reads)

 

HOÀNG LỘC

gửi tháng giêng

 tháng giêng đang ở quê nhà

và em đang với mù sa phố chiều

đã vàng bóng áo cô liêu

chắc chi giữ được ít nhiều ngày xưa ?

 

 tôi đi cuối buổi mong chờ

viết không xong nổi bài thơ bạc tình

quá nhiều những tháng giêng xanh

đã như phấn bụi đời mình gió bay

 

 đổi thay, đã từng đổi thay

tháng giêng ngắn, nỗi buồn dài phải không ?

 

HL 

 HUỲNH MINH LỆ

 Hạnh Ngộ

 

 Tháng chạp không là xuân,

Mà sao hoa đã nở?

Cồn cào niềm thanh tân,

Từ khi ta hạnh ngộ.

 

Tháng chạp không là xuân,

Mà sao vàng vạn thọ?

Áo mới ngày đầu năm,

Giao thừa về trước ngõ.

 

Bây giờ là tháng giêng,

Lòng anh đơm lộc mới,

Rộn ràng niềm tân niên,

Hoa vì em đã nở.

 

Anh và em mừng tuổi,

Hai ta hơn bách niên,

Hai mái đầu đều bạc,

Sợi nào cũng muộn phiền.

 HML

Mường Mán

 Tháng Giêng hát

 

 Tháng Giêng hiền như cỏ

Và tóc mềm như mây

Tóc bay qua bến lạ

Sông thương ai, sông đầy

 

Tháng Giêng biếc như lá

Và tình ấm như tay

Tình rẽ sang lối nọ

Vai nhớ ai vai gầy

 

Tháng Giêng trắng như Cúc

Và áo vàng như Mai

Áo nhàu trăm nếp bụi

Giữ hoài mơ chưa phai

 

Tháng Giêng ướt như mắt

Tháng Giêng hồng như môi

Trái tim ai hoá bướm

Bay theo nhau, bồi hồi

 

Tháng Giêng sao về muộn

Không em, chim lạc bầy

Một mình lên đồi hát

Xuân nhớ ai, xuân gầy ......

MM 

Hồ Dzếnh

Xuân Đôi Ta

 

 Em trở về đây, đáp lại lời

Anh từng buông gọi giữa xa xôi.

Nghìn trùng non nước đìu hiu nhớ,

Đã vọng hồn anh đến cuối trời.

 

Anh đã chờ và cây đã xanh,

Lừng mùa bay dậy tiếng mây thanh,

Em về, mắt đẹp ngời như thuở

Em chửa theo chồng, vẫn mến anh.

 

Anh đợi chờ em suốt bấy lâu,

Nhủ thầm: xuân thắm chả phai đâu,

Một khi xuân thắm là mong nhớ,

Và cả thiên thu: vĩnh viễn sầu!

 

Áo em sáng dệt trời xuân gấm,

Sông cũ, nguồn xưa rộn rã về...

Ngõ hạnh, mấy mùa quên nét thắm

Nở bừng, khi thoáng bóng hoa lê

.

Em đã về đây, em vẫn nguyền

Như ngày trăng nước chớm tơ duyên

Bao năm xa cách, đi chưa nhạt

Màu tóc sông thu, ánh mắt huyền.

 

Anh hát mừng em khắp thế gian,

Trập trùng mây núi tiếng ngân vang,

Thơ yêu khôn ngớt trong thiên hạ,

Và cả non sông rợn sóng đàn.

 

Mời em ngồi lại bến sông xanh,

Mây cũ muôn năm chiếu dáng lành.

Ta viết lòng ta cho hậu thế,

Đọc hoài không chán: Em và Anh!

HD

Lam Giang

 Thu Giữa Mùa Xuân

 

 vàng nắng im trang lụa biếc mây

bình minh nao nức tiếng chim bầy

đời nghe âm nhạc xuân tình tứ

sao thoảng buồn thu nhớ chẳng khuây

 

đâu buổi trao yêu mái tóc huyền

ửng hồng màu thẹn của tình duyên

ngoài môi tuy chẳng lời tha thiết

đủ hiểu nhau rồi, lẽ tự nhiên

 

hiu hắt ngàn dương, nắng xuống chiều

môi nàng chan chứa vị thương yêu

hồn từ suối ngọc bay qua đó

vườn mộng hoa phơi vẻ mỹ miều

 

nay đã xa rồi Em của anh

vầng trăng sao cứ chiếu trời xanh

vầng trăng còn sáng làm chi nữa

sương ngọc đìu hiu đậu trước mành

  (1947)

 LG

Thiếu Anh

 Đêm Giao Thừa

 

đêm nay tối giao thừa

ngoài vườn lất phất mưa

trong gian phòng vắng vẻ

mình em trước áng thờ

 

con thơ quên đón Tết

mẹ già, già hơn xưa

ai châm hương nến tắt

ai khêu ngọn đèn mờ

 

giờ đây trên chiến khu

nơi rừng thẳm hoang vu

anh còn thức không nỉ ?

anh có đợi giao thừa ?

 

anh nghĩ gì đêm nay ?

khi gió ngàn rung cây

khi rừng khuya trút lá

khi chim lẻ gọi bấy ?

 

ngoài hình ảnh yêu thương

trong màu sắc vinh quang

bên chùm hoa dĩ vãng

trên hồn thắm quê hương

 

bên anh còn những người

hôm qua xuân tràn môi

đêm nay trên giường bệnh

chắc gì còn xuân tươi

 

anh, lòng kẻ quân y

em, tình người chinh phụ

xa nhau ngàn mưa gió

vẫn gần tối giao thừa

TA

 Diễm Châu đêm giao thừa 1951

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=346948

TRANG THƠ XUÂN : BÙI CHÍ VINH & MƯỜNG MÁN & TRẦN TRUNG ĐẠO
mangvienlong | 12 Jan, 2012, 15:27 | Bài viết của bạn văn | (68 Reads)

 

TRANG THƠ XUÂN NHIỀU TÁC GIẢ:

BÙI CHÍ VINH & MƯỜNG MÁN & TRẦN TRUNG ĐẠO

 

Như Cây Trái Tết

Bùi Chí Vinh

 

Mới đầu anh tưởng em là ổi

Xá lị mà ăn rất đã đời

Dè đâu em trở thành xí muội

Ngọt ngào mà chua lét đôi môi

Anh ê răng chạm vào trái cóc

Em lại đem xoài tượng ra mời

Tim anh phân nữa là muối ớt

Nửa nước mắm đường nêm mê tơi

Em khoe cả một vườn cây trái

Me dốt mùa xuân ngó bắt thèm

Trái dâu nũng nịu trên đầu lưỡi

Có xuýt xoa bằng anh nhớ em?

Em đỏng đảnh tương đương như tết

Yểu điệu mà chua ngọt đủ điều

Anh nằm mộng suốt đêm trừ tịch

Thấy trái trong vườn cũng biết yêu!

BCV

 

Bông Hồng Đầu Năm

Mường Mán

 

Mưa chẳng nhảy valse trên đường nữa

Vàng chi lắm thế nắng mai ơi

Hình như có điệu tango mới

Đưa bước em qua ngõ nhà người

 

Đông biếc đã phai ngoài dậu trúc

Tết hồng xác pháo cuối hiên mai

Có chàng nghiêng ngó xuân sau trước

Rồi chợt thấy mình đi theo ai

 

Dòng sông uốn lượn theo chân sáo

Chim lợp vòm me khúc nhạc vui

Đi lễ chùa xa nên em vội

Quên cả giấu duyên trên miệng cười

 

Màu áo hoa ngâu như là sóng

Tóc mơ se mộng với mây trời

Thầm cuốn lòng ai lên tận núi

Chùa xa chuông điểm nhịp sương rơi

 

Lóng ngóng ẩn mình sau hương khói

Với cành hoa nói hộ trên tay

Sao anh chẳng dám trao thiên hạ

Để hồng úa rụng chỉ còn gai

 

Bông hồng chưa nhận em đâu biết

Có kẻ khật khùng suốt Tết nay

Trái tim thôi nhảy soul trong ngực

Bởi đã hoá thành bong bóng bay ...

 MM

 

Xuân Đất Khách

 Trần Trung Đạo

 

Ai có về bên kia đất nước

Thở dùm tôi hơi ấm quê hương

Tôi, con én lạc mùa xuân trước

Vẫn khóc âm thầm nơi viễn phương

 

Vẫn đếm xuân về trên đất khách

Nghe buồn nhỏ giọt xuống vai tôi

Ðèn ai thắp sáng bên kia phố

Nhớ quá, chao ôi, tiếng mẹ cười

 

Bếp lửa than hồng sao chẳng ấm

Tôi thèm một chiếc bánh chưng xanh

Thèm nghe ai nói lời tha thiết

Một lời chúc tụng bước sang năm

 

Ai có về bên kia đất nước

Chở dùm tôi nỗi nhớ qua sông

Hỡi em, cô gái mùa xuân trước

Còn đứng hong khô áo lụa hồng

TTĐ

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=346505

QUÁN ĂN CHAY CHÂN TÂM , 88 - Đường BẮC HẢI, Q TÂN BÌNH...
mangvienlong | 10 Jan, 2012, 14:05 | Tản văn Mang Viên Long | (31 Reads)

 

       M Ù A   X U Â N

       NHỮNG NGÀY TẾT ...

 

    Kính Mời Quý Thân Hữu & Đạo Hữu

   Ghé Đến Thưởng Thức:

                           Quán Ăn Chay

                           C H Â N  T Â M

                      88, đường BẮC HẢI . 88

       Phường:  6   Quân :  Tân Bình -   Tp HỒ CHÍ MINH

        http://thodia.vn/quan-chay-chan-tam-ho-chi-minh.html

 

  @ Ẩm thực chay độc đáo, tinh khiết,  ngon miệng

  @ Không gian thoáng rộng & mỹ thuât - thích hợp tiếp đãi bạn bè, hội họp gia đình

  @ Giá rẻ, hợp lý, phục vụ chu đáo

 @ Giải khát: Ice blended, coffee, nước ép trái cây, sữa đậu nành tự nấu ...

  @ Cơm chay văn phòng: 25.000 Đ/ phần (cơm + món chính + xào + canh). Giao hàng tận nơi

 @ Đặt tiệc chay mừng xuân, hội họp bạn bè - gia đình. 1,1 Triệu/ bàn 10 người/ 4 món chính + lẩu + trái cây miễn phí

        Những Món Chay TINH KHIẾT &  BỔ DƯỠNG & THIỆN LÀNH

 

                      Do Nhóm Phật Tử  Hảo Tâm Phục Vụ

                                   

                KÍNH CHÚC  QUÝ KHÁCH THÂN TÂM THƯỜNG LẠC

                             VẠN SỰ KIẾT TƯỜNG NHƯ Ý!

                                                      &

 

                                              CHÂN THÀNH KÍNH MỜI!

 

                                       

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=346184

LẶNG LẼ VỚI MÙA XUÂN Tạp Bút MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 07 Jan, 2012, 13:36 | Tản văn Mang Viên Long | (72 Reads)

LẶNG LẼ

VỚI MÙA XUÂN…

 Tạp Bút

Mang Viên Long

 ( Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo Xuân Nhâm Thìn- 2012)

  

        Dường như từ khi bước qua khỏi tuổi 60, người ta thường có nhiều thời gian hơn cho những giờ phút “ ngồi mà nhớ lại “? Ngồi yên một mình trong vườn, hay bên hiên vắng vào buổi sớm mai mặt trời chưa  sáng rõ hay khi chiều tà còn vướng vất chút nắng hanh vàng góc cuối chân trời phía xa, để tỉnh giác mà nhớ lại bao chuyện dã qua trong ngày, trong đời – như một cái thú luôn hấp dẫn và mời gọi cho tuổi già?

         Những ngày gần cuối năm – tôi thường thức dậy sớm hơn, cảm thấy lòng thư thái và bình lặng hơn khi ra ngồi ở chiếc ghế mây cũ dưới gốc cây hoa sữa bên hiên nhà. Nhín ngó trời đất êm ả một mầu  nắng rất mỏng, rất tươi của  mùa xuân đang khẻ khàng bước đến…để đón đợi một ngày mới! Phút giây lặng lẽ trải lòng cùng trời xanh, đất rông- và thiên nhiên hiền dịu tươi mát ấy đã cho tôi một ngày an vui với bao công việc cuối năm đang chờ đợi …

          Có thể cái giá lạnh và ẩm ướt của những cơn mưa dầm, những ngày gió giật bão dông đang lùi xa, nhường lại cho cái nắng ấm, gió hiền của mừa xuân đang lướt đến đã làm cho lòng ta nhẹ bớt đi bao nỗi lo toan, bao điều trăn trở như bầu trời dổi thay trong trẻo và thênh thang trên cao kia chăng? Mùa xuân với cỏ cây hoa lá trổi dậy sức sống xanh tươi dường như cũng đã chuyễn hóa được bao tâm hồn u buồn, bao cảnh đời bất hạnh vươn lên một năng lực tiềm ẩn về một tương lai mới mẻ, an lành hơn cho đời mình!? Tôi chợt nhớ câu thơ của Tống Anh Nghị đã ám ảnh tôi từ nhiều năm nay – nhất là mỗi khi xuân về: “  Mỗi lần xuân, đời tôi – tôi lại bắt đầu…” . Mỗi lần hết năm cũ- mỗi lần  sang xuân mới – cũng chính là mỗi lần tâm hôn ta bước sang một trang đời khác với bao ước mơ & hy vọng? Tâm hồn ta như cũng nảy mầm, trổ nụ cùng với sự đổi thay mầu nhiệm của đát trời ? Có lẽ nhà thơ đã “ bắt gặp “ ý tưởng ấy khi “ ngồi mà nhớ lại”  vào mỗi lúc xuân về?

           Dù cho sống trong bất cứ  hoàn cảnh riêng lẻ nào, sa chân lỡ bước vào tình huống bi đát nảo – thì mùa xuân bao giờ cũng an nhiên và công bình mang lại cho tất cả lóng khát khao thương yêu, nỗi mong chờ hy vọng cho tháng ngày dài sắp trôi qua đời mình tựa đôi bàn tay mầu nhiệm của Mẹ hiền xoa dịu bớt những vết thương đau. Bởi vậy – mùa xuân còn là mùa thiêng liêng của những lời nguyện cầu, của khát vọng,  thương yêu dành cho tất cả!

            Hơn 60 mùa xuân đã lướt qua đời mình – tôi chiêm nghiệm được rằng: “ Mùa xuân luôn thủy chung với những tấm lòng thành, luôn sẻ chia với bao cuộc đời trong sáng, và cũng mãi mãi là tia nắng ấm cho nỗi khát vọng vị tha dựng xây cuộc sống !”.  Tôi luôn tự nhủ: Hãy bắt đầu mùa xuân từ tâm hồn mình trước khi đón chờ mùa xuân của đất trời chuyễn đến…Và hãy ưu tiên dành thời gian cho Tình Thương Yêu, bởi đó chính là thời gian quý báu nhất của đời sống!

            Tôi vẫn thường thức giấc vào khoảng 4 giờ sáng – thói quen nầy đã có từ lúc nào tôi không để ý, nhưng tôi không thể làm khác! Hôm nay, không biết sao - tôi lại thức dậy sớm hơn, bật chiếc điện thoại để ở đầu giường thấy mới chỉ được 2 giò 12.  Tôi nhớ đêm qua, tôi ngủ sớm hơn lệ thườg – một giấc ngủ quên bất chợt, cứ chìm dần vào giấc ngủ mê đến nổi chưa kịp móc mùng như thường đêm…Tôi chợt nhớ, từ ngày đất trời chuyễn tiết xuân - mùa xuân đã gọi tôi thức dây sớm chăng?

           Nằm yên – cố dỗ thêm giấc ngủ, nhưng không thể được. Tôi vẫn thường dỗ giấc ngủ bằng thầm niệm hồng danh chư Phật, chư Bồ Tát miên mật, nhưng sáng nay – tôi lại tỉnh táo, không thể dễ dàng chợp mắt trở lại thêm chút nào?

           Tôi quyết định xuống giường khi trời còn mập mờ ánh sáng - phía ngoài khung cửa sổ là một mầu xám  và lạnh lẽo. Hình như đang có sương mù…Tôi khẻ khàng xuống gác, mở cửa, bước ra hiên: Khu chợ phía trước nhập nhoạng bóng người, từng bóng người di chuyễn thầm lặng, và có trên 10 chiếc xe honda kềnh càng bao giỏ chất đầy, cao lêu nghêu phía sau, chờ rời khu chợ tản về các miền quê mang theo hàng hóa rau quả cho các phiên chợ cuối năm hối hả…

           Ngồi vào chiếc ghế dựa bên hiên nhà, dưới gốc cây hoa sữa – trong nỗi yên bình trống vắng của tâm hồn và cảnh vật buổi sáng ngày vào xuân – tôi nhớ đến buổi sáng của ngày 27 tháng Chạp cách nay gần 60 năm…

            Mấy ngày trước trời mưa bay bay, khu chợ trong cảnh chiến tranh hoang tàn xám xịt – một mầu trống vắng, hiu quạnh. Mực nước sông phía sau nhà tôi vẫn còn đầy, con nước lũ của mùa mưa bão vẫn cuồn cuộn suốt ngày đêm.  Khoảng hai giờ sáng ngày 27 tháng Chạp năm ấy ( 1952 ) – người giúp việc cho gia đình có nhiệm vụ chăm sóc riêng cho mẹ tôi nơi căn nhà nhỏ đưới phố đã đập cửa gọi anh tôi – báo tin : “ Cậu ơi! Mẹ cậu đã chết rồi! “.  Người anh cả của tôi mở tung cửa, vội vàng khoát tấm áo tơi lá kè, chỉ kịp quay lại nhìn hai chị em tôi đang từ trong bồ lúa đã leo ra đứng co ro bên cạnh - ấm  ức khóc : “ Má đã chết rồi! Hai đứa ở nhà ngủ đi! Trời lạnh, còn sớm lắm… “

             Mấy ngày sau, hình như đúng vào sáng ngày Mồng Một Tết - tôi đã đọc được câu này trên vách tường nhà của anh tôi viết bằng than: “Kể từ 2 giờ sáng ngày 27 tháng Chạp âl 1952, tôi mãi mãi không còn thấy hình bóng mẹ tôi nữa! ”. Cũng như anh tôi – hai chị em tôi đã mất Mẹ từ năm ấy – năm chị tôi được 12 tuổi. còn  vừa tròn 8 tuổi!

             Cho đến buổi sáng hôm nay – ngày 27 tháng Chạp năm 2012 – tôi đã bước vào tuổi 68 – nghĩa là, tôi đã xa mẹ tôi gần 60 năm! Sáu mươi năm, hơn nửa thế kỷ - tôi đã phải sống không cha mẹ ( cha tôi đã chết khi tôi còn là một bào thai 6 tháng trong bụng mẹ ) – nhớ sao hết bao nỗi khổ đau, phiền lụy của một kiếp sống như một thân cây giữa khu rừng hoang cô tịch? Vậy mà tôi đã sống. Đã lớn lên. Bằng đôi chân & tâm hồn & trí tuệ của mình để không lãng phí một kiếp làm người khó khăn bao nỗi mới thành tựu!

             Sáng nay – sau gần 60 năm, cũng nơi khu phố chợ này- cũng tại căn nhà cũ thuở xưa - trời không mưa bay, chí có sương mù nhẹ. Con phố rộng đang thức dậy – để bắt đầu một ngày vào xuân nhộn nhịp. Phía đông, ráng mây đỏ hồng, hứa hẹn một ngày nắng dẹp. Mùa Xuân hôm nay khác mùa Xuân 60 năm trước. Cảnh vật đã muôn vàn đổi thay – khác lạ, nhưng lòng tôi, vẫn một mầu buồn thương nhớ! Vẫn cô độc trong đời sỗng bất hạnh. Vẫn ngơ ngác trước cuộc truân chuyên của đời người, đời mình như cách nay gần 60 năm…

            Tôi ngồi lặng yên nhớ Mẹ - nhưng tôi không còn giữ được chút gì của mẹ bên cạnh đời tôi: Chưa được một lần hôn lên đôi má của mẹ để có thể nhớ ( dầu ngày nào bà cũng cho gọi tôi vào hôn lên trán bà), chưa được một lần cầm lấy tay mẹ âu yếm để nhìn ngắm, cho đến chưa nói được cùng mẹ một lời nào thốt lên tự đáy lòng thương yêu của mình! ( cho dầu từ khi biết nói mẹ đã tập cho nói nhiều câu…). Tôi chưa làm được chút gì cho mẹ, ngoài nhận của mẹ bao biết bao tình thương yêu, sự chăm sóc, và nuông chiều hết mực dành cho đứa con trai út xấu số!

            Mẹ có thể ngờ rằng, gần 60 năm sau ngày mẹ đã đi xa – đứa con 8 tuổi ngày nào chỉ biết rong chơi - bây giờ đã trưởng thành. Là cha của bồn đứa con đã tốt nghiệp đại hoc và chúng đang sống có ích.  Là ông ngoại của 5 dúa cháu. sắp sửa được làm  ông nội… Đang ngồi đón xuân - nhớ mẹ mà không cầm được những giọt nước mắt thương nhớ ngậm ngùi?

            Một ngày xuân mới đang đến kia rồi – mặt trời đã bắt đầu rực rỡ ráng mây sắc hồng phía đông. Tôi đốt thêm một điếu thuốc, và mỉm cười, đứng dậy…

 

Những Ngày Vào Xuân Nhâm Thìn

MANG VIÊN LONG

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=345816

KÍNH MỜI ĐỌC " MỘT THỜI ĐÊ THƯƠNG YÊU " Tập Truyện MVL
mangvienlong | 05 Jan, 2012, 15:54 | Tản văn Mang Viên Long | (32 Reads)

KÍNH MỜI ĐỌC :

 

               MỘT THỜI ĐÊ THƯƠNG YÊU

                          Tập Truyện 14

                       MANG VIÊN LONG

                        Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn

                       ( Quiý 4 – năm 2011)

                           Bìa : Lê Sa Long

 

      ĐÃ PHÁT HÀNH TRÊN HỆ THỐNG SIÊU THỊ SÁCH

             NGUYỄN VĂN CỪ - Đường Nguyễn Văn Cừ

                     ( Quận 3 – Thành Phố HCM )

 

 Tập Truyện Gồm 12 Truyện Ngắn Tiêu Biểu Của Mang Viên Long

 

             Bạn đọc ở xa có thể liên lạc với Tác giả :

                            Mang Viên Long

                 134, Ngô Gia Tự - Thị Xã An Nhơn

                               Bình Định

                      Phone: 01266623513

            E mail : mangvienlong1944@gmail.com

 

                       XIN TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=345557

S Á U B Ẹ O Truyện Ngắn MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 04 Jan, 2012, 08:21 | Truyện Mang Viên Long | (29 Reads)

 

S Á U   B Ẹ O

 

 Truyện Ngắn

Mang Viên Long

    

      Khi học đến lớp ba trường làng – năm 1957, Sáu Bẹo mới có ý thức rõ ràng hơn về cái tên “ Bẹo “ không đẹp của mình! Trước đó, dù lũ bạn thường chọc ghẹo – ngay trong lớp học, đôi khi thầy cô cũng lấy làm lạ về cái tên “ Bẹo “ khó nghe, vô tình hỏi – nhưng Sáu Bẹo chỉ tủm tỉm cười, rồi lãng tránh! Sáu Bẹo thường nghĩ: Nếu cha mình lúc ấy thay dấu “ nặng” ( Bẹo ) thành dấu huyền ( Bèo ), dấu “sắc“ ( Béo ) hay dấu “hỏi” ( Bẻo) thì cũng không thể hơn! Sáu biết cha cũng là thầy dạy học ở sơ cấp, có vốn chữ Hán được ông nội Hương Kiểm chỉ dạy, nhưng sao lại hết chữ để đặt tên cho đứa con trai duy nhất của mình đứng sau ba người con gái toàn là tên đẹp vậy ( Thanh Trúc, Cẩm Hương, Thiên Lý)?

       Sáu Bẹo cảm thấy ngượng ngùng khi hỏi cha – nên hỏi mẹ: “ Sao mẹ đặt tên cho con ai ai cũng kêu xấu cả vậy? “ – “ Vì con là cháu nội đích tôn, nên ông nội đã đặt cho con, mẹ không dám cải! “.  Một lần, Sáu Bẹo mạnh dạn hỏi cha: “  Cháu nội đích tôn phải đặt tên xấu vậy hở cha? “- “ Không phải cháu đích tôn là phải đặt tên xấu đâu! ““ Nhưng sao tên con kỳ vậy? ““ Vì ông bà nội quá thương yêu con nên đặt vậy thôi ba cũng không dám trái lời ““ Mẹ bảo không dám cải, cha  cũng không dám trái lời, con không hiểu sao ông bà nội kỳ lạ vậy? “ – “ Ông bà nội chỉ có mỗi mình ba là trai, ba cũng chỉ có con là trai – nên ông bà “ sợ “ đặt tên đẹp sẽ khó nuôi, thấy con thường nũng niu khóc đòi nên gọi là “ Bẹo “ – thằng cu Bẹo, nghe cũng dễ thương mà! “

        Lớn lên, học qua bậc trung học đệ nhất cấp, Sáu Bẹo không còn dịp để nghĩ về cái tên của mình nữa, vì đã nghỉ học. Đó là vào năm sau vụ đảo chánh lật đổ gia đình ông Ngô Đình Diệm 1963 – quê của Sáu Bẹo chộn rộn, cuộc sống cũng thay đổi, ngày càng thêm khó khăn – còn Sáu Bẹo thi vào khóa sư phạm cấp tốc không đổ, nên Sáu Bẹo phải nghỉ học. Ba năm sau, trúng tuổi lính, Sáu Bẹo được dưa vào trường hạ sĩ quan Đông Đế, ra trường với “ cánh gà “ ở vai áo, binh chủng thiết giáp. Năm 68, sau biến cố Mậu Thân – cha Sáu Bẹo gọi về cưới vợ - là cô Hương, đang làm cô đỡ hương thôn ở xã. Không đẹp nhưng có duyên thầm, giỏi giang, mạnh khỏe, có tay nghề vững vàng được bà con trong xã thương mến. Ông Hương Kiểm cưới vợ cho Sáu Bẹo là muốn cột chân Sáu lại, nhưng Sáu cứ lần lữa, hẹn dịp…Tình yêu trong buổi giao thời chưa đủ sức nặng để níu chân Sáu Bẹo lại chăng?

          Năm 1970, Hương sinh đứa con gài đầu lòng. Sáu Bẹo mãi dong ruỗi trên chiếc xe bọc thép tận miền rừng núi Dakto; đã gởi thư về dặn đặt tên “Mận”.  Ông còn dặn thêm : “… Em đẻ được đứa nào, cứ lấy tên cây trái trong vườn nhà mình mà đặt tên nhé? “. Chiến tranh ngày càng lan nhanh, khốc liệt – cha Sáu Bẹo nhiều phen bảo Sáu Bẹo đào ngũ, nhưng phải đợi đến năm 72, khi Hương sinh đứa con gái thứ hai ( đặt tên Đào ) - không có Sáu Bẹo ở nhà, Sáu Bẹo mới trốn về.

            Hương rất mắn đẻ, sau Đào là cậu con trai trường. tên là Lê. Sau Lê, cứ cách hai ba năm, Hương lại đẻ lên tiếp thêm bốn cậu con trai nữa: Cam, Lựu, Chanh, Quýt. Quýt – cậu con trai út, sinh vào năm 83 nhưng trong 7 người con ( cả trai và gái ) chỉ có Mận và Lê là rất giống Sáu Bẹo; còn năm người con kia – mỗi đứa một khuôn mặt! Điều làm cho cả xóm Thượng Tây thường xầm xì bàn tán là nét mặt mỗi đứa, đều rất giống những người đàn ông trong xóm Thượng Tây này! Giống đến nỗi như khuôn đúc vậy. Từ khuôn mặt, chân tay, dáng vóc như “ cắt để “ vào, không lẫn vào đâu được.  

             Có lẽ Sáu Bẹo cũng nhận ra điều lạ thường ấy trước tiên, nhưng ông không hề mở miệng. Vẫn yêu thương, chăm sóc – lo lắng từng miếng ăn, tấm áo, ốm đau – cho đến chuyện học hành của các con, như nhau. Ra khỏi nhà, đi làm – Sáu Bẹo thường nghe bạn bè chặn hỏi. chọc quê: “ Tao thấy mấy đứa nhỏ sau này đâu phải  là con của mầy? Mầy không có con mắt hay sao vậy? “. Sáu Bẹo phớt lờ - chỉ cười: “ Nghé ai vào chuồng nhà mình là của mình thôi! “.

           Mấy bà ở xóm Thượng Tây được dịp ngồi tụm lại lúc rảnh rổi để tám chuyện về mấy đứa con của Sáu không dứt : Đứa nào giống cha phó chủ nhiệm hợp tác xã, con nào giống ông công an thôn, thằng nào giống gã nào vân vân – đôi lúc nói ngay trước mặt Hương và Sáu Bẹo nữa, nhưng Sáu chằng hề để tai vào. Hương thấy chồng thản nhiên trước mọi lời dị nghị, dè bỉm, cũng lặng yên theo Sáu không tỏ thái độ gì. Có phải vì e sợ bà con dòm ngó, theo dõi – mà Hương đã chỉ sinh cho mỗi người một đứa con thôi? Năm đúa con – là năm người, năm khuôn mặt khác nhau?    

             Khi Sáu Bẹo cưới vợ cho Chanh – làm sui đám thứ sáu, ở làng Hạ Đông – người con dâu kề út nầy đi đâu cũng bị mấy bà ở chợ Xổm níu áo, kề tai nói nhỏ: “ Cha chồng mày đâu phải là Sáu Bẹo! Là ông Tám Hùng ở cuối xóm đây này! Mày ghé thăm, rồi xem thử có giống thằng Chanh không nhé? “. Vợ Chanh im lặng, về nhà thủ thỉ với chồng: “ Anh ơi! Em đi đâu cũng nghe mấy bà nói anh không phải là con của cha đây – mà là…”. Chanh vừa nghe vợ nói – gạt phăng đi: “ Đó là chuyện của người lớn, anh không biết! Anh chỉ biết anh được sinh ra ở nhà này, cha đã lo lắng, chăm sóc, thương yêu anh hết lòng. Anh không cần biết “ cha” nào khác! Nếu có, cũng là quân bạc tình, đểu giả!”.

             Sáu Bẹo ngoài việc đi làm thuê hằng ngày, và Hương có mặt ở trạm xá một buổi – hai vợ chồng còn làm thêm tám sào ruộng. Cả hai cùng ra đồng, sạ lúa, làm cỏ, tát nước – rồi đến mùa thu hoạch cùng nhau cắt và gánh về, ít thuê mướn ai. Buổi trưa,  cần ở lại ngoài ruộng, Sái Bẹo thường là người chạy về nhà mang cơm nước ra cho vợ. Có hôm, để dành được chút ít – ông ghé chợ Xổm cuốn thêm cho Hương một cuốn bánh xèo, hay cuốn thịt trứng . Có bà trông thấy, tọc mạch hỏi : “ Hai vợ chồng mà cuốn một cuốn thì ai ăn ai nhịn vậy anh Sáu? “ . Sáu Bẹo cười hà hà: “ Tôi đâu thèm ăn ngữ này? Nếu ăn, thì tám cuốn cũng không đủ mà! “. Lúc cầm cuốn bánh ra đi, Sáu Bẹo nhỏ giọng: “ Đàn bà sinh đẻ khó khổ, mất sức lắm. Ngoài trạm ngoài đồng về là lăng xăng lo cơm nước, quêt dọn, gà heo. Đêm đến, con đau – con khóc, phải thức ẵm bồng… Còn đàn ông ấy à? Về đến nhà rửa chân tay xong là leo phóc lên võng nằm toòng tengNhà con đông vậy, bà ấy có gì mà ăn thêm đâu?”.

              Chuyện Sáu Bẹo chạy đi cắt bè lá chuối quấn trên lưng Hương cho mưa khỏi ướt khi cùng đi làm ngoài đồng bất chợt cơn mưa dông ập đến, đã được mấy bà Xóm Thượng Tây truyền đi nhanh chóng khắp xã!

Và, dường như là “phóng viên nhà nghề” – chuyện nhà của vợ chồng Sáu Bẹo luôn được mấy bà xóm Thượng Tây dòm ngó. Nhỏ to - “ cập nhật “ hằng ngày. Ngay chuyện Sáu Bẹo mới ăn giỗ tối qua về, say – thốc mữa cả nhà; Hương đã nhẹ nhàng săn sóc Sáu Bẹo ra sao, lau dọn nhà cửa sạch sẽ thế nào, treo mùng cho Sáu Bẹo ngủ v v v – cũng đều được mấy bà bàn tán một cách hăng hái.

            

               Khu vườn rộng lớn, cùng với ngôi nhà từ đường dòng họ Võ được vợ chồng Sáu Bẹo và các con, cháu chăm sóc rất chu đáo.  Những ngày giỗ, kỵ - Hương và đám con - dâu. rể - cháu nội ngoại – đều chung lo tươm tất, trang trọng. Sáu Bẹo chỉ làm một việc là mặc áo thụng xanh lên đèn, rót trà – lễ cúng.  Sau ông, lần lượt đến Hương, các con trai, gái rể, dâu – cháu nội ngoại răm rắp thứ tự dâng hương ông bà…Ông bà đang ngồi ở trên cao chắc cũng không ngờ trong đám con cháu ngoan ngoãn, lễ phép ấy, có đứa không cùng huyết thống với mình? Mà có cần cùng dòng máu nhà họ Võ không? Sáu Bẹo cũng không hề thắc mắc, và luôn tin rằng – tình thương yêu của chúng sẽ cảm hóa được vong linh người mất hơn là người cùng dòng máu mà tẻ nhạt, thờ ơ – chỉ lo làm giàu, chẳng nghĩ gì đến ông bà, cha mẹ?!

                 Ngoại trừ Đào có chồng xa, theo về nhà chồng ở Vinh Thạnh – mấy người con còn lại, Sáu Bẹo đều chia cho một khu đất trong vườn, xây nhà – chia sẻ vật dụng sinh hoạt như nhau. Không đúa nào hơn đúa nào cả. Ai làm thêm có tiền, muốn mua sắm gì, tùy ý. Do vậy, mấy anh chị em sống quanh quẩn bên nhau, yêu thương, chia sớt cho nhau – như lúc còn sống chung một nhà. Bà con cả xómThượng Tây nhìn vào, dần dần cảm phục, không còn bàn tán ra vào chuyện con cái của Sáu Bẹo nữa! Sau thằng Quýt, bà Hương không còn sanh thêm đúa nào. Bảy đứa con – một đời đàn bà, đã khiến bà tự cảm thấy quá đủ chăng? Riêng Sáu Bẹo – có lần nói đùa với vợ : “ Vườn nhà ta còn nào Ổi, Xoài, Mít…sao bà không sanh thêm cho vui? “

             Sau ngày đám cưới Quýt – làm sui đám cuối cùng, chứng đau tức bên ngực trái thường xuyên hơn, kéo dài lâu hơn - Sáu Bẹo phải nghỉ hằn ở nhà, không đi nhận việc làm xa nữa. Mận nói : “ Cha nên nghỉ bớt việc đi! Lũ con lo cho cha được mà! “. Lê – trưởng nam, thường lập lại: “ Đời cha đã khổ nhiều vì các con rồi! Cha còn khỏe ngày nào, hưởng vui ngày đó. Mai kia, đau nặng, nằm xuống – còn vui thú gì đâu? “. Quýt thêm vào: ” Lúc ấy, cha còn có ăn uống được gì nữa đâu? Mà có muốn ăn, cũng đâu ăn được? Có muốn đi chơi xa, thăm bạn bè, cũng đâu có ngồi xe được nữa, mà cha ham công tiếc việc? Cha còn sống khỏe bên tụi con ngày nào, là mừng còn hơn cho vàng mà! “. Cô dâu thứ ba – vợ của Lựu, cũng góp ý: “  Bây giờ cha còn ăn uống được, không cho ăn. Mai kia cha đau nặng, ăn làm sao? Có cúng giỗ linh đình, cũng chỉ để che mắt thiên hạ mà thôi!”

              Sáu Bẹo nghỉ việc vì theo dõi biết sức khỏe của mình hao mòn dần, bệnh tim trở nặng hơn – chứ chẳng phải vì những lời can dán, an ủi của các con. Cũng từ dạo ấy – các con Sáu Bẹo luôn dành cho ông sự quan tâm chăm sóc đặc biệt: Khi thì mấy lạng thịt bò, chục trứng vịt lộn, cuốn bánh nem chả,  lát cá thu, và trong túi ông thường xuyên có tiền để chi dùng tùy ý! Đứa con nào gởi cho gì – ông cũng đều nhận, không quan tâm ít nhiều, không hề từ chối. Sáu Bẹo thường nói với hàng xóm: “ Con chúng thương gởi cho gì, thì nhận cho chúng vui. chứ tôi đâu thèm ăn món gì nữa? Cơm rau mắm cho chắt ruột thôi…”. Mà thật vậy, sau khi các con đi rồi – Sáu Bẹo đưa hết cho bà Hương. Ngay cả cuốn bánh dành cho riêng ông. Nói: “ Bà đi chợ mua thứ gì cũng được miễn bà thích, về ăn! Tôi không thèm thứ gì đâu! “. Ông chìa cuốn bánh ra trước mặt Hương: “ Bà ăn giùm tôi cuốn bánh này đi! Tôi chỉ cần rau mắm, hay dưa cải kho thịt ba chỉ là ngon lắm rồi! Tôi không ưa mấy món này…” – Ông thường dặn khi bà cắp rổ đi chợ: “ Hôm nào có mắm cua ngon, bà mua cho tôi một chai, ăn với rau lan luột nhé?  Còn bà ra chợ, có bún giò cháo lòng gì ngon thì nên ăn để khỏi mất công mua về nấu nướng phiền lắm! “. 

              Sau khi Sáu Bẹo bị cơn đột quỵ bị ngất xỉu phải chở đi bệnh viện tỉnh cấp cứu, các con ông đề nghị đưa ông vào viện tim thành phố - để giải phẩu, ông quyết không chịu. Ông trả lời con: “ Ba già rồi, sống thêm vài ba năm – đâu có ích gì mà các con phải mất cả trăm triệu bạc trong lúc còn khổ vậy?  Chi bằng, các con để dành – sau này cha có mất đi – có mà lo cho các con. lo cho mẹ để bà ấy đỡ khổ! Bà ấy đã khổ vì các con nhiều rồi. mà vắng cha - ai chăm sóc cho mẹ con đây “.

             Mấy anh chị em Mận bàn tính nhau, thuê một chiếc xe 12 chỗ ngồi – mời Sáu Bẹo và mẹ đi chơi một buổi. Sáu Bẹo nghe vậy – cười: “ Các con cho cha với mẹ mầy đi thăm lăng Quang Trung, thăm cầu Nhơn Hội, thăm chùa Long Khánh rồi về”.  Sáu Bẹo ngồi trước xe, nhìn ngó quang cảnh, cảm thấy sự đổi thay trong bao nhiêu năm thật xa lạ, và nhanh chóng, mà nghĩ đến đời người. Cuộc đời đổi thay cũng thật nhanh chóng!

             Sau ngày đi chơi xa vài hôm - một buổi sáng sớm, khi ăn xong bát cháo đậu xanh bà Hương mang vào buồng – Sáu Bẹo gọi: “ Mẹ con Mận ơi! “

-         Có chuyện gì vậy ông?

-          Có chút chuyện…

-         Mà chuyện gì? -  bà Hương đon đả bước vào buồng, ngồi yên trên chiếc dựa dựa vẫn dành cho bà mỗi lần vào chăm sóc, trò chuyện vời ông. Nhìn gương mặt Sáu Bẹo xanh tái.

-         Bà gọi hết mấy đứa nhỏ về gặp tôi, bà nhé?

-         Lại có chuyện gi?

-         Có chuyện – Giọng Sáu yếu dần, ông cảm thấy hơi thở nặng nề, chùng thấp.

            Chưa có đứa nào ra khỏi nhà đi làm – nên chỉ nửa giờ sau, là đã có mặt trong buồng ông đầy đủ. Riêng Đào, khi nhận được điện của Lê đã hẹn sẽ nhờ xe thồ chở về ngay vì chuyến xe duy nhất từ VĩnhThanh về thành phố chưa đến giờ khởi hành.

            Có lẽ nghe được tiếng ồn – Sáu Bẹo hé mở đôi mắt lờ đờ, liếc nhìn một vòng hết thảy đám con cháu. Ông khép mắt lại. Gắng giữ hơi thở đều. Bàn tay mặt áp lên ngực trái.

  -   Các con đã dủ hết chưa?

               -   Dạ, đủ hết rồi! Bà Hương đắp khẻ.

               -   Thằng Lê đâu?

               -   Thưa, có con đây…

               -   Con bưng ảnh cha đi trước nhé?

               -   Dạ !

               -  Thằng Hưng con mày và thằng Tấn con thằng Cam đi hai bên, một đứa bưng khay hương đèn, một đứa bưng khay hoa nước…

               -   Dạ!

               -   Con trai, cháu trai đi bên trái quan tài..

               -   Dạ!

               -   Con  gái, cháu gái đi bên phải quan tài…

               -   Dạ!

               -   Mẹ mày đi sau sát quan tài…

               -   Da!

               -   Tất cả không được khóc…

               -   Dạ…

               -   Các con nghe rõ chưa?

               -   Thưa rõ…

               -   Ngay từ bây giờ, các con – các cháu, hãy niệm Phật đi! Cha  sắp đi đây, ông đi đây…

                Sáu Bẹo nhếch môi – dường như một nụ cười. Nét mặt bình thản.

-         Vĩnh biệt bà, Hương ơi! – Sáu Bẹo khẻ hé mở đôi mắt, rồi từ từ khép lại…

         Tiếng niệm Phật của đám con cháu Sáu Bẹo rền vang – khơi động một góc xóm Thượng Tây còn yên tĩnh…

 

           Mặc dù Sáu Bẹo đã vắng bóng trong ngôi nhà này, nhưng với bà Hương – Sạo Bẹo vẫn còn đó. Ông vẫn còn nằm toòng teng trên võng, ngồi xếp bằng trên tấm phảng uống trà, hay cùng bà ngồi ăn nơi chiếc bàn vuông nhỏ nhắn kia…Mỗi sáng, bà đều dậy thật sớm – chạy đi mua khi bánh hỏi, bánh ướt, bánh xèo – khi thì tô cháo, hộp xôi; về đặt ở chiếc bàn vuông trước bàn thờ Sáu Bẹo – thắp hương, mời ông ăn. Bà cùng ngồi ăn với ông cho đến hết bữa. Phần trong chén Sáu Bẹo – bà ăn sau cùng. Trước khi dọn mâm thức ăn, bà đốt cho ông điếu thuốc Basto đỏ, cắm vào lư hương. Một ngày ba lần – bà không bỏ sót bữa nào – cho dầu là ngày đau yếu…

          MANG VIÊN LONG

    

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=345356

CHÂN THÀNH CHIA BUỒN CÙNG NHÀ THƠ MAI THÌN...
mangvienlong | 02 Jan, 2012, 20:20 | Tản văn Mang Viên Long | (68 Reads)

CHÚNG TÔI

ĐAU BUỒN BÁO TIN :

 

                                    Cụ Bà  LÊ THỊ HỢI

                                Sinh năm 1922 ( Quí Hợi )

            tại Phường Nhơn Thành. TX An Nhơn, Bình Định

      Trú Quán 08/10 Võ Văn Dũng-Ph Ngô Mây, Tp Quinhơn

         Trú Quán 08/10 Võ Văn Dũng-Ph Ngô Mây, Tp Quinhơn

.                          

   ĐÃ TỪ TRẦN VÀO LÚC 19 Giờ., Mồng 1 th 01-2-12

              ( Nhằm Ngày Mồng 8 tháng 12 Tân Mão)

                           Hưởng Thọ 90 Tuổi

               LÀ THÂN MẪU CỦA NHÀ THƠ MAI THÌN

 

           Lễ Truy Điệu : 13 Giờ Ngày 04 tháng 1-2012

                               ( 11 tháng 12 TM)

          Lễ Di Quan   :   14 Giờ Ngày 04 tháng 1-2012

                              ( 11 tháng 12 TM )

   

    CHÂN THÀNH CẦU CHÚC HƯƠNG LINH CỤ BÀ

            SỚM AN LÀNH NƠI CÕI TỊNH LẠC

                       

XIN CHIA BUỒN CÙNG NHÀ THƠ MAI THÌN & GIA QUYẾN

               NHÂN NGÀY ĐAU BUỒN NÀY!

                          

Mang Viên Long & Đặng Tấn Tới & Nguyễn Như Tuấn & Phạm Văn Phương

& Lâm Bích Thủy & Trần Minh Nguyệt & Nguyễn An Đình & Nguyễn Hoàn &

Từ Văn Minh & Lâm Huy Ánh & Huỳnh Kim Bửu & Trương Văn Dân &

Trần Viết Dũng & ...

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=345122

ÁNH ĐẠO VÀNG SÁNG GIỮA MÙA XUÂN Trang Thơ Nhiều Tác Giả
mangvienlong | 01 Jan, 2012, 21:07 | Tản văn Mang Viên Long | (63 Reads)

 

Hoa Tâm Trong Vườn Đạo…

 ÁNH ĐẠO VÀNG

 SÁNG GIỮA MÙA XUÂN…

( thơ nhiều Tác giả, Ns Vô Ưu Xuân Nhâm Thìn )

 

  @Bài Viết:

 Mang Viên Long

 

        Hằng năm cứ mỗi độ cuối đông, tiết trời đang bước sang Xuân - toàn thể Phật tử trên khắp thế giới, đều long trọng tổ chức lễ kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo (vào ngày mùng tám tháng mười hai âm lịch).

       Cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm , sau sáu năm khổ hạnh tu tập, Đức Bổn Sư đã chứng đạo dưới cội Bồ đề, thuộc vùng Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa) gần thị trấn Gaya (nay là Bodhgaya - Bồ đề Đạo Tràng), tiểu bang Bihar, Đông bắc Ấn Độ.

       Ngài cũng đã bày tỏ cảm tưởng sau khi đạt đến chân giác ngộ tuyệt đình mà đã trải qua bao kiếp sống, bao tháng năm tu tập khổ luyện - như là mình vừa thoát khỏi ngục tù, bước vào một trang đời hoàn toàn mới và vô cùng hân hoan vì sự giác ngộ và giải thoát toàn triệt cho chính cuộc đời mình:

 

 “Lang thang bao kiếp sống

Trong sanh tử luân hồi

Ta tìm nhưng chẳng gặp

Người xây dựng nhà này

Tái sanh thật khổ thay.

Ôi người làm nhà kia

Nay ta đã thấy ngươi

Ngươi không làm nhà nữa,

Đòn tay ngươi gãy rồi

Kèo cột người tan nát,

Tâm ta đạt an ổn

Tham ái thảy tiêu vong”

(Pháp Cú 153 & 154).

           Đêm ấy là ngày trăng tròn tháng Tithakhu (theo lịch của Ấn Độ), tức nhằm ngày mùng tám tháng 12 theo lịch của Trung Hoa, lúc Ngài vừa tròn 35 tuổi, đúng vào năm 590 trướcTây Lịch…Khởi nguồn từ đêm lịch sử ấy – ánh Đạo Vàng đã không ngừng chói sáng, rạn rỡ trong hằng triệu triệu trái tim nhân loại để cùng tiến về bến bờ an lạc chân thực, vĩnh hằng cho đời mình!

          Bày tỏ niềm kính ngưỡng và tri ân nhân ngày Đức Phật thành Đạo – nhà thơ Chơn Ngữ đã thốt lên :

        “ Lành thay! Đời có Đạo Vàng

           Sáng soi khắp cõi – đường quang, nẽo về

           Mừng ngày thấy được Chân Quê

           Tâm hương dâng gởi, lời thề sắc son! “

         Nhớ lại đêm lịch sử thiêng liêng ấy, người thơ Phan Thị Hiệp đã bày tỏ:

         “ (...) Sấm nổ vang trời, muôn ngàn chớp giật

             Người ngồi yên thiền quán – mặc mưa tuôn

             Người nghiệm ra sự hiểu biết, yêu thương

             Làm chuyễn hóa bao niềm đau, sầu hận! (..) “

         Nhà thơ Nguyễn Miên Thương ghi lại cảm xúc về “ Xuân Thành Đạo “ thật chí thành:

         “ Đất trời bổng sáng dị thường

            Trần gian khai Hội – mười phương Đạo Vàng

            Nắng Xuân hoa cỏ rộn ràng

            Nghìn con én lượn về ngang lưng trời(..) “

         Hòa cùng niềm hân hoan chung, Ngọc Ninh đã “ Mừng Ngày Đắc Đạo” bằng vần thơ mộc mạc, mà thắm tình:

         “ Con qùy trước tượng Đấng Như Lai

            Châm nén tâm hương tưởng niệm Ngài

            Độ chúng sanh mê – rời biển tục

           Truyền Kinh hậu thế thoát trần ai

           Nhất phẩm vô ưu, ngời vạn tuế

           Tâm thông rực sáng bổn liên đâì “

       Nhà thơ Lê bá Duy “ Đi Lễ Chùa “ với  đoạn thơ ngũ ngôn tứ tuyêt trong sáng, hồn nhiên:

          “ Đầu năm đi lễ chùa

             Đóa Vô ưu rộ nở

             Nắng hồng xuân trong mắt

             Sưởi ấm nhành hoa thơ “

       Với ý tưởng mùa Xuân mang đến cho người bao diều ước mơ & hy vọng – Trương Thị Giàu đã “ Gánh Xuân “ đi khắp phố phường để “ bán “ cho người tình thương yêu…

        “ (…) Một mình một gánh gian truân

              Chiều Xuân lạc bước buâng khuâng cuối đường

              Gánh Xuân đi khắp phố phường

              Bán Xuân với cả tình thươg dâng người (..) “

       Vui mừng nhân ngày trọng đại Phật thành Đạo, cùng với mùa Xuân với bao hy vong đang về - nhà thơ Nguyên Thọ -BCT đã ghi trọn cảm nhận về “ Chùa Quê Mùa Xuân “ với niềm tin & cảm xúc dạt dào:

          “ Từ đâu

             chim én bay về

             Đậu trên mái ngói chùa quê gọi bầy

             Hương trầm xông ngát sáng nay

             Thầy lần chuỗi hạt, đón ngày Xuân sang

             Hoàng Mai vừa nở dịu dàng

             Sau ngày bão lũ

              ngập tràn niềm tin

              Cõi thiền nắng trải lung linh

              Người về chiêm bái, thắm tình ân sâu! “

       Trong tình cảm sâu sắc đặc biệt ấy – Ngô Quang Thi đã có một “ Giấc Mơ Xuân “ thật nồng nàn & thơ mộng..

           “ (…) Trăng kề lọt bóng song thưa

                Chùm hoa thuở trước hương đưa đến giờ

             Chày kinh lay hạt sương mơ

             Hồ sen nở nhụy, vàng huơ của Thiền (..) “

        Với niềm hân hoan sẵn có ắp đầy trong lòng, với mùa Xuân đang đếm bước hồn nhiên trở lại với Người – Vĩnh Hiền đã cảm thấy “ Xuân Mới “ cũng đang chớm nụ với đời mình bằng đoạn ngũ ngôn tứ tuyệt thắm đượm đạo vị:

            “ Xuân mới, vườn xanh mới

               Ngào ngạt đất hương xông

               Đi trong mùa hoa cải

               Niềm vui như trăng Rằm! “

      Nhà thơ của xứ Hoa Đào Phan Thành Minh với “ Niệm Khúc Lá “  thật êm đềm & lãng mạn khi mùa Xuân đang đến :

           “  Em đội mâm lễ lên chùa

               Con trăng mười bốn cợt đùa áo lam

               Tóc đuôi gà thắt nơ cam

                Bờ môi cẩn nguyệt em làm khổ ai? (..) “

       Đào Phước Giao cũng rất đồng cảm với “ Tình Xuân “ – nhưng thoáng chút ngậm ngùi về cõi vô thường của phận người:

        “    Đi gom hạt nắng trên ngàn

              Đem về ươm nụ cả vườn hoa xuân

              Xuân đi – xuân đến, mấy lần?

              Giật mình đếm tuổi phong trần bao năm? “

       LV-Phùng Hữu Hoàng từ phố biển gởi “ Thơ Lên Phố Núi “ với tình cảm chân thành, dào dạt trong ngày vui & mùa xuân chung :

         “ Cảm mến tình thơ trên Phố Núi

            Gởi thơ phố biển đến non cao

            Thơ núi : Cồng chiên tràn dũng khí

            Thâm tình, thơ biển sóng xôn xao! “

       Với sự chuyễn đổi mầu nhiệm của mùa Xuân từ thiên nhiên, lòng người cũng đã bắt gặp ở chính mình những sự chuyễn hóa rất mới lạ & ấm áp.  Triệu Nguyên Phong đã “ Hát Hội Mùa Xuân “ thật nghĩa tình:

          “ Theo nhau

          về hội

          đồng xanh

          Em lam lũ vẽ bức tranh

          quê nhà

          Miệt mài sông gánh phù sa

          Lúa vàng đượm khúc dân ca trữ tình (…) “

      Và “ Sắc Xuân “ của Nhật Quang đầy mầu sắc & hình ảnh nên thơ :

        “Xuân về tô điểm bốn mùa

          Tô son duyên dáng mái chùa chân mây

           Nhành đâò thấp thoáng bóng cây

           Mặt hồ trăng tỏ vơi đầy sắc hoa

           Chim về sớm tối hát ca

           Chung xây tổ ấm mái nhà chúng sanh (…) “

      “ Chiều Xuân Viếng Chùa “ của Bùi Văn Thọ đượm nét hồn nhiên, giản dị :

          “ Chiều xuân theo Mẹ viếng thăm chùa

             Trời rắc mầm xuân những giọt thưa

             Vội vã băng qua nhiều thửa ruộng

             Tổi đình Thiên Phước đến hay chưa? “

         Với thể thơ Đường – thất ngôn bát cú – nhà thơ Hạnh Phương đã ghi lại “ Giai Điệu Mùa Xuân “ bằng những rung cảm chứa chan nồng thắm :

          “  Phúc lộc thanh tân mãi rưới chan

             Tri âm giao hưởng vọng tơ dàn

              Niềm – Trong thi tứ lòng trong tuyết

              Giá – Ngọc  vừa hương phẩm ngọc lan

              Ấp ủ tự bao ngày khát vọng

              Ước ao từng phút buổi chiêm quan

              Từ muôn phương đến trăm chiều lại

              Chan chứa tình Xuân biếc núi ngàn “

       Người thơ Lê Thị Minh Nghiệm “ Nghe Câu Hát Lượn Ngày Xuân “ thật thiết tha & trong sáng:

         “  Mùa xuân có tự bao giờ

            Để câu hát cứ lượn lờ quanh em

            Để cho lạ bổng thành quen

            Để cho đêm bổng bừng lên ánh ngày

           …

            Kìa sao có chuyện lạ lùng

            Mùa xuân – câu hát, theo cùng nhớ thương! “

      Trong cõi mơ mộng & cô độc, người thơ vẫn thường “ Tỏ Tình Cùng Xuân “ thật ngọt ngào, thao thiết như Mã Nhược Mai đã tâm sự:

           “ Em về dưới hạt mưa xuân

              Giọt bay lất phất tiễn chân buổi này

              Còn anh ngồi nán lại đây

              Ý xuân vừa chớm, đong đầy tình em! “

        Và hãy lắng nghe người thơ Nguyễn Tấn Thái “ Tỏ Tình “  cùng xuân quê nhà:

            “ Tình em mầu lá bình yên

                Xuân ca nhã ngọc suốt miền tươi xanh

                Dịu thơm lụa thắm an lành

                 Duy Xuyên tơ nắng long lanh vui cừoi

 

                Ngày xa ôm trọn tình người

                Khắc ghi cùng cuộc ngược xuôi khắp miền

                Tình em nguyên vẹn. như nhiên

                Thăng Bình mến gởi nỗi niềm yêu thương “

        Cùng với muôn hoa khoe sắc, Hoàng Hà- Bùi Châu Thạch, cũng đã nhìn thấy đóa “ Hoa Tâm “ bừng nở giữa mùa vui Thành Đạo và Xuân của đất trời:

          “ Hoa Tâm nở ngát vườn hồng

             Tiếng chim ríu rít ấm nồng ngày Xuân

             Cành thương đượm trái trong ngần

             Long lanh mắt Mẹ - bâng khuâng nỗi niềm! “

        Nhớ quê – là nhớ Mẹ, bởi nơi chôn nhau cắt rún ấy – tình Mẹ đã sớm khuya làm nên “ quê nhà“ . Ngọc Tánh đã có cảm nhận như vậy trong “ Nhớ Quê “:

           “ Nhớ quê con nước rạc ròng

              Thương thân cò lội mấy vòng thời gian

              Thương cha đi sớm vội vàng

              Niềm riêng nỗi Mẹ cơ hàn đắn đo

               Lòng con xao xít buồn lo

              Nhớ quê – nhớ Mẹ, câu hò đêm trăng “

        Người thơ Duy Hiền nghĩ về “ Mẹ Quê “ của mình thật chí tình:

          “ (…) Cua dồng Mẹ bắt từng con

                Ngắt chùm rau bợ, lon ton đem về

                Mẹ thường nhặt củi bờ tre

                Lát mì cõng gạo, muối mè dầm tương

                Kể sao hết nỗi lo toan

                Ân sâu nghĩa nặng cội nguồn bao la! “

       Trang “Hoa Tâm Trong Vườn Đạo”  đã được người thơ Nguyễn Thị Sô gọi là “ Vườn Hoa Xuân” với niềm hân hoan & hy vọng cùng với Ánh Đạo Vàng đang tỏa sáng giữa mùa Xuân:

              “Xuân về rực rỡ thắm vườn hoa

                Muôn sắc bừng lên,ánh sáng lòa

                Mai cúc hồn nhiên khoe sắc mới

                Lan, Hồng e ấp vẻ kiêu sa

                Gió hôn nhẹ lưởt làn môi mọng

                Sương đậu lung linh giọt chẳng nhòa

                Ong bướm gọi nhau mùa hội tụ

                Về đây sum họp một mùa hoa “

        Chân thành cám ơn Quý Thi Hữu & Đạo Hữu đã luôn gắn bó & điểm tô cho “ Vườn Hoa Tâm “ Vô Ưu ngày thêm phong phú và luôn là vườn hoa muôn vẻ của tình Thương Yêu & Tình Đạo thắm thiết!

         Người giữ vườn xin gởi đến tất cả lời cầu chúc :”THÂN TÂM THƯỜNG AN LẠC TRONG ÁNH ĐẠO VÀNG NHIỆM MẦU BẤT TUYỆT !“

 

Lập Tâm tịnh thất

Lập Xuân Canh Thìn

MANG VIÊN LONG

 

       

       

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=345002

XUÂN ĐẾN KHẺ KHÀNG Tạp Bút MANG VIÊN LONG
mangvienlong | 30 Dec, 2011, 19:51 | Tản văn Mang Viên Long | (48 Reads)

X U Â N  Đ Ế N  K H Ẻ   K H À N G…

 Tùy Bút

Mang Viên Long

 

           Buổi sáng sớm-nhìn qua khung cửa sổ hướng ra khu vườn như mọi ngày để nhận biết ngày mới đã đến-một ngày nữa sẽ trôi qua trong đời để bước dần về phía xế chiều của đời người-nhưng sáng nay tôi bỗng nhận ra một điều gì khang khác?

         Trước tiên là mầu nắng. Nắng trong, hanh vàng, rất lạ! Sắc nắng tươi nguyên như có sức tỏa hơi ấm cho dầu cái se lạnh của những ngày gần cuối năm vẫn rần rật quanh dây! Nắng chiếu trên những tán lá mầu xanh đậm làm cho nó long lanh, như mỏng ra, và dịu dàng hơn trong hơi gió thoảng. Nắng tràn đầy trong khu vườn, trên từng khóm hoa, lối sỏi quanh co một cách hồn nhiên như mời gọi…

         Tôi bước ra sân- ngước nhìn lên bầu trời : Một mầu xanh nhạt. Mầu xanh của nền trời  như cũng được ánh nắng trong trẻo tươi nguyên kia làm cho mỏng đi, bàng bạc, vời vợi-có sức hấp dẫn lạ kỳ! Đó là một mầu nắng dìu dịu tinh khôi, quyến rủ- gợi nhớ bao kỷ niệm xa xưa, êm đềm!  Tôi tự hỏi : Cái nền trời âm u, xám ngoắt của tháng ngày mưa dầm gió giật mấy hôm trước đây đã biến  đi đâu rồi?

         Hướng tia nhìn xa ra ngoài cánh đồng phía trước : một mầu lúa non xanh mơn mởn, một màu nắng mới tơ vàng, một mầu trắng nõn của đàn cò, một mảnh trời trong xanh yên vắng, môt  vài cánh én chao nghiêng đưa thoi-tôi chợt nhận ra là mùa xuân đang khẻ khàng đến…Xuân đang đến-từng bước, từng bước nhẹ nhàng, như bước chân lặng lẽ của thời gian đều đều gõ nhịp tích tắc nơi chiếc đồng hồ Telda cũ càng đã được mẹ tôi treo nơi vách đã bao năm!

        Tôi cảm thấy lòng mình như cũng được sắc nắng xuân chiếu rọi, sưởi ấm, vỗ về. Một sự chuyễn hóa thật mầu nhiệm khiến lòng tôi cũng nao nao, xao xuyến. Tâm hồn tôi như cũng đang được đổi mới cùng đất trời đằm thắm bao dung kia. Mùa đông buốt giá bão bùng dang dần lui xa- trả lại cho vạn vật một sức sống mới .Tôi ngồi lặng yên ở chiếc ghế mây cũ bên hiên nhà-thầm nhớ lại hơn sáu mươi mùa xuân đã đi qua đời mình-bao thăng trầm biến đổi, bao khổ đau hệ lụy dời thường- và tôi chợt mỉm cười với mình trong niềm an vui ấm áp của tuổi đời còn lại ...

         Cùng lúc- tôi chiêm nghiệm về những bước chân thong dong, êm ái  của mùa xuân mà nhận ra ở đời mình hiếm khi được có những bước chân an nhiên vững chải như thế. Tôi đã vội vã. Đã rộn ràng. Đã chen lấn. Và những bước chân lận đận ấy đã đẫn dắt tôi lao đao suốt mấy chục năm trời!

         Tôi luôn mơ ước có  được“ một ngày không vội vã” để nhìn kỷ từng bước chân đi, nhìn từng xao xuyến gợn lên từ  đáy hồn mình để nhìn thấy rõ hơn bao điều diệu kỳ của đời sống! Chỉ mong một tuần, có được “ một ngày không vội vã” thôi mà vẫn chưa làm được? Suốt bao năm dài , tôi đã đánh mất những ngày “ không vội vã ” quý giá ấy mà mãi mê đuổi bắt ảo ảnh hảo huyền ngày càng xa mờ…

          Lặng nhìn từng bước đi của mùa xuân đang đến quanh tôi- tôi thầm ước , làm sao có được những bước chân khẻ khàng mà vô cùng thiêng liêng như mùa xuân bây giờ ?

           Tôi nghĩ- khi tâm hồn đã tươi mới  trong trẻo như nắng xuân. Cuộc sống đã rộng mở bao dung như trời xuân. Suy tưởng an nhiên mát lành như gió xuân-thì lúc đó, từng bước chân ta đi vào đời sẽ thong dong vô ngại biết bao!  Sẽ nhiệm mầu an vui & hạnh phúc biết bao!

           Tôi chợt nhớ đến hai câu kệ của Ngài Hoàng Bá : “ (…) Bất thị nhất phiên hàn triệt cốt/ tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương” ( Chẳng phải một phen xương buốt lạnh/ hoa mai đâu dễ ngát mùi hương)-như mùa xuân đã bị vùi dập qua bao tháng ngày bão táp đen tối-cho đến sáng hôm nay đang trổi dậy, đang cựa mình vươn lên, để  hiến dâng cho đời bao niềm hy vọng…

  

Lập tâm tịnh thất vào xuân...

MANG VIÊN LONG

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=344733

NHÀ THƠ YẾN LAN, SÁNG NGỜI MỘT NHÂN CÁCH - Trần Minh Nguyệt
mangvienlong | 30 Dec, 2011, 07:26 | Bài viết của bạn văn | (47 Reads)

NHÀ THƠ YẾN LAN, 

( 1916 – 1995 )

 SÁNG NGỜI MỘT NHÂN CÁCH…

  

 

 Tạp Bút

TRẦN MINH NGUYỆT

 

            Nhà thơ Yến Lan ( có biệt danh: Lân) là một trong “ Tứ Linh “ ( Long, Lân, Quy, Phụng ) của Bàn Thành Tứ Hữu ( theo thứ tự: Hàn Măc Tử ( Long), Yên Lan ( Lân ), Quách Tấn ( Quy), Chế Lan Viên ( Phụng) ) mà tôi ngưỡng mộ nhất khi được dịp đọc nhiều thơ Ông – nhất là,  khi được biết rõ nhân cách của Ông ( qua các bài viết của quý nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học: Giang Nam, Nguyễn Hữu Thỉnh, Phạm Hổ, Khổng Đức, Tế Hanh, Hoàng Cầm, Thúy Toàn, Minh Châu,Trúc Thông, Nguyễn Thụy Kha, Hoài Anh…và qua tác phẩm “ Nhớ Mãi Về Anh “ của bà Nguyễn Thị Lan ( nhà XB Văn học -2001 ), cùng tập hồi ký của Lâm Bích Thủy được đăng nhiều kỳ trên trang vnweblogs của nhà văn Mang Viên Long - 2008) - Người với thơ là một. Người xưa đã từng nhận đinh  “ Văn ( thơ ) là người “ – ở nhà thơ Yến Lan đời sống và thơ Ông là một thể thống nhất, keo sơn – cho dù phải trải qua bao nổi truân chuyên, thăng trầm: Ông đã trải lòng với thơ, sống chung thủy chân tình với thơ hơn hai phần ba thế kỷ! Thơ Yến Lan khẻ khàng, sâu lắng, đôn hậu như con Người Ông vậy!

           Từ những bài thơ đầu tiên trong tuổi thanh xuân, cho đến những bài thơ cuối đời đọc cho người bạn đời ghi lại trên giường bệnh – Nhà thơ Yến Lan vẫn một giọng thơ, một dòng thơ dào dạt yêu thương đời, yêu thương người với tấm chân tình hồn hậu, rộng mở.

            Nhà thơ mồ côi Mẹ rất sớm – nhà nghèo, Ông viết trong bài “ Dáng Mẹ “ như một khắt chạm, phác thảo tài hoa  :

                  “ Tưởng tượng không ra hình dáng Mẹ

                      Đêm dài con thức vẽ chân dung

                      Thôi đành mượn nét xưa cha kể

                      Trên mũi kim cong một sống lưng “

           Sự nhớ thương ấy gắn liền với hình ảnh khó quên của đời Ông:

                   “ Quê ngoại bên kia bãi cát vàng

                       Mẹ tôi về, lỡ chuyến đò ngang

                       Cơn đau, trở dạ - không giường chiếu

                       Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng “

                                (Bệnh Trăng – 1938)

           Nhà thơ đã viết về người chị thứ Tư thân yêu:

                     “…Tuổi thơ một đời cây thị

            Chiều lung linh theo tiếng chuông chùa        

            Một lòng giếng nửa làng đến múc

           Không thấy mặt mình chỉ nước nhấp nhô           

          Mẹ chết sớm, chị đi phu

          Quần áo rách túm bằng dây chuối…”

 

          Còn lại với người chị - như người mẹ nhỏ, Nhà thơ đã cảm nhận được nỗi cô độc và đã nuối tiếc “ Khi Chị Đi Lấy Chồng : “ Nhiều người cũng mồ côi, song đối với ông là cả một không gian mồ côi; mồ côi mẹ, đến chị, đến cả bát đũa nữa :

 

                   “ Khế chua chị nấu lá mồng tơi

                     Em ước cùng ăn đến trọn đời

                     Tang mẹ mãn rồi, bà mối giục

                     Chị đi bát đũa cũng mồ côi”

           Với tình yêu đầu đời – cũng là mối tình thủy chung cho đến ngày cuối – nhà thơ đã thố lộ trong “ Tặng Hoa ‘ (1938) rất chơn chất, đằm thắm và chí tình:

                    “ Tuổi trẻ băng đồng đi hái hoa

                       Tặng em ngấp nghé chực quanh nhà

                        Người không ra đón, hoa dần héo

                        Héo cả làn mây đỉnh núi xa

   

                        Không trách ai đâu, chỉ trách mình

                        Dáng nghèo, lam lũ áo thư sinh

                        Bó hoa đơn giản, hương đồng nội

                        Lầu gác, ai đâu dễ động tình

 

                        Trở lại cành trơ, tự hổ ngươi

                         Giá hoa còn đấy, hẳn đang tươi

                        Vụng về đến nổi vô duyên vậy

                         Bởi hiều hoa thôi, chẳng hiểu người… “

            Tình Yêu trong thơ Yến Lan có một nét rất riêng: lãng mạng nhưng kín đáo. dào dạt mà từ tốn, chân thật không lắm lời: Chúng ta hãy đọc vài đoạn tứ tuyệt:

                       “  Từ cửa nhà em đến nhà anh

                            Phải vòng qua một quảng đường quanh

                            Nhưng vườn sau lại liền không đất

                            Chỉ cách nhau ra một bức thành”

           Hay;

                        “ Cây trái hai nhà vườn giao nhánh nhau

                            Phía anh lê, lựu; phía em đào

                            Đến ngày trái chín bên này hái

                            Đưa biếu bên kia lứa quả đầu “

              Và :

                         “ Giận cái ngây thơ tự buổi đầu

                            Thấy rằng tường dậu chẳng ngăn nhau

                             Ai hay rẻ thúy chia duyên ấy

                             Còn bức tường cao giữa khổ, giàu! “

            Rất nhiều bài tứ tuyệt được Yến Lan viết về sau này dành cho Người Yêu, Tình Yêu – nhưng dù có hào hoa lãng mạn, vẫn một giọng thơ chân thật, sâu kín – rất tinh tế:

                             “ Em đến xin hồng, hồng chửa nụ

                                Hôm nay hồng nở, bóng em xa

                                Cầm chân bữa trước em không ở

                                Giờ biết làm sao cầm được hoa? “

                                           ( Cầm Chân Em, Cầm Chân Hoa)

             Với người bạn đời – là người yêu đầu tiên, Nhà thơ đã dành trọn hồn thơ chung thủy gắn bó đến cuối dời – bằng lời tâm tình rất đầm thắm trong bài “ Khắng Khít “ ( viết năm 1965) để tặng bà như một món quà ngày sinh nhật: 

                           “Em có cháu gọi “bà”
                                Gọi “em” anh vẫn gọi
                                Năm mươi tuổi, ai già
                                Chúng mình sao trẻ vậy.
                                Anh đọc truyện em nghe
                                Em muốn em là “Tấm”
                                Lòng Hoàng tử anh mê
                                Từ buổi – đầu em lấm.

                                 Em gọt khế cuối mùa
                                Anh cắn từng lát nhỏ
                                Ôi, quả thường vị chua
                                Mà mọng nhiều thương nhớ.

                              …Bao bận anh lên đường,
                                 Ngày về thường sai hẹn
                                 Giữa lúc em dỗi hờn
                                 Thư anh liền kịp đến…”

            Nhà thơ Yến Lan có 06 người con : Ba trai và ba gái – trong 21 năm đất nước bị chia cắt, chiến tranh, với đồng lương rất hạn chế của hai vợ chồng ( Ông công tác tại nhà XB Văn Học, Bà công tác ở cửa hàng Thuốc Bắc khu phố ) – đời sống thiếu thốn, nhưng Ông đã dành trọn cho các con mọi tiện nghi – thậm chí, tự sáng chế ra các món đồ cần thiết cho gia đình mà không tốn tiền ( như bàn ủi, bếp nấu, vật dụng thường ngày. Mời đọc thêm “ Yến Lan, Nhớ Mãi Về Anh’ của bà Nguyễn Thị Lan và Hồi ký “ Về Người Cha là Thi Sĩ “ của Lâm Bích Thủy). Ông đã viết nhiều bài thơ về các con, dành tặng cho các con thân yêu – đó là món quà của người thi sĩ nghèo, kém may mắn.

          Ông có hai người con đi bộ đội – mỗi lần nhận được thư con từ chiến trường gởi về - Nhà thơ đã tâm sự:

               “ Ngày tháng không đề, địa chỉ không

                  Nửa trang chỉ đọc được đôi dòng

                  Biết con chữ viết trong mưa núi

                  Mà ấm lòng cha suốt tiết đông”

            Lâm Bích Thủy, Tú Thủy đều dồn về học ở trường học sinh Miền nam số 13 ở Thái Bình – một lần tìm đến thăm các con, Ông đã viết bài “ Bẻ Liễu “ ( 1956 ) đẻ tặng cho cô con gái nhỏ Tú Thủy – bởi đó là món quà duy nhất:

                “ Đi qua đường Tân Đệ Thái Bình

                   Cha bẻ cho con cành dương liễu xanh

                   Hởi con gái lớn theo lòng Hà Nội

                   Vườn phố con đi chen đầy cây cối

                   Có lạ gì một nhánh liễu rung rinh

                   Bẻ cho con nhành liễu xanh biêc

                   Trên quảng đường xưa lên bờ tập kết

                   Cha dẫn con về một lớp học Miền Nam

                   Tạm ở Thái Bình giữa xóm mái tranh lam(..)”

         Nhà thơ Yến Lan được nhiều ban thơ văn quý mến vì tấm lòng chơn chất, trong sáng, sẻ chia. Ông đã từng đùm bọc Quang Dũng như một người em, chia sẻ cùng Văn Cao, hết lòng với Hoàng Cầm, Quách Tạo, Nguyễn Đình, Trinh Đường, Nguyễn Thành Long(..). Tâm tình này được Ông ghi lại trong bài tứ tuyệt rất da diết:

               “ Sang canh, bìm bịp kêu ngoài lán

                 Đất mới, nhà đơn – lạ láng giềng

                 Nhớ bạn nửa đêm ra tựa liếp

                 Khuyết cong mây bạc ngấn trăng in “

        Một đoạn trong tập hồi ký “ Yến lan, Nhớ Mãi Về Anh “ bà Nguyễn Thị Lan đã ghi lại: “ (..) Cuối năm 1957 anh Lan nhận được 80 đồng tiền nhuận bút tập “ Những Ngọn Đèn “, anh Lan đã san sẻ cho anh Dũng một nử để mua gạo. Hai người như có một nổi niềm, một tâm sự nào đó giống nhau, anh Lan thì thương cái hiền lành của anh Dũng, còn anh Dubngx cảm thông sự không may của anh Lan. Tặng Quang Dũng, anh Lan viết:

              “ Tàu điện xa dần phía chợ Mơ

                  Phòng văn được phút lặng không ngờ

                  Họa mi ai nhốt sau lồng trúc

                  Vọng tiếng rừng sang góp với thơ”

                          ( Họa Mi Trong Lồng – th10/ 1973) ”

          Quang Dũng đã vẽ tặng Yến Lan bức tranh “ Đường Làng “ – về bức tranh, Yến Lan đã đề thơ:

                “ Treo lâu sơn thủy cành thu suông

                   Bụi bặm thời gian đã phủ dồn

                    Để đó vào ra không kẻ ngắm

                    Cất đi còn ngại mặt tường trơn! “

          Nhà thơ Yến Lan viết rất nhiều thơ cho tình bằng hữu, tình đồng hương – mỗi bài, một tâm sự một nỗi niềm. Tôi thích nhất bài thơ “ Uống Rượu Với Bạn Đồng Hương” vì tiêu biểu được cho nhân cách, cho cái tình, và cho cả phong thái an nhiên của nhà thơ trước mọi thăng trầm của cuộc đời Ông bất hạnh:

                 “ Thường ngày ít hay rượu

                     Giờ cầm chén với anh

                     Khuấy men nồng chuyện cũ

                     Cho mình gặp lại mình

 

                      Nào rót nữa, uống đi

                     Nguồn say còn lai láng

                     Chén nhớ hãy rót đầy

                     Chén mừng đừng để cạn…

 

                 …Giá có giọng hát tươi

                      Ta cất rung trời đất

                      Được giải hết niềm vui

                      Lời say thường vốn thật

 

                      Kìa mặt trăng đêm nay

                       Tựa yên thành cửa sổ

                       Hẳn vì thấy ta say

                       Kê gối vào giấc ngủ “

          Và bài tứ tuyệt “ Tiếng Chuông Xóm Núi “ : Một sự hòa quyện nhớ thương Quê Nhà da diết giữa Đạo và Đời :

                  “ Ghé thăm chùa cổ, gặp Sư già

                     Nhận khách đồng hương, kể chuyện nhà

                     Xóm núi chiều nay kinh kệ vằng

                      Lòng Sư còn bận nhớ quê xa ! “.

          Nhà thơ Yến Lan đã viết những bài thơ về Quê Hương ông được tất cả ngưỡng mộ từ những năm đầu thế kỷ 20. Bài “ Bến My Lăng “ và  2 bài thơ “ Bình Đinh 1935 “ - “ Bình Định 1945 “ là những bài thơ bất hủ trong sự nghiệp thơ ca đồ sộ của Ông (  10 tác phẩm đã được xuất bàn, trong đó có 2 kịch thơ, một truyện thơ - và nhiều truyện ngắn và thơ còn trong di cảo chưa có hoàn cảnh thuận tiện để giới thiệu ) – đã  chứng tỏ rất hùng hồn – suốt cuộc đời Ông đã hiến dâng cho Thơ, cho Quê Nhà,  cho Tình Người ,và cho Cuộc Sống đến hơi thở cuối vào ngày 5 tháng10 năm 1998 trên quê hương Bình Định của Ông.

          Nhân cách ngời sáng của Ông đã có nhiều dịp chứng tỏ - ngay trong đời sống khốn khó, ngay trong những thử thách gian nguy – mà câu chuyện Ông đã một mình đi sau đám tang của nhà văn Phan Khôi ( chủ nhóm NVGP ) ở Hà Nội ngày nào để dưa tiễn một người Bạn Văn đang bị lên án, và xa lánh!

         Ghi lại những dòng cảm nhận hôm nay về Nhà Thơ Yến Lan với tôi là một việc làm quá to lớn – nhưng tôi chỉ mong tỏ chút tình của người cháu nhỏ đồng hương đã hết lòng tri ân và ngưỡng mộ Ông – nhà thơ Yến Lan kính yêu của mọi thời đại, với một nhân cách sáng ngời…

( Nhân Ngày Giỗ Nhà Thơ YL

Rằm tháng 8 – Tân Mão )

TRẦN MINH NGUYỆT

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=344628

SUY NGHĨ VỀ 2 CHỮ " VÔ THƯỜNG " Bài Viết PHÁP NHẬT
mangvienlong | 28 Dec, 2011, 20:24 | Bài viết của bạn văn | (41 Reads)

SUY NGHĨ VỀ 2 CHỮ

" VÔ THƯỜNG "

Tạp Bút : PHÁP NHẬT


        " Trong thú vui đã mở đường cho đau khổ

            Trong hội ngộ, đã nẩy mâm chia ly "

 

Bạn có từng nghĩ rằng một ngày nào đó những người thương của bạn sẽ không còn sống bên bạn nữa không. Chúng ta không một ai có thể biết chắc được điều gì sẽ xảy ra vào ngày mai. Thậm chí chúng ta cũng không thể biết chắc được điều gì sẽ xảy ra vào một giờ sắp tới đối với những người thân của chúng ta, hay thậm chí đối với bản thân mình.

 Có thể bạn ta mới đến thăm ta ngày hôm qua, mà hôm nay ta được báo tin là người đó đã không còn sống trên cõi đời này nữa. Nhận được tin ấy mà lòng ta bồi hồi xúc động, và ta dường như không thể tin vào những gì mà tai mình vừa mới nghe thấy. Ta nói với người đến báo tin với ta rằng “ tôi mới nói chuyện với anh ấy ngày hôm qua mà ” , hay “ chị ấy mới đến thăm tôi và còn tặng quà cho tôi nữa mà ”. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Người bạn ấy của ta đã không còn sống trên cõi đời này nữa. Và có rất nhiều, rất nhiều trường hợp tương tự như thế. Người ta mới thấy đó nhưng giờ đây đã không còn nữa.

 Khi chúng ta giao tiếp, cư xử với người xung quanh với ý thức rằng có thể ngày mai ta sẽ không có cơ hội nghe được giọng nói của người đó nữa. Có thể ngày mai ta sẽ không còn thấy được nụ cười tươi trên khuôn mặt người đó nữa. Thì tự nhiên ta sẽ trân quí sự có mặt của người đó, và ta sẽ không nỡ nói hay làm những gì có thể gây tổn thương cho người đó.

 Người đó có thể là ba mẹ chúng ta. Người đó có thể là chồng hay là vợ của chúng ta. Và người đó cũng có thể là con cái chúng ta… Chúng ta sống với ý thức về sự vô thường, ngắn ngủi của một kiếp người càng sâu sắc, thì cách sống của chúng ta, cách hành xử của chúng ta cũng sâu sắc và yêu thương hơn.

 Mỗi người trong chúng ta hay có khuynh hướng nghĩ rằng những người thương của chúng ta sẽ sống với chúng ta hoài, sẽ sống với chúng ta mãi. Chúng ta ít có khi nào nhớ rằng có thể chỉ sau một đêm thôi thì ta sẽ mãi mãi không còn gặp người ấy nữa. Ta muốn nói những lời xin lỗi của ta với người ấy, ta muốn nói lòng biết ơn của ta với người ấy hay ta muốn thể hiện tình thương của mình cho người ấy - nhưng đã trễ rồi. Người đó đã không thể nghe, và mãi mãi sẽ không thể nghe những gì ta muốn nói dù chỉ một lời.

 Vì vậy bạn hãy vui lên đi, bạn hãy cười tươi lên đi khi bạn vẫn có ba, có mẹ còn sống bên bạn. Bạn hãy hạnh phúc lên đi khi những người thương của bạn vẫn còn đó cho bạn. Và bạn hãy can đảm để nói cho người thương của bạn những gì sâu kín nhất trong lòng của mình. Vì có thể bạn sẽ chẳng còn cơ hội nào nữa nếu bạn không nói ra điều ấy. Và bạn hãy tha thứ cho tất cả những ai đã từng làm hại bạn, làm tổn thương bạn vì có thể ngày mai bạn cũng sẽ không còn có mặt trên cõi đời này nữa.

 Điều mà tôi khám phá ra trong cuộc đời của mình cho đến tận bây giờ, điều mà làm cho tôi hạnh phúc đó là tình thương, sự tha thứ, bao dung. Có thể tôi thực tập yêu thương còn kém, có thể sự tha thứ, bao dung trong tôi còn kém nhưng đó là con đường mà tôi sẽ nguyện đi trên ấy mỗi ngày. Tôi tự nói với chính mình “hãy thương yêu khi có thể, hãy tha thứ, bao dung khi có thể, bởi vì chỉ một giây phút thôi thì những điều này sẽ trở thành không thể.”

Và điều mà làm cho tôi hạnh phúc nhất không có gì khác hơn sau khi bạn đọc những dòng chữ này, thì sự thương yêu, tha thứ, bao dung trong bạn được biểu hiện. Và bạn đến nói với ba bạn, mẹ bạn, những người thương của bạn rằng bạn yêu họ lắm. Rằng ba mẹ vẫn còn sống bên bạn là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời bạn. Rằng bạn sẽ không cần gì hơn những điều như vậy. Rồi nụ cười hạnh phúc sẽ nở trên môi của bạn và khi đó bạn cũng biết rằng nụ cười hạnh phúc ấy cũng đang nở trên môi của tôi.

 PHÁP NHẬT

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=344426

TIN BUỒN & CHIA BUỒN CÙNG LÊ BÁ DUY & GIA ĐÌNH
mangvienlong | 28 Dec, 2011, 07:34 | Bài viết của bạn văn | (32 Reads)

 alt

TIN BUỒN

                     Chúng tôi đau buồn báo tin:

                          Bà HUỲNH THỊ TÂM

                             Sinh Năm 1942

        Chánh Quán : TT Bình ĐỊnh – An Nhơn – Bình Định

            Trú Quán: Phước Hiệp – Tuy Phước, Bình Định

 

              Thân Mẫu Của Nhà Giáo & Nhà Thơ LÊ BÁ DUY

          ĐÃ TỪ TRẦN VÀO LÚC  15 G NGÀY 27 THÁNG 12- 2011

                 ( Nhằm Ngày Mồng 3 Tháng 12- Tân Mão )

    Tại Thôn Giang Nam., Xã Phước Hiệp- Tuy Phước, Bình Định

   alt        

       Lễ Nhập Quan & Thành Phục:22 Giờ 45 Ngày 27.12 -2011

       Lễ Viếng    : 6 Giờ Sáng Ngày 28 tháng 12 – 2011

       Lễ Di Quan : 13 Giờ Ngày  29 tháng 12 – 2011

 alt

CHÂN THÀNH CẦU NGUYỆN HƯƠNG LINH NGƯỜI

          SỚM  AN LÀNH NOI CÕI TỊNH LẠC

 

XIN CHIA BUỒN CÙNG NHÀ THƠ LÊ BÁ DUY & GIA ĐÌNH

 alt

 Mang Viên Long & Hoàng Lộc & Đặng Tấn Tới & Như Tuấn & Phạm Văn Phương & Nguyễn An Đình

& Lê Văn Hiếu & Từ Văn Minh & Trần Minh Nguyệt & Ng. Thị Phụng &

Trần Viết Dũng & Hồ Thế Phất & Cao Văn Tam & Hồ Hải & Nguyễn Hữu Duyên & (..)

     

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=344303

TRANG THƠ GIÁNG SINH: VTQ & NTD & HĐN
mangvienlong | 25 Dec, 2011, 07:40 | Bài viết của bạn văn | (15 Reads)

TRANG THƠ GIÁNG SINH :

VŨ TRỌNG QUANG & NGUYỄN THÁI DƯƠNG

& HÀ ĐÌNH NGUYÊN

 

  alt 

 Tay làm dấu thánh chưa quen
theo em nói tiếng a-men ngượng ngùng
xin tạ ơn xin tạ ơn
đấng thiêng liêng với tiếng chuông nhà thờ
cầu kinh dài chủ nhật chờ
cho em xuống thế nối bờ lứa đôi



Tạ ơn đôi mắt mưa rơi
cho anh ướt sũng suốt thời bên nhau
cho anh xanh đến bạc đầu
mai sau còn ẩn một màu thời gian

Tạ ơn hẻm nhỏ đêm đêm
mờ mờ che bước chân em vội vàng
mờ mờ che dấu anh sang
cầu hôn, dưới lưỡi liềm trăng ngỏ lời

Tạ ơn sóng gió qua rồi
thánh ca nhè nhẹ cõi người bình an
giáng sinh tỏa ánh thiều quang
nắm tay đi suốt nắng vàng trăm năm.

VŨ TRỌNG QUANG

 alt

 

Em hãy gi giùm tôi
N
i bun nào s sai hoa trĩu trái
Khi b
áo màu đen
Đã rút ng
n đi nhau
Khi nh
ng ht l thm
Ph
i trôi theo nhng git chuông bên kia khu nhà nguyn


Em hãy gi
giùm tôi
N
i đau nào va đang chín ti
Khi mùa đông tr
li
Đêm Giáng sinh tr
ườn v
Khi chi
ếc áo màu xanh kia
Ch
u bt hnh nm cô đơn mt đi trong ngăn t
Khi chi
ếc áo màu hng n
Ph
i im lìm ng quên bên loài gián cánh mùa đông

Em hãy gi
giùm tôi
Ni
m hy vng nào đã pht tt na đêm hăm bn
Khi tôi ph
i chu l lm mt đi trước mt em,
Ng
ười n tu,
Lúc ngang qua nhà th

Khi tôi m
t mình lm lũi mang ân tình
Đi qua nhi
u búi c
(Ôi có n
hôn nào năm xưa ti đây
Đã r
ướm máu môi ai?)

Em hãy gi
giùm tôi
N
i bt hnh nào đã bây gi vây ba
Khi tôi nghĩ h
nh phúc như chiếc lá oan trái
Nh
n phn nm dưới mt con sâu
Khi tôi âm th
m
Qua bao con đ
ường cũ
R
i cũng dng chân, đôi khi
Đ
thp thuc dưới nhng ct đèn vàng
Khi nhìn nh
ng-hai-người huy hoàng gia đêm thánh sng
Nh
ng li cu kinh t mt giáo đường
C
da diết mt điu chi – k nim

Con sâu hi
n đã nm im trong kén
Mùa đông này, chi
ếc lá biết tương tư.

 

NGUYỄN THÁI DƯƠNG

   alt 

 

Gió và sương đi dạo
Trên những hàng cây đêm
Mùa đông về xóm đạo
Nhớ nhỏ đến hồn mềm


Ngôi nhà thờ thân quen
Đang thả vào trong gió
Từng hồi chuông gióng giả
Báo một mùa Nô en

Kíng… cong keeng, cong keeng
Tiếng chuông nào xa vắng
Gọi một tà áo trắng
Đi lễ xưa… đâu còn…

Thương ơi, cánh chim non
Sơm xa lìa mãi tổ
Từng hồi chuông trăn trở
Coong… kính coong… kính coong

Thương tiếng chuông tội tỉnh
Về với anh đi nhỏ!
Hồn anh là máng cỏ
Đợi nhỏ về: Giáng Sinh…

 

HÀ ĐÌNH NGUYÊN

 

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=343972

CHÚC MỪNG GIÁNG SINH 2011 & NĂM MỚI 2012...
mangvienlong | 22 Dec, 2011, 19:52 | Bài viết của bạn văn | (114 Reads)

NHÂN MÙA GIÁNG SINH 2011 & NĂM MỚI 2012

 

            CHÂN THÀNH GỚI ĐẾN

               QUÝ THÂN HỮU

        &  BẠN ĐỌC:

 

       MỘT MÙA GIÁNG SINH VUI V

              & NĂM MỚI HẠNH PHÚC,

                           THÀNH CÔNG! 

 

*Xin bấm vào link dưới đây để mở gói quà tặng
           nhân dịp Giáng Sinh và Năm Mới
 
                 http://vn247.net/flash/a-gift.swf     <http://vn247.net/flash/a-gift.swf>

      MVL

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=343670

CHUYỆN CŨ CHƯA THỂ NÀO QUÊN Bài Viết LÂM BÍCH THỦY
mangvienlong | 21 Dec, 2011, 16:26 | Bài viết của bạn văn | (38 Reads)

 

CHUYỆN CŨ CHƯA THỂ NÀO QUÊN...

Bài Viết:

LÂM BÍCH THỦY

  Nhà thơ Yến Lan ( giữa )...

  Dạo qua trang web của anh- nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, đọc Lại Nguyên Ân tôi mới vỡ ra và biết thêm nhiều điều. Một trong những điều đó là cái vô lý của thời Nhân văn giai phẩm. Chuyện người thợ may bị đi tù chỉ vì may đồ cho cụ Phan Khôi mà chính cụ được chính phủ chọn và cử cùng nhà thơ Tế Hanh sang Trung Quốc để dự lễ kỹ niệm 100 ngày sinh của nhà văn Lỗ Tấn. Ôi! cái thời gì mà nghiệt ngã và vô lý đến thế? Không biết đó là chuyện có thật hay chỉ là tin đồn nhảm của bọn phản động muốn chống phá Đảng ta?! Mà chú Tế Hanh kể lại thì sao mà tin đồn nhảm được nhỉ? Chính chú cũng là người trong cuộc mà!...

 Song nếu là thật thì hú hồn cho ba tôi. Chỉ vì may đồ cho người “cầm đầu bọn nhân văn giai phẩm” mà bị đi tù gần mười năm mới được thả, thì việc - một mình ba tôi  dám vượt qua hàng trăm văn nghệ sĩ trên đất Bắc bấy giờ, để đưa linh cữu cụ Phan Khôi –người cầm đầu bọn phản động đến nơi an nghĩ cuối cùng vào cuối năm 1959 mà chỉ bị phiền hà ít nhiều trong cuộc sống, thì quả là đại hạnh cho ba tôi quá chừng!  Quả là đại hạnh hết sức; như nhà báo PK - Báo VNCA, khi an ủi tôi bằng sự so sánh rằng “nói về sự thiệt thòi của ba chị thời NVGP thì ba chị chỉ là con tép” - Được an ủi như vậy và khi xem các trường hợp như cụ Phan Khôi, ông Nguyễn Hữu Đang, chú Văn Cao thì tôi thấy nhà báo PK nói không sai chút nào.

Lúc bấy giờ tôi còn nhỏ, chẳng hiểu vì sao mà cụ Phan Khôi từ một người được bao nhiêu người nể phục, bỗng chốc bị mọi người xa lánh và ghẻ lạnh… Và khi ba tôi xuất bản tập thơ “Những ngọn đèn” được chú Văn Cao viết lời tựa:

  “Qua mấy bài mới đăng gần đây của Yến Lan có nhà văn kêu lên: “Đến cái người hiền lành như anh Yến Lan mà cũng làm thơ leo thang à?” Người ta không những ngạc nhiên về hình thức mà còn ngạc nhiên về sự thay đổi của Yến Lan trong nội dung. Trong sự chuyển biến chung của thơ ca hiện nay mong nhiều người góp sức vào để đẩy lùi một quá khứ nhạt nhẽo, …

 Sự chuyển hướng thơ ca không phải là công việc xếp đặt hình thức theo bậc thang hay theo một hình kỷ hà mà là sự chuyển hướng về cách nghĩ, cách nhìn, cách gọi của nhà thơ. Đọc thơ của Yến Lan, tôi có cảm tưởng là lúc nào anh cũng bắt đầu. Một sự bắt đầu vào các luồng thơ khác nhau gần như không do dự.

  Chúng ta thường vui sướng đợi một sự đổi thay của nhau. Nhưng tôi rất lo cái thế lực của con người cũ trong chúng ta, với những ràng buộc tình cảm hèn yếu cứ có dịp là kéo chúng ta nghỉ lại cùng đánh võng với nó ở một độ đường có nhiều vấn đề khó khăn nhất

Nhà nghiên cứu văn học Khổng Đức đã kể cho tôi nghe:

“Sau ngày Miền Nam giải phóng, gặp Chế Lan Viên (ở Sài Gòn) chú hỏi thăm ba cháu ( còn ở lại Hà Nội). Nhắc tới ba cháu, Chế Lan Viên lắc đầu, tặc lưỡi vẻ thông cảm: “Trong cái nghiệp cầm bút, Yến Lan ít gặp may. Hồi ấy, Xuân Diệu không thích Văn Cao. Khi Văn Cao bị Diệu phê phán, mà Văn Cao lại ca ngợi Yến Lan quá, ít nhiều Yến Lan cũng bị vạ theo” –

 Nhà thơ Xuân Diệu đã phê phán “Chữa giả tạo bằng cách quá đề cao cá tính siêu nhân của người Văn nghệ; bằng cách đem tiếng sáo tiền kiếp ra thổi giữa những bản đàn của thời đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức bằng cách làm thơ leo thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống dòng nhiều quá sự cần thiết

Chú Văn Cao không những bị phê phán trên văn đàn mà còn khốn đốn bởi cái bao  thuốc lá Tam Thanh mà chú là tác giả. “Người Họa sĩ vẻ bao thuốc này ý muốn bi thảm hóa người vợ có chồng đang chiến đấu ngoài mặt trận. Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ-Ngụy đang ở giai đoạn quyết liệt nhất mà đem hình ảnh nàng Tô Thị trưng lên bao thuốc như thế, khác nào  gợi cho người lính thấy sự tang tóc, đau thương, tuyệt vọng ở hậu phương; khác nào đánh vào tư tưởng chán nản, nhụt ý chí chiến đấu của người lính ngoài chiến trường.”

Chính lúc đó, tôi cũng cố căn mắt ra nhìn, để cảm nhận những suy luận trên là đúng “rõ ràng Nàng Tô Thị Vọng Phu xõa tóc vật vờ như hồn ma-một hình ảnh tang tóc thê lương chứ có phải hình ảnh người phụ nữ bền bỉ chờ chồng đến hóa đá đâu! Và có cơ sở đấy chứ! Thật là phản động!

Khi ấy tôi chưa ý thức để nhận biết việc này. Giờ nhắc lại không có nghĩa “Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào có ai”. Tôi cảm thấy tiêng tiếc cho hai phận đời lận đận, đơn độc trong cõi con người thời ấy! Chú Văn Cao đã sống trong lo sợ, lúc nào cũng phải ý tứ, sợ tù tội đến còm nhom.

Mặt trận Văn hóa văn nghệ bấy giờ như những cơn sóng thần xô tới, dội vào trường, vào các cơ quan. Chỗ nào cũng có thể nghe xì xào, xỉa xói những người bị buộc tội phản động. Học sinh trường tôi, tuổi từ 11 đến 15, cũng tụm năm, tụm ba tranh cải sôi nổi với những cái tên: Phan Khôi, Thụy An , Trần Dần, Lê Đạt, Văn Cao, ...

 Ngược lại, thần tượng của học sinh, sinh viên là các nhà thơ Xuân Diệu, Tế Hanh, Chế Lan Viên. Đặt biệt là chú Tố Hữu.

  Tuy chưa được gặp, nhưng chúng tôi luôn khắc ghi tâm Tố Hữu là nhà thơ thần tượng để chúng tôi ca ngợi, học tập, vươn tới. Thơ của chú, chúng tôi học thuộc lòng, gối đầu giường tựa như “Thép đã tôi thế đấy”.

  Một hôm, được tin chú Tố Hữu sẽ về thăm Trường Học sinh Miền Nam số 6. Tin ấy đối với chúng tôi như rồng gặp mây. Từ 8h sáng, tất cả học sinh đã ngồi ở sân trường chờ đợi. Mắt thì đau đáu hướng ra cổng, từng phút hồi hộp được gặp thần tượng kính yêu nhất đời mình.

 Rất lâu sau, có tiếng reo to từ ngoài cổng “Chú Tố Hữu đến rồi!”. có nhiều giọng hỏi vang lên “đâu, chú  đâu?  Tôi thấy từ trong chiếc xe con màu đen đi đầu, ba người  bước ra. Hàng trăm giọng lại nhao nhao “Đâu, chú Tố Hữu là chú nào?”. Người đàn ông đi giữa, trong bộ đại cán kiểu Tôn Trung Sơn, màu xanh nước biển, đưa tay vỗ mạnh vào ngực, vẻ hãnh diện: “Đây, chú Tố Hữu là chú này đây”. Chúng tôi khoái cử chỉ đó của chú nhà thơ Cách mạng nên khoái chí cười vang.

Thơ của chú, chúng tôi thuộc nhiều lắm “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới, Từ ấy, Việt Bắc...” Nhà chú thì cao và rộng rãi, đầu nhà có cây táo nên chú đã viết: Tôi viết bài thơ xuân 1961/cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt… ” Đó là năm mà Miền Bắc đỉnh cao muôn trượng…

Bấy giờ, tôi mới chỉ là cô học trò còi cọc, tuổi 13, học lớp 5; không biết ba tôi có tên trong danh sách “NVGP”. Chỉ nghe bạn Ân nói trước lớp “Họ gọi Lê Đạt, Trần Dần... bằng thằng thì chúng mình cũng sẽ gọi ba con Thủy bằng thằng”. Câu nói ấy cứ lởn vởn trong đầu; tôi lo sợ, không ngủ được, người ốm tong teo, trông như bà Hạn Hán trong phim hoạt hình của Liên Xô. Tôi bỗng lo sẽ có sự ghẻ lạnh, như các chú đã đối xử với cụ Phan Khôi!

Hè, về nhà, tôi méc má. Bà nói “Má nghe nói Nhóm phản động đã chọn bài thơ của ba đăng lên tạp chí nào đó. Rồi an ủi tôi “con đừng sợ, chú Nguyễn Văn Bỗng đã đến gặp và kịp ngăn ba. Và ba đã rút nó về rồi. Tôi nhớ rõ, lúc đó, má tôi nói chắc như đinh đóng cột “ba đã rút bài thơ ấy về rồi” nên rất yên tâm. Tôi có hỏi “Đó là bài thơ nào?”- “Má không biết, bài đó có câu “rán giáo điều làm mỡ gì gì ấy”. Tôi lại dồn “Thế nhân văn giai phẩm là gì” má tôi chỉ ầm ừ chứ có biết giải thích thế nào khi bà cũng chẳng hiểu vì sao những người bà thấy hàng ngày trước đây, sống và làm việc như nhau, bỗng dưng người ta bảo kẻ này thì phản động  để né tránh họ !

Đến khi cầm tập thơ “Những ngọn đèn” (xuất bản  năm 1957) ba vừa đem xuống Hải phòng tặng cho tôi. Dù không mặn mà với thơ, nhưng tôi đã lướt đến bài cuối, cố xem có câu thơ như má nói. Tôi thật sự bàng hoàng, câu “Lấy cả giáo điều ráng mỡ cho guồng máy nổ” trong bài “Tĩnh vật” vẫn còn trong tập thơ chứ ba đã rút về đâu. Tôi sợ hãi, dấu nhẹm dưới gối, không dám khoe. Như vậy, ba không chịu rút về, mặc dù chú Ng.Văn Bỗng đã cảnh báo.

Tôi không hiểu gì hết! Tại sao ba bướng đến thế? chắc là rầy rà lớn đây!???  Chú Văn Cao viết lời tựa :

Sự khác nhau trong Yến Lan là những nét mặt người cũ và mới. Người cũ thì chìm đi và người mới thì sôi nổi. Anh đã có một thái độ mới đối với cuộc sống. Đã có một tình yêu thương sự vật và con người thì không thể không có thái độ sống. Thơ anh bắt đầu biết đề cao những hành động, tình cảm của con người anh yêu lên để đã phá những bọn phá hoại sự xây dựng của xã hội. Cái yêu cái ghét đã rõ ràng thì những bài thơ cũng bắt đầu đổi. Người ta gặp thấy những câu thơ thật đột ngột sau một thời gian dài của Yến Lan.

                   Bởi họ thiếu

                             con tim

                                 khối óc

                          Luôn động đậy                                                 

                                     nhưng chỉ là tĩnh vật 

  Không ngờ, điều mà tôi day dứt “sao ông già không rút bài thơ về ; được giải đáp vào ngày giỗ thứ 12 của ông, khi đọc bài viết của nhà văn Mang Viên Long:

 “Tôi còn nhớ một lần đến thăm nhà thơ, được ông tâm sự về Chuyện NVGP” đã làm “truân chuyên-  điêu đứng” suốt đời ông (và gia đình):

 Đêm ấy, nhà văn Nguyên Văn Bỗng đến gõ cửa gọi - gặp ông, NVB đã kêu lên: - Sao cậu lại “đi theo” đám Nhân Văn Giai Phẫm phản động ấy?.

- Ông điềm tĩnh - cười: - Tôi đi theo bao giờ?

- Vậy tại sao cậu đưa bài cho chúng?

 -Ông thành thật kể: Họ đến hỏi xin bài, tôi hẹn sẽ đưa, vì tất cả đều là chỗ anh em thân tình cả mà?.

- Cậu yêu cầu họ rút tên ra khỏi tờ báo ngay đi nếu không muốn rầy rà” về sau!.

 Thì ra, trong số báo của NVGP vừa xuất bản, có giới thiệu tên ông ở trang bìa - trong số báo sẽ in tiếp theo. Sau đó, lại có thêm vài ba người bạn văn gặp - cũng “trách cứ” như NVB. Nhưng tôi đã hứa rồi - không làm chuyện “rút tên” kỳ quặt ấy được  

Nhắc đến giai đoạn “đi thực tế sáng tác” ở vùng sâu vùng xa của anh chị em văn nghệ sĩ sau vụ NVGP-Yến Lan đã cười buồn: Đó là  giai đoạn mở đầu cho cuộc đời lận đận của mình! Chỉ có sự khác nhau của 2 từ ghi trong giấy giớí thiệu về thôn xã  thực tếđồng chí/ ông” cũng đủ khổ rồi! Nhưng, đến ngày nhà văn Phan Khôi mất - Yến Lan đã một mình đi sau linh cửu để tiễn đưa Người đến nơi an nghỉ cuối cùng, bất chấp mọi cặp mắt dòm ngó phê phán! Ông cười nhẹ   “Nghĩa tử là nghĩa tận” cháu à!.

 Qua đó tôi thấy cảm phục ba tôi thật sự. Ba thật dũng cảm !

Cuối năm 1978, Hội nhà văn Việt Nam có một sự thay đổi quan trọng về tổ chức Đảng Đoàn. Nhà văn Nguyên Ngọc, tác giả của tiểu thuyết “Đất nước đứng lên” vừa từ chiến trường Liên Khu Năm ra, được bầu làm bí thư Đảng Đoàn của Hội Nhà Văn Việt Nam. Các thành viên khác trừ nhà thơ Chế Lan Viên và Nguyễn Đình Thi ra đều là những nhà văn trẻ từ chiến trường về. Sự thay đổi này đã ít nhiều làm nức lòng anh chị em giới văn nghệ.

Đại hội Đảng lần thứ VI kết thúc đem đến cho giới văn nghệ sĩ một niềm vui lớn “kiên quyết đổi mới, đổi mới cách suy nghĩ, đổi mới cơ chế tổ chức, đổi mới cách làm việc."

 “Tuy chưa biết như thế nào nhưng vì hàng chục năm qua, giới văn nghệ sĩ chán lối sống và làm việc của Ban lãnh đạo cũ rồi. Vì thế ai ai cũng vui mừng chào đón tổ chức mới

Một quyết định được hầu hết mọi người ủng hộ và tin tưởng sẽ làm được, mặc dù ai cũng biết việc này không dễ chút nào…

   Ở lĩnh vực Văn học Nghệ thuật, việc đổi mới đầu tiên là bổ nhiệm ông Trần Độ làm Trưởng Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương, Ông Nguyễn Văn Hạnh Phó Ban, nhà văn Nguyễn Khải Phó Tổng thư ký đặc trách việc chuẩn bị cho Đại hội nhà văn sắp tới.   

 Vấn đề này được Ban Văn hóa, Văn nghệ Trung Ương hết sức ủng hộ và tạo mọi điều kiện để cho tổ chức mới hoạt động thuận lợi. Song bước đầu, tuy gọi là đổi mới, “Nhưng, dẫu mới song người cầm bút chưa được thoát khỏi lối mòn đã có sẵn mà nhà thơ Tố Hữu, lúc bấy giờ là Ủy viên Bộ chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng, đã phát biểu tại buổi họp đầu tiên của Đảng Đoàn, như gáo nước lạnh dội vào đầu mọi người, làm cho các văn nghệ sĩ thấy mất hứng niềm vui vừa được nhen lên” ĐXQ

À, lớn là thế nào hè! Thời đại là thế nào hè! Văn thì phải đi từng bước, phải có cây số một, cây số hai, rồi mới có cây số ba chứ! Thực tế của ta bây giờ là rất đẹp, có thể nói là tuyệt diệu. Tại sao các đồng chí ngại ghi chép hả, thậm chí sao chép cũng được chứ!”

 Vấn đề “Nhân văn giai phẩm” giờ đây được nhìn, nhận trên lý lẽ:

 “…trước, do thiếu kinh nghiệm và năng lực, vô tình người lãnh đạo đã kiềm hãm và tước đi chân giá trị đích thực của nghệ thuật, tư tưởng và sáng tạo trong giới văn hóa văn nghệ, đã khiến không ít nghệ sĩ bị oan trái.

 Tôi cũng nhận ra ít hương thơm mật ngọt khi chú Văn Cao được lớp trẻ trong vọng hâm mộ, đề cao. Những gì xảy ra giữa chú Văn Cao và ba tôi, như được đan xen vào nhau; họa cùng chịu, vinh cùng hưởng, khiến các nhà báo trẻ rất đồng cảm và quan tâm…

  Vâng, tất cả đó là khung cảnh của thời Nhân văn giai phẩm. Nó nhuộm đậm trong lòng tôi không sao phai mờ được.

 LÂM BÍCH THỦY

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=343523

CẢM QUAN MÙA XUÂN & BI KICH KIỀU ( Tiếp Theo & Hết ) TXT
mangvienlong | 20 Dec, 2011, 11:30 | Bài viết của bạn văn | (37 Reads)

CẢM QUAN MÙA XUÂN & BI KICH KIỀU

( Tiếp Theo & Hết )

 

Bài Viết TRẦN XUÂN TOÀN

Cuộc đại đoàn viên cũng là bi kịch cho Kiều  nốt. Nói như Xuân Diệu, đây là “bản cáo trạng cuối cùng” phơi bày cõi lòng tan nát của Kiều, dẫu một lời nói của chàng Kim cũng không tài nào làm nàng nguôi được ( Chừng xuân tơ liễu còn xanh).
10.4. Và cuối cùng Kiều tự nhìn nhận mình. Cảm nhận về xuân của Kiều là cảm nhận về thân phận của mình, về tình yêu, về hạnh phúc của mình. Kiều là con người tự ý thức và nàng đã ý thức được bi kịch của chính mình.
Trước mối tình của Kim nàng đã:
Lặng nghe lời nói như ru
Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng ( 347)
Khi trao duyên cho Vân “ Ngồi lên cho chị lạy rồi se õthưa” :
Ngày xuân em hãy còn dài ( 731)
Trước cảnh gợi tình: Trước lầu Ngưng bích khoá xuân (1033)
Hay khi nghĩ về mình lúc ở lầu xanh:
Những mình nào nbiết có xuân là gì (1240)
Lúc chạnh nhớ về Kim Trọng:
Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay (1261)
Hay như lời thở dài phó mặc với Thúc Sinh :
Chuá xuân  đành đã có nơi
 Ngắn ngày thôi chớ dài lời làm chi (1327)
Theo dòng thời gian , càng ý thức về tuổi xuân, Kiều càng ý thức về bi kịch của mình. Và ở những thời điểm ê chề nhất (ở lầu xanh), đau đớn nhất  (nghĩ về chàng Kim khi trở về) là những lúc tuổi xuân, hạnh phúc của Kiều trỗi dậy mạnh mẽ nhất (Những mình nào biết có xuân là gì; Cành xuân đã bẻ cho người chuyên  tay)
11. Nguyễn Du quan niệm về nhân vật Kiều, dù ở góc độ nào , vẫn là con đường dẫn đến bi kịch, mà cảm quan xuân là một trong những con đường đó. Cảm quan nghệ thuật của Nguyễn Du là cảm quan hiện thực, nó cắt nghĩa về thế giới nhân vật trong Truyện Kiều, nhất là với  nhân vật Thuý Kiều. Mùa xuân, tuổi trẻ và hạnh phúc như là quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Du. Điều này càng thấy rõ lời dánh giá của Môïng Liên Đường về Nguyễn Du và Truyện Kiều, là mắt thấy sáu cõi, tấm lòng thông suốt nghìn đời vậy.

KẾT LUẬN


1. Tín hiệu thẩm mỹ :mùa xuân, tình yêu, tuổi trẻ và hạnh phúc lứa đôi như là một cách cắt nghĩa toàn bộ thế giới nhân vật trong Truyện Kiều. Đó là thế giới những con người bi kịch, nhất là với Thuý Kiều.
2. Quan niệm nghệ thuật đó như là sự thống nhất trong không gian xuân và thời gian  xuân . Thời gian  xuân là thời gian  động, luân chuỷên trên trục thời gian. Con người sống trong thời gian  ấy cũng luôn vận động. Đó là con người tâm trạng, luôn cảm thấy lo âu, khắc khoải, hưởng thụ nhưng không trọn vẹn. Không gian xuân là không gian mang tính dung lượng, có cấp độ. Sự kết hợp không-thời gian  xuân là không- thời gian  có nhịp độ, gia tốc. Nó trở thành môït nhân tố tàn phá xuân sắc, tuổi trẻ, tình yêu, làm hao mòn hạnh phúc. Con người sống trong đó là con người  luôn tự nhận thức về tuổi xuân và trãi nghiệm trong bi kịch của mình.
Nhân vật Kiều chịu sự tác động mạnh mẽ nhất của sự biến thái không- thời gian  ấy, cắt nghĩa bi kịch của Kiều . Cuộc đời nhiều truân chuyên của Kiều đã qua 7 lần lấy chồng, 2 lần làm lẽ, 1 lần làm đầy tớ, 2 lần làm đĩ, 1 lần là phu nhân, 4 lần đi tu. Kiều là con người tự ý thức. Dù trong chặng đời nào, Kiều cũng là hiện thân của bi kịch, bi kịch của xã hội, bi kịch cá nhân.
Cùng với những cách cắt nghĩa khác, chữ tài của Nguyễn Du là thống nhất ở cách cắt nghĩa cho một bản chất: bản chất bi kịch của Kiều. Mùa xuân, tình yêu, tuổi trẻ và hạnh phúc là một cách cắt nghĩa tài hoa, nằm trong hệ thống đó.

 TRẦN XUÂN TOÀN

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=343330

CẢM QUAN MÙA XUÂN & BI KỊCH KIỀU Trần Xuân Toàn
mangvienlong | 19 Dec, 2011, 17:47 | Bài viết của bạn văn | (102 Reads)

alt

CẢM QUAN MÙA XUÂN VÀ BI KỊCH THUÝ KIỀU

 Bài Viết : TRẦN XUÂN TOÀN

 1. Một năm bắt đầu từ mùa xuân. Đời người bắt dầu bằng tuổi trẻ.Người ta thường dồng nhất mùa xuân với tuổi trẻ và tình yêu ở cái vẻ tươi tắn trinh nguyên, đầy sức sống ấy. Trong văn học điều đó càng rõ. Đây là thời gian mở đầu cho một chuỗi dài hạnh phúc của một đời người.

Nguyễn Du cũng thế. Trong Truyện Kiều, nhà thơ đã nói đến mùa xuân với tất cả vẻ đẹp của nó ngay từ đầu tác phẩm. Xuân, tuổi trẻ, tình yêu- như là một trường hoạt động của các nhân vật trong Kiều. Tình yêu của nhân vật chính Thuý Kiều- với chàng Kim Trọng nảy nở trong hoàn cảnh xuân như thế, giữa tiết Thanh Minh trong sáng.

Thế nhưng, không như lệ thường, mùa xuân , tuổi trẻ, tình yêu trong Truyện Kiều không được tác giả miêu tả như là một tiền đề cho hạnh phúc sau này của nhân vật Thuý Kiều, mà ngược lại, nó như một sự mở đầu cho một chuỗi dài bi kịch, làm nên tiếng kêu đoạn trường.

Đấy chính là cảm quan nghệ thuật khác thường về mùa xuân Nguyễn Du vậy.

2. Bài viết này giới hạn trong việc khảo sát các từ xuân trong Truyện Kiều.

Nguyễn Du đã 41 lần sử dụng từ xuân trong Truyện Kiều với 2 ý nghĩa:

- ý nghĩa thứ nhất: chỉ mùa xuân, mùa mở đầu cho một năm  (18/41)

- ý nghĩa thứ hai: được dùng chuyển nghĩa , biểu thị tình yêu, tuổi trẻ, sắc đẹp của người phụ nữ (23/ 41)

Giá trị nghệ thuật làm nên  cảm quan nghệ thuật của tác giả tập trung ở nhóm thứ hai, song phải nằm trong tương quan với nhóm thứ nhất.

3. Thời gian xuân trong Truyện Kiều không phải là thời gian  ngưng đọng. Đó là thời gian  xuân động, luân chuyển trên trục thời gian (Ngày xuân con én đưa thoi; thưa hồng rậm lục; dễ chừng xuân qua; Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân). Hướng luân chuyển đo,ù có thể là sự chuyển mùa từ trước về sau (Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân) hoặc là từ hiện tại đến tương lai (Xuân thu đã biết mấy lần đổi thay). Ngay cả lúc tưởng chừng thời gian  xuân ngưng đọng, nhưng đó chỉ là sự ngưng đọng vật lí, còn trong tâm tưởng của các nhân vật vẫn là sự chuyển đổi không ngừng (Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi; đêm xuân ai dễ cầm lòng cho chăng).

Con người trong thời gian  ấy không có sự tĩnh tại để nhìn lại mình, để tận hưởng hết vẻ đẹp, cũng như những gì đẹp đẽ, sôi động nhất mà tạo hoá đã ban cho con người vào mùa xuân. Thời gian  không ngưng đọng. Hạnh phúc tạo hóa ban cho, con người càng không kịp hưởng trọn. Cho nên con người vội vôi vàng vàng, tận hưởng triệt để thời gian  đó. Khi chưa đến thì chuẩn bị đón nhận (Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân), khi đến rồi thì  chóng qua (Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi). Vì thế mà khi đang có thì tận hưởng (Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho chăng).

Nhân vật Kim Trọng, Thúc Sinh đã sống trong tam trạng như vâïy. Thuý Kiều cũng sống một cách vô thức trong thời gian xuân luân chuyển như thế. Điều đó như là một khuôn hình trong cuộc sống của Kiều: hạnh phúc quả là ngắn ngủi, và cuộc đời phải trải qua nhiều truân chuyên, chìm nổi.

Con người trong Truyện Kiều luôn có tâm trạng mất mát, không trọn vẹn.

4. Vì thời gian  xuân động như thế , biểu hiện của thời lượng xuân là không trọn vẹn hoặc là rất nhỏ nhoi, ít ỏi (Nửa chừng xuân, xuân đương vừa thì, hoa xuân đương nhị, chừng xuân tơ liễu còn xanh, đã chừng xuân qua, tin xuân, giấc xuân, cành xuân). Và con người sống trong một thời lượng xuân như thế cũng bàng bạc một tâm trạng thắc thỏm, lo âu, mng đợi và cả nuối tiếc nãa (Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân).

5. Thời điểm xuân trong Truyện Kiều chính là thời gian, thời lượng rút ngắn lại. Và chính ở đây, cái tâm trang khắc khoải lo âu, mong đợi và nuối tiếc đó mới càng rõ ràng hơn.

Ngày xuân tràn trề sức sống, nhưng lại thoáng qua (Ngày xuân con én đưa thoi; Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân; Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi; Ngày xuân càng gió, càng mưa, càng nồng). Đêm xuân như một giấc mơ, có khi  là giấc mơ đẹp về cuộc hội ngộ nếu không thoáng qua (Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng) thì cũng là ác mộng ( Đêm xuân một giấc mơ màng, Đuốc hoa để đó còn nàng nằm trơ), hay là một sự ham muốn hưởng thụ ( Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho đang).

Ở đây có sự đối lập giữa ngày xuân / đêm xuân như là sự đối lậïp giữa ánh sáng/ bóng tối. Aùnh sáng có rực rỡ nhưng thoáng qua. Bóng đêm thì đồng loã với ác mộng và dục tính. Cho nên con người sống ở đấy như là sống giữa sự tranh chấp cái Thiện và cái Aùc. Đó là bi kịch của thế giới nhân vật sống trong đó, nhất là Kiều.

Vì thế mà thời gian xuân trong Truyện Kiều còn là thời gian  của tâm trạng.Từng thời lượng, thời điểm, nhân vật phải vội vã với nó, khát khao hưởng thụ một cách vội vàng. Tuổi xuân rực rỡ như ánh ngày xuân cũng được nhìn trong tư thế ấy.

Với Kiều thì thanh cao trong sáng, là vẻ đẹp của tạo hoá:

Ngày xuân em hãy còn đài

Xót tình máu mủ , thay lời nước non

Còn Tú Bà–chủ lầu xanh- nhìn tuổi xuân với khía cạnh khác, có tính thương mại:

Hoa xuân đương nhị, ngày xuân còn dài.

Cũng thế, “đêm xuân” được nhận thức ở dưới đây đều là cái nhìn hươnûg thụ, nhưng thật khác nhau với từng nhân vật :

Thanh cao, trong sáng với chàng Kim:

Bâng khuâng đỉnh giáp non thần

Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng

“ Sở khanh” như họ Mã thì  cảm nhận:

Đêm xuân một giấc mơ màng

Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ

Đầy dục vọng như  Thúc Sinh:

Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng

Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho chăng?

Thời điểm xuân như là môït phương tiện nghệ thuật thể hiện tâm trạng khắc khoải, nuối tiếc, sự khát khao hưởng thụ và tình yêu táo bạo, như là một điểm nhìn về thế giới nhân vật trong Truyện Kiều. Đó là thế giới của những nhân vật sẵn sàng bộc lộ sự khát khao hưởng thụ tuổi trẻ, bộc lộ tình yêu theo cách của mình.

6. Như vậy, thời gian  xuân trong Truyện Kiều là thời gian  động, thời gian  tâm trạng.

Con người sống trong đó cảm thấy thiếu hụt, mất mát, không trọn vẹn. Họ vội vã hưởng thụ nhưng trong tâm trạng khắc khoải lo âu, nuối tiếc, dễ rơi vào bi kịch. Đây chính là tiền đề cho bi kịch Thúy Kiều về khát vọng tuổi trẻ và tình yêu của mình.

7. Mùa xuân là thời gian  dồng thời cũng là không gian. Nói như Uxpenxki: “Không gian là thời gian  trường tồn. Thời gian  là không gian lần bước.”. Thời gian  xuân trong Truyện Kiều không có sự ngưng đọng. Còn không gian xuân trong Truyện Kiều là không gian mang tính cấp độ, có dung lượng. Không gian đó chuyển hoá thành nhiều cấp độ. Và ở mỗi cấp độ như thế có ý nghĩa riêng biệt.

Cấp đôï ỏ đây có thể là từ nhỏ đến lớn (tin xuân ,chén xuân, cành xuân,vườn xuân), từ trong chủ thể đến khách thể (lòng xuân, lượng xuân, phòng xuân, vườn xuân)

Không gian xuân có cấp độ, dung lượng như thế được chuyển hoá vào tuổi trẻ tình yêu thể hiện dung lượng hạnh phúc ở từng nhân vật. Ở cực này có dung lượng là hạnh phúc, ở cực kia là bi kịch. Ở mỗi chặng đường đời của từng nhân vật, không gian xuân chi phối điều chỉnh hai thái cực này, phù hợp với mỗi nhân vật.

Chỉ lần dõi bước chân Kiều cũng có thể rõ. Với Kiều, tác giả đã dành cho những không gian xuân có dung lượng rất ít ỏi, nhỏ nhoi: tin xuân, lòng xuân, chén xuân, lượng xuân …

- Đủ điều trung khúc ân cần

Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng
- Lượng xuân dù quyết hẹp hòi

Công đeo đuổi chẳng thiệt thòi lắm ru
Đây là lời chàng Kim nói với Kiều trong buổi thề nguyền. Lượng xuân là sự độ lượng lớn của chúa xuân. Kim đã mong lòng bao dung của Kiều chiếu cố đến tình yêu của mình, nhưng quả là ít ỏi. Đến nổi sau đó bình luận về việc này, tác giả cũng đã viết:

Từ phen đá biết tuổi vàng

Tình càng thấm thiá dạ càng ngẩn ngơ

Sông Tương một dãi nông sờ
Bên trông đầu nọ, bên chờ mối kia

Một tường tuyết chở sương che

Tin xuân đâu dễ đi về cho năng

Hoặc khi Tú Bà dạy cho Kiều những ngón nghề chiều khách, nàng nghĩ mà thẹn cho mình, day dứt về nổi hàng Kim quay về tìm nàng, thì tuổi xuân nàng đã bị chuyên tay (Khi về hỏi liễu Chương Đài, Cành xuân đã bẽ cho người  chuyên tay).

Nếu không gian đó có tăng về lượng thì không gian đó vẫn là không gian kín: buồng xuân, khoá xuân …

- Trộm nghe thơm nức hương lân

Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều .

- Lỡ chân trót đã vào đây

Khoá buồng xuân để đợi ngày đào non.

Trường hợp đầu là Kiều trước lúc tai biến, Kim mới chỉ nghe biết về Kiều . Trường hợp sau , là đỉnh đỉêm ê chề trong cuộc đời Kiều, lúc nàng ở lầu xanh. Ngay cả lúc không gian tưởng như rộng lớn nhất ( Vườn xuân một cửa để bia muôn đời) lúc đại đoàn viên, thì nàng Kiều trong tái hợp vẫn là nàng Kiều của bi kịch mà thôi.

Không gian xuân có dung lượng trong Truyện Kiều là không gian của tình yêu và hạnh phúc. Thế nhưng, dù Kiều được thể hiện trong một cấp độ nào đi nữa thì vẫn là, nếu không ít ỏi, thì cũng đóng kín. Trong không gian đó, Kiều vẫn phải vẫy vùng nhưng không thoát khỏi bi kịch tình yêu, tuổi trẻ của mình.

8.Tính nhịp đôï của không- thời gian  xuân trong Truyện Kiều khi chúng kết hợp trên một hệ trục, đã bao trùm lên toàn bộ Truyện Kiều. Nhịp điệu ở đây gấp gáp, ráo riết, có gia tốc. Nhịp điệu này như cơn lốc cuốn hút cả thế giới nhân vật trong Truyện Kiều.

Nhịp điệu này được thấy ngay từ đầu tác phẩm:

(37)  Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

(39)  Ngày xuân con én đưa thoi

(46)  Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân

(65)  Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương

Nhịp điệu đó phù hợp với con người chưa kịp hưởng thụ cái xuân tình, tuổi trẻ, tình yêu mà đã gặp phải bi kịch, và rồi nuối tiéc, dằn vặt thì cũng là điều dễ hiểu.

Kim Trọng:  - Ngày xuân đã dễ tình cờ mấy khi  (338)

                      - Xuân thu đã biết mấy lần đổi thay (2857)

Thúc Sinh:   - Đêm xuân ai dễ cầm lòng cho chăng (1286)

                     - Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân (1703)

Đạm Tiên:  - Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương (65)

Thuý Kiều:  - Những mình nào biết có xuân là gì? (1240)

                      - Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay (1262)

Một nhân vật tưởng chừng ít bị tác động nhất vẫn không ra ngoài nhịp điệu ấy là Thuý Vân cũng :

Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han

Và Mã Giám Sinh cũng vội vội, vàng vàng, “Sở Khanh” không kém ( Đêm xuân một giấc mơ màng; Đuốc hoa để đó mặc nàng nằm trơ)

Nếu như nhịp điệu có bớt gấp gáp đi chăng nữa thì đó cũng là một nhịp điệu giả tạo, bị co dãn theo chủ quan của nhân vật.

Kiều lúc trao duyên:  Ngày xuân em hãy còn dài

Tú Bà đỗ dành Kiều: Hoa xuân đương nhị ,ngày xuân còn  dài

Kim xe duyên cùng Vân trong gượng gạo:

                                  Trai tài gái săùc ,xuân đương vừa thì
Kiều sống với Từ: Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày

Kiều dưới mắt Vương Oâng, Vương Bà lúc doàn tụ:

Mười phần xuân có gầy ba bốn phần
Kim –Kiều động phòng hoa chúc: Dưới đèn toả rạng mmá đào thêm xuân

Nói như Thúc Sinh với Kiều khi ở Quan Aâm Các, sự kết hợp không- thời gian  xuân như là một lực lượng tàn phá tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc:

Vì ta nên luỵ đến người

Cát lầm ngọc trắng , thiệt đời xuân xanh
Trong đó nhân vật Thuý kiều chịu sự tác động mạnh mẽ nhất, dù cho Vương Ông, Vương Bà có nhận thấy: “Mười phần xuân có gầy ba bốn phần”, hoặc như Kim Trọng xác nhận: “ Chừng xuân tơ liễu còn xanh” lúc đại đoàn viên.

9. Cảm quan xuân như một lực lượng tàn phá xuân sắc, tình yêu, tuổi trẻ, là một cảm quan hiện thực, thiên tài của Nguyễn Du. Với cảm quan này, số phận của các nhân vật được nhìn nhận dưới một góc độ cụ thể hơn.

Có thể so sánh với một số quan niệm trước và sau đó về cảm quan xuân:

Xuân trong văn hoá dân gian là xuân cộng đồng, hội lễ, đình đám. Không- thời gian  ngưng đọng, dần trôi. Con người sống hết mình, trọn vẹn, bộc lộ hết tình yêu, hạnh phúc của mình. Một hội lễ như hội rã La là tiêu biểu.

Đồng thời với Nguyễn Du, trong thi tập của Hồ Xuân Hương, nữ sĩ dùng từ “xuân” 6 lần. Nhưng xuân trong thơ bà đã được vật chất hoá thành hình, thành khối (Đá kia còn biết xuân già giặn; Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu…). xuân ở thơ bà như ngưng đọng , lặp lại làm tăng khát vọng cùng bi kịch của mình (Ngán nổi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con).

Xuân ở các nhà thơ Mới là xuân của cáci tôi. Nhưng là xuân trinh nguyên, trọn vẹn (Mùa xuân chín) như của Hàn Mặc Tử, hưởng thụ đầy đặn xuân của đất trời. Xuân làm tăng nổi buồn cô liêu trong thơ Chế Lan Viên ( Tôi có chờ dâu có đợi đâu. Mang chi xuân đến gợi thêm sầu). Hoặc như Xuân Diệu “ thấy được xuân như là đại lượng tiêu cực thù địch với hạnh phúc, tuổi xuân” nhưng cũng chỉ là của cá nhân, của cái tôi, không đạt đến  tầm nhân thế như của Nguyễn Du.

10. Từ đó có thể xem xét nhân vật Kiều dưói 4 góc độ:

- Các nhân vật khác nhìn nhận về Kiều

- Kiều với các đời chồng của mình

- Kiều trong cái nhìn xuyên suốt cuộc đời nàng

- Kiều tự nhìn nhận về mình.

Trong các góc đôï đó, tất nhiên không thể tránh khỏi sự trùng lặp, nhưng sự phân chia đó là cần thiết.

10.1. Kiều bước vào tác phẩm với tuổi xuân phơi phới ( Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê). Nhưng càng dấn sâu vào dòng đời, Kiều càng gặp phải bi kịch. Cuộc đời nàng đã được báo trước bằng hình ảnh nàng Đạm Tiên bạc phận ( Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương) mà Kiều cảm nhận được chính trong tiết Thanh Minh trong sáng.

Kim Trọng nghe nói ( Trộm nghe ..Một nền Đồng Tước khoá xuân hai Kiều) rồi thấy về Kiều ( Bóng hồng nhác thấy nẻo xa..Xuâ lan thu cúc…) cũng chính là lúc nàng Kiều đang ở giai đoạn tràn trề xuân xanh. Càng tương ngộ và thăm dò lòng nhau ( lượng xuân dù quyết hẹp hòi) tri kỉ (lòng xuân phơi phới , chén xuân tàng tàng) là lúc Kim thấy “ lượng xuân” của Kiều càng giảm đi. Kể từ đó đến lúc gặp cảnh tai biến và cho đến khi đoàn viên tái hợp sau này, chàng Kim mới có dịp nhìn lại tuổi xuân của Kiều, tình yêu của mình đối với Kiều . Khi Kim nói “ Chừng xuân tơ liễu còn xanh” đối với Kiều lúc đó chỉ là sự “gạn đục khơi trong”, là nhờ ở “ quân tử khác lòng người ta” của chàng Kim mà thôi. Yù thức về bi kịch của mình ở Kiều chẳng vì thế mà thay đổi.

Thúc Sinh đối với Kiều ân tình cũng lắm. Nhưng khi tự nàng Kiều gọi Thúc hay Thúc tự xưng là chuá xuân, có nghĩa, mình  là người chủ của tình yêu, tuổi trẻ và hạnh phúc của Kiều, thì cũng là lúc nàng ý thức được thân phận mình (Chúa xuân đành đã có nơi, Ngắn ngày thôi chớ dài lời làm chi) hoặc là tự chàng Thúc nói ra ( Đã cam chịu bạc với tình, Chúa xuân để tội một mình cho hoa). Thúc nhận thức Kiều là một chuỗi bi kịch ngay từ lúc nàng còn sống với mình  (Vì ta ta nên luỵ tới người, Cát lầm ngọc trắng thiệt đời xuân xanh) cho đến khi Thúc tưởng nàng bị chết oan vì bọn Ưng Khuyển ( Tiếc hoa những ngậm ngùi xuân).

Như trên đã nói, lúc sống với Từ là lúc Kiều cảm thấy mình hạnh phúc nhất, nàng lại tìm được ý nghĩa của tình yêu và tuổi trẻ mình, nhưng phải là sự đánh đổi, trả giá của biết bao phong trần (Vinh hoa bỏ lúc phong trần, Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày).

Và cả dưới mắt Vương Ông, Vương bà: Mười phần xuân có gầy ba bốn phần

Lời Tú Bà dỗ dành Kiều, tưởng làm nàng nguôi ngoai ( Hoa xuân đương nhị, ngày xuân còn dài) nhưng thực ra càng làm cho nàng ý thức về mình hơn bao giờ hết.

Có thể nói, cảm quan tình yêu, tuổi trẻ, hạnh phúc của các nhân vật trong Truyện Kiều đối với Kiều là cảm quan về hiện thực bi kịch của Thuý Kiều.

10.2. Hôn nhân phản ánh đầy đuu nhất sắc diện của tuổi xuân và tình yêu , hạnh phúc của đời người con gái. Kiều đã 7 lần lấy chồng, 2lần chịu cảnh lầu xanh tiếp khách. Nguyễn Du chỉ nhắc đến xuân  của Kiều trong những cuộc hôn nhân với những con người thực sự để lại cho nàng dấùu ấn mạnh mẽ nhất (họ Mã, họ Thúc, Từ Hải , chàng Kim) và bỏ qua những nhân vật nhợt nhạt ( Bạc Hạnh, Thổ Quan, Sở Khanh).

Tình yêu đầu đời trong sáng với chàng Kim sớm ly tán và chỉ sum họp 15 năm sau trong cảnh gượng gạo. Thúc thật sự yêu Kiều, nhưng cũng không dủ bản lĩnh để làm cho nàng Kiều không phải rơi vào cảnh đau khổ. Từ đem hạnh phúc đến cho Kiều, nhưng chính Kiều lại phá vỡ nó đi. Ngay như Mã Giám Sinh lần đầu hưởng trọn “ miếng ngon kề đến tận nơi” đã bỏ mặc nàng (đêm xuân… đuốc hoa để dó cho nàng nằm trơ)

Hôn nhân đối với Kiều đâu phải là con đường  giải thoát.

10.3. Cuộc đời Kiều là một chuỗi bi kịch.

Bước vào đời bằng tuổi xuân (xuân xanh xấp xỉ…) đã được tiên nghiệm bằng sự đứt đoạn ( Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương). Mở đầu bằng tình yêu trong sáng sực nức hương tình ( Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng) đã sớm phải trao duyên ( Ngày xuân em hãy còn dài). Gặp Mã là thế, gặp Thúc cũng không hơn gì, chỉ được lời an ủi nặng nghĩa mà nhẹ tình( Đã cam chịu bạc với tình, Chúa xuân để tội một mình cho hoa) rồi cũng đến “thiệt đời xuân xanh” mà thôi. ( còn tiếp 1 kỳ )

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=343238