MÙA THU TRONG NHẠC & THƠ Bài Viét Bích Huyền

By MANG VIÊN LONG

Mùa Thu trong Nhạc và Thơ

 Bài Viết :

BÍCH HUYỀN

&

VÀI ĐOẠN THƠ ( CỔ ) VỀ THU

Nguyễn Nam Sơn

( Sưu Tập )

 Mỗi chiếc lá như một bông hoa đẹp vô cùng đến nỗi có một nhà văn đã gọi mùa thu là mùa xuân thứ hai của trời đất.

 Ngô đồng nht dip lc

Thiên hạ cng tri thu

 Thấy chiếc lá ngô đồng rụng mọi người đều biết là thu đã trở về…

           Các văn thi sĩ Đông phương đã có một số hình ảnh diễn tả mùa thu. Những chiếc lá vàng đã bắt đầu rơi. Một vài cánh nhạn từ phương xa bay về. Hoa cúc đã nở bên liếp dậu thưa. Sương đã bao phủ cảnh vật và rừng phong đã xơ xác lá. Riêng Lưu Trọng Lư đã vẽ lại một cảnh thu đầy những âm thanh

 Em không nghe mùa thu

Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô

 Hình ảnh con nai vàng thẫn thờ đạp trên thảm lá khô xào xạc tạo nên những âm thanh buồn bã của mùa thu tựa như một nỗi tiếc nhớ xa xôi…

 Mùa thu của Việt Anh không còn nữa nhưng hình ảnh thu xưa cứ làm vương vấn mãi. Vâng Không Còn Mùa Thu ca khúc của Việt Anh qv&cb vừa thưởng thức trong giọng hát Hồng Nhung…

 Ở Đông phương sự cảm thông giữa thiên nhiên và con người thật sâu sắc. Mỗi mùa màng như một người bạn cũ cứ đến hẹn lại về. Mỗi lần thu tới ta vẫn nghĩ rằng mùa thu năm nào của ta lại trở về thăm ta.

 Mùa thu vẫn luôn luôn là một cái gì đó xa xôi kín đáo bình dị và mênh mông cho nên thu bao giờ cũng xưa. Ta thấy như thu ở thời xưa mà về. Và ta cũng thấy lòng lắng dịu bình yên.

 Thu từ tri mà xung…

Bỗng dưng buồn bã không gian

Mây bay lũng thp giăng màn âm u

Nai cao gót lẩn trong mù

Xuống rng no thuc nhìn thu mi v

(Huy Cận)

 Mùa thu mới về trời bớt nóng và thêm hơi mát. Có ai thổi cơm mà khói nhẹ mơ hồ đâu đây. Chưa có sương mù cũng chưa hẳn là sương mờ chỉ là đôi thoáng sương mơ mỏng manh như chiêm bao… Không biết có phải sương thu mới nhóm hay đó chỉ là sự huyền ảo của chính hồn ta?

 Trong bài Ký Viễn Lý Bạch có một câu thơ làm ta say mê xúc động

 Tương tư hoàng lạc dip

Vàng rơi từng cánh tương tư

 Vì tương tư mà lá vàng đã rơi từng cánh hay chính mỗi chiếc lá vàng đã mang mối tương tư của ta trải đầy trong gió…

 Anh yêu dấu em gửi đến anh một chiếc lá vàng mà em nhặt được bên thềm nhà vắng như gửi về anh nỗi nhớ nhung da diết.

 Ở miền Bắc nước ta mùa thu là mùa cưới. Không biết do tục lệ nào hay vì đó là mùa của những hạt cốm Vòng màu xanh ngọc và màu đỏ thắm của trái hồng chín mọng mà mọi người coi như biểu hiện của sự kết hợp lứa đôi?

 Chúng ta hãy nghe Xuân Diệu giải thích:

 “Mùa thu là mùa yêu nhau yêu nhau bằng linh hồn là mùa của những tâm hồn yêu mến nhau. Người ta ngoan hơn dịu dàng hơn để mười hay hai mươi ngón tay đan với nhau và lắng nghe trời xanh ôm lấy lứa đôi như một tấm áo che sương. Đó là những giờ thân mật dạo qua hàng cây bước như ngờ ngợ hồn như giao hòa”

 Xuân người ta vì m mà cn tình

Thu người ta vì lnh sp ti mà cn đôi

Cho nên không gian đầy nhng li nh thương.

Những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau.

Và lòng ta nghe thấy tất cả những du dương của những âm thanh diệu kỳ ấy…

 Gọi Mùa Thu Mơ một ca khúc rất… mùa thu của Phạm Anh Dũng. Mùa thu thật mơ màng thật đẹp và lại càng đẹp hơn với giọng hát Duy Trác cùng với nghệ thuật hòa âm của Duy Cường qv&cb vừa nghe.

 Mùa thu màu sắc đường nét của khung cảnh bóng dáng của con người cho đến không gian thời gian… Tất cả đều rất mơ hồ không rõ nét không xác định mà bảng lảng trong màn sương khói của những giấc mộng và những kỷ niệm không phai.

 Và rồi… không hiểu sao buồn chở một hồn đầy?

 Không gian như có giây tơ

Bước đi s đt đng h s tiêu

  BÍCH HUYỀN

........................................................................................

 

Vài đoạn Thơ (cổ) v Thu:

 

NGUYỄN NAM SƠN

( sưu tập )

 

1.Trăng Thu

 Thiêm sầu ích hận nhiễu thiên nhai.

Chiếu tha kỷ hứa nhân trường đoạn.

 添 愁 益 恨 绕 天 涯。

照 他 幾 許 人 腸 斷 。

(Bạch Cư Dị 白居易 Trung thu nguyệt 中秋月 câu 2 7)

(Nghĩa: thêm sầu thêm hận khắp gầm trời

Trăng đã soi bao nhiều người đứt ruột)

  và lòng người lữ khách xa nhà:

 Vị tất Tố Nga vô trướng hận

Ngọc thiềm thanh lãnh quế hoa cô.

 未 必 素 娥 無 怅 恨,

玉 蟾 清 冷 桂 花 孤。

(Án Thù 晏殊 Trung thu nguyệt 中秋月 câu 3-4)

(Nghĩa: Hằng Nga chưa chắc dã không buồn khổ

Cóc ngọc và cây quế đều thê lương lạnh lẽo)

 Và đây là trăng cô đơn của Đỗ Phủ:

 Thu nguyệt nhưng viên dạ

Giang thôn độc lão thân.

 秋 月 仍 圓 夜,

江 村 獨 老 身 。

(Đỗ Phủ 杜甫 Thập thất dạ đối nguyệt 十七夜對月câu 1-2)

(Nghĩa: Đêm trăng thu vẫn tròn

Xóm bên sông chỉ có một thân già)

 2. Núi thu

 Sơn thu vân vật lãnh

Xứng ngã thanh luy nhan.

Nhân sinh vô kỷ hà

Tâm hữu thiên tải ưu

Thân vô nhất nhật nhàn.

 山 秋 雲 物 冷,

稱 我 清 羸 顔。

人 生 無 幾 何 。

心 有 千 載 憂,

身 無 一 日 閑。

(Bạch Cư Dị 白居易 Thu sơn 秋山câu 3-4 9 11-12)

(Nghĩa: Núi mùa thu mây và mọi vật đều lạnh

Thiệt xứng với nét mặt xanh gầy của ta.

Đời người có gì đâu.

Lòng có mối lo ngàn năm

Thân không có được một ngày nhàn nhã).

 Núi thu cũng nhắc nhở đến sự chia ly xa cách quê hương. Vi Ứng Vật nơi đất lạ gặp lại người bạn cũ đã từng sống tại Lương Châu mừng mừng tủi tủi hàn huyên.Đến khi người bạn hỏi tại sao lâu rồi không về thăm quê tác giả chỉ biết ngậm ngùi nhìn vào ngọn núi thu lờ mờ ẩn hiện trên sông Hoài:

 Hà nhân bất quy khứ

Hoài thượng đối thu sơn.

 何 因 不 歸 去,

淮 上 有 秋 山。

(Vi Ứng Vật 韋應物 Hoài thượng hỉ hội Lương châu cố nhân  淮上喜會梁川故人 câu 7-8)

(Nghĩa: Hỏi tại sao không trở về quê

Chỉ biết trỏ vào núi thu trên sông Hoài)

 Cũng gần một hoàn cảnh Lý Ích được gặp lại người em họ sau bao nhiêu năm ly loạn. Tác giả lại bùi ngùi nghĩ đến ngày mai người em họ lại phải lên đường đi nơi khác:

 Minh nhật Ba lăng đạo

Thu sơn hựu kỷ trùng.

 明 日 巴 陵 道,

秋 山 又 幾 重?

(Lý Ích 李益 ,Hỉ kiến ngoại đệ hựu ngôn biệt 喜見外弟又言別 câu 7-8)

(Nghĩa: Ngày mai lên đường về Ba Lăng

Núi thu lại cách mấy trùng)

 3. Sông Thu

 Thủy tinh liêm quyển cận thu hà.

 水 晶 簾 卷 近 秋 河。

(Cố Huống 顧況 Cung từ 宮詞 câu 4)

(Nghĩa: Màn thủy tinh cuốn lên tận sông thu)

 Đỗ Mục tả tâm tình người cung nữ đêm thu ngồi một mình buồn ngắm sao giọng văn tương đối nhẹ nhàng phải nhìn kỹ lắm chúng ta mới thấy được một chút "oán" thật kín đáo trong dòng thơ:

 Ngân chúc thu quang lãnh họa bình

Khinh la tiểu phiến phác lưu huỳnh

Thiên giai dạ sắc lương như thủy

Tọa khán khiên ngưu chức nữ tinh.

 銀 燭 秋 光 冷 畫 屏,

輕 羅 小 扇 撲 流 螢。

天 階 夜 色 涼 如 水,

坐 看 牽 牛 織 女 星。

(Đỗ Mục 杜牧 Thu tịch 秋夕)

(Nghĩa: Đêm thu ánh đuốc bạc chiếu bình phong lạnh

Dùng quạt lụa đánh đuổi con đom đóm.

Trên thềm đá sắc đêm trong như nước

Ngồi nhìn 2 sao Ngưu lang và Chức nữ)

   4. Thu Nhớ Người Nhớ Quê

 Mạnh Hạo Nhiên một mình ở đất Tần (tức Kinh đô Trường An của nhà Đường) nhớ bạn là Tuệ Viễn thiền sư đã làm một bài thơ nhớ bạn trong đó hai câu cuối nghe thật là thê lương:

 Nhật tịch lương phong chí

Văn thiền đản ích bi.

 日 夕 涼 風 至,

聞 蟬 但 益 悲。

(Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 Tần trung cảm thu ký Viễn thượng nhân 秦中感秋寄遠上人 câu 7-8)

(Nghĩa: Ngày đêm gió lạnh thổi

Nghe tiếng ve chỉ thêm buồn)

 (Ở đây xin mở một dấu ngoặc nhỏ. Ở xứ mình tiếng ve thường dính liền với mùa hạ trong khi ở đây nó lại được nhắc đến ở mùa thu. Chúng ta cũng đã nghe Tống Ngọc nhắc đến ve sầu trong đoạn văn về mùa thu trích dẫn ở trên).

 Một thi nhân khác trong đêm thu đi bộ một mình cũng nhớ đến bạn mình tình cảm thật nhẹ nhàng:

Hoài quân thuộc thu dạ

Tản bộ vịnh lương thiên

Không sơn tùng tử lạc

U nhân ứng vị miên.

 

懷 君 屬 秋 夜,

散 步 詠 涼 天。

空 山 松 子 落,

幽 人 應 未 眠 。

(Vi Ứng Vật 韋應物 Thu dạ ký Khâu viên ngoại 秋夜寄邱員外)

(Nghĩa: Đêm thu tôi nhớ bạn

Trời mát đi bộ ngâm thơ.

Núi vắng quả tùng rơi

Tôi đoán bạn giờ này cũng chưa ngủ)

    Nếu người bạn đã chết thì tình cảm lại càng thê thiết. Vương An Thạch một thời làm Tể tướng chủ trương cải cách và đứng đầu Tân phái. Ông gặp được một người tuổi trẻ tài năng trác tuyệt là Vương Phùng Nguyên tưởng rằng người trai trẻ này có thể kế thừa mình. Nhưng không may Vương Phùng Nguyên lại mất sớm để cho Vương An Thạch thương tiếc khôn cùng. Bài thơ thứ nhất trong ba bài thương tiếc Phùng Nguyên bắt đầu bằng hai câu nghe thật bi thảm:

 Phùng cao kim nhật tưởng phân phi

Trủng thượng thu phong hựu nhất suy.

 蓬 蒿 今 日 想 紛 披,

冢 上 秋 風 又 一 吹。

(Vương An Thạch Tư Vương Phùng Nguyên 王安石思王逢原(bài 1 trong 3 bài) câu 1-2)

(Nghĩa: Cỏ dại hôm nay tưởng đã mọc đầy

Trên gò mả gió thu lại thổi)

 Nỗi nhớ em của Đỗ Phủ cũng thật là da diết:

 Thú cổ đoạn nhân hành

Thu biên nhất nhạn thanh.

....

Hữu đệ giai phân tán

Vô gia vấn tử sinh.

Ký thư trường bất đạt

Huống nãi vị hưu binh.

 戍 鼓 斷 人 行,

秋 邊 一 雁 聲。

有 弟 皆 分 散,

無 家 問 死 生。

寄 書 長 不 達,

況 乃 未 休 兵。

(Đỗ Phủ 杜甫 Nguyệt dạ ức xá đệ 月夜憶舍弟 Câu 1-2 5-8)

(Nghĩa: Tiếng trống ngưng bước người

Mùa thu nơi biên giới một tiếng nhạn kêu.

....

Có em mà đều bị chia ly

Không nhà để hỏi chuyện sống chết.

Thư gởi lâu không tới

Huống chi binh lửa còn chưa hết)

 Trời thu tự nó đã buồn nhưng nếu thi nhân gặp được một cổ tích đổ nát thì tấm lòng hoài cổ lại bùng dậy. Và do đó xuất hiện một đề tài gọi là điếu cổ hay hoài cổ. Bà Huyện Thanh Quan của Việt nam là một tay cự phách về đề tài này (Thăng long thành hoài cổ ). Lưu Trường Khanh khi đi thăm tàn tích của Ngô công đài (tại Giang Tô Giang đô huyện ngày nay) đã viết nên bài ngũ ngôn bát cú sau:

 Cổ đài diêu lạc hậu

Thu nhật vọng hương tâm.

Dã tự nhân lai thiểu

Vân phong thủy cách thâm.

Tịch dương y cựu lũy

Hàn khánh mãn không lâm.

Điêu trướng Nam triều sự

Trường giang độc chí kim.

 古 台 搖 落 後,

秋 日 望 鄉 心。

野 寺 人 來 少,

雲 峰 水 隔 深。

夕 陽 依 舊 壘,

寒 磬 滿 空 林。

惆 怅 南 朝 事,

長 江 獨 至 今。

(Lưu Trường Khanh 劉長卿 Thu nhật đăng Ngô công đài thượng tự viễn diêu 秋日登吳公台上寺遠眺)

(Nghĩa: Đài xưa đã điêu linh tàn tạ

Ngày thu lòng nhớ quê.

Chùa quê ít người lại

Núi cao nước sâu cách trở.

Nắng chiều vẫn nương nhờ đài cũ

Tiếng khánh lạnh bao phủ đầy rừng.

Việc cũ của Nam triều điêu tàn

Chỉ có Trường giang là còn đến ngày nay)

 Lưu Vũ Tích cũng có những câu thơ hoài cổ não lòng người khi ông viếng thăm Tây tái sơn (tại Hồ Bắc Đại Dã huyện):

 Nhân thế kỷ hồi thương vãng sự

Sơn hình y cựu chẩm hàn lưu

Tùng kim tứ hải vi gia nhật

Cố luỹ tiêu tiêu lô địch thu.

 人 世 幾 回 傷 往 事,

山 形 依 舊 枕 寒 流。

從 今 四 海 爲 家 日,

故 壘 蕭 蕭 蘆 荻 秋

(Lưu Vũ Tích 劉禹錫 Tây tái sơn hoài cổ 西塞山懷古câu 5-8)

(Nghĩa: Người dời bao lần thương chuyện cũ

Núi vẫn như cụ gối trên sông lạnh.

Kể từ bây giờ bốn biển một nhà

Thành xưa mùa thu lau lách tiêu điều)

 Nhiều lúc không cần phải có thành quách cũ mà chỉ cần một buổi chiều thu trên dòng sông Tương cũng đủ khơi dậy lòng hoài cổ nơi thi nhân:

 Viên đề Động đình thụ

Nhân tại mộc lan châu.

Vân trung quân bất kiến

Cánh tịch tự bi thu.

 猿 啼 洞 庭 樹,

人 在 木 蘭 舟。

雲 中 君 不 見,

竟 夕 自 悲 秋 。

(Mã Đái 馬戴Sở giang hoài cổ 楚江懷古câu 3-4 7-8)

(Nghĩa: Vượn kêu trên cây ven Hồ Động đình

Người ở trên thuyền bằng gỗ mộc lan.

Không thấy ông thần mây

Đêm xuống lại buồn thương thu một mình)

 Trương Thuyết thời sơ Đường khi đến ngang Nghiệp đô là nơi Tào Tháo và con cháu (nhà Ngụy) đóng đô thuở xưa đã cảm thấy một nỗi bi thương vô hạn khi thấy gió thu về (đây là khoảng thời gian ông bị biếm trích đi Dương châu):

 Thí thượng Đồng đài ca vũ xứ

Duy hữu thu phong sầu sát nhân.

 試 上 銅 台 歌 舞 處,

惟 有 秋 風 愁 殺 人。

(Trương Thuyết 張說 Nghiệp đô dẫn 邺都引câu 11-12)

(Nghĩa: Thử lên Đồng tước đài nơi ca hát

Chỉ có gió thu buồn chết người)

 Đối với người dân bị mất nước mùa thu lại còn buồn thêm. Đời Nam Tống một nửa nước Trung hoa về phía Bắc bị quân Kim chiếm đóng. Dân chúng sống dưới ách cai trị của quân Kim ngày ngày trông ngóng cứu binh từ miền Nam lên nhưng than ôi!... Cảm thương tình cảnh này trong một đêm thu ra khỏi nhà hóng mát Lục Du đã viết lên:

 Di dân lệ tận Hồ trần lý

Nam vọng vương sư hựu nhất niên.

 遺 民 淚 盡 胡 塵 裏,

南 望 王 師 又 一 年。

(Lục Du陸遊 Thu dạ tương hiểu xuất ly môn nghênh lương hữu cảm 秋夜將曉出籬門迎涼有感câu 3-4)

(Nghĩa: Dân bị bỏ sót ở miền Bắc nước mắt đã chảy hết vào trong bụi của xứ Hồ

Lại mất thêm một năm nữa hướng về phương Nam mong mỏi lính của vua lên Bắc để cứu).

 Ở Nam bán cầu Trời bắt đầu chớm Đông. Buổi sáng chạy bộ thể dục bên bờ hồ chợt thấy sương Thu và lá Thu còn sót trên cành lòng nhớ Quê nhớ Cảnh nhớ Người...qyay quắc.

Nhân tiện xin chia sẻ cùng Thân Hữu nét Thu qua Con Thuyền Không Bến của Nhạc sĩ Tài hoa nhưng đoản Mệnh: Đặng Thế Phong

NGUYỄN NAM SƠN

More...

CHIÊM BÁI THÁNH TÍCH PHẬT NHÂN NGÀY PHẬT ĐẢN - Ngô Quang Hiển

By MANG VIÊN LONG

PHẬT ĐẢN TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐỨC PHẬT

Du Ký

( Bài & Ảnh của Tác giả )

NGÔ QUANH HIỂN

Đúng vào ngày Phật đản 2010 tôi lên đường đi thăm các Phật tích ở Ấn Độ và Nepal.

Khởi hành tử phi trường Tân Sơn Nhất lúc 16g mãi đến 13g ngày hôm sau tôi mới đến Mahabodi Mahavihara thuộc bang Bihar .Bồ Đề Đạo Tràng là tên gọi quen thuộc của người Việt còn được gọi tháp Đại Giác nơi ghi dấu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo cách đây hơn hai nghìn năm.

Lúc tôi đến Ấn Độ nhiệt độ giữa ban trưa trong bóng râm lên đến 55 độ C. Nóng nhất kể từ năm 1800 đến nay.

.

Tác giả Ngô Quang Hiển...

Có rất nhiều xe từ khắp nơi chở khách hành hương về thăm Phật tích quan trọng này.

.

Có cả những chiếc xe ba bánh  trang hoàng sặc sở gắn cờ Phật giáo nằm chờ khách.Gía cả đi lại ở đây tương đối rẻ.Vài chục ngàn tiền Việt cho một cuốc xe khoảng hai ba cây số.

Qua một chặng hành trình mệt mõi và sau bửa ăn trưa toàn cà ri chán ngấy vừa nằm chợp mắt một chút  đã nghe âm thanh ầm ào ngoài đường phố.Đủ loại kèn trống thanh la hòa theo một giai điệu rất lạ.Thì ra một đoàn người đi viếng thăm và cúng dường thánh tích.Tất cả họ đều đầu trần đi ngay hàng thẳng lối giữa cái nắng nóng suýt soát 60 độ .Nhưng lạ một điều là họ theo đạo Hindu thậm chí theo đạo Sikh nhưng vẫn thành kính quỳ dưới chân Đức Phật trong ngày lễ trọng này.

.

.

  Hình như không còn phân biệt màu da ngôn ngữ chủng tộc tôn giáo chính trị. Tất cả mọi người  kính cẩn vây quanh cây bồ đề nơi hàng nghìn năm trước Đức Thế tôn đã giác ngộ trong tiếng tụng kinh trầm bỗng vang vang khắp mọi nơi

Tay trong tay mắt trong mắt và tim trong tim.Sức mạnh tâm linh hình như làm cho mọi người hướng thiện hơn. Khi quỳ xuống dưới cây bồ đề nơi đức Phật thành đạo tôi một thằng không ra gì cũng cảm thấy mình hiền đi rất nhiều.

.

.Ở Bồ Đề Đạo Tràng có rất nhiều ngôi chùa do các tăng sĩ Việt Nam kiến tạo. Chúng tôi đến thăm một ngôi chúa còn đang tranh tre mái lá có tên Tịnh xá Kỳ Viên. Bà con nông dân nghèo nghe tin chúng tôi vào chùa tò mò ùa đến và chờ ..ủy lạo. Ở đâu cũng vậy cũng một kíếp nhân sinh!

.Có khá nhiều người Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới tìm về chốn thiêng liêng này.Tà áo dài Việt Nam nỗi bật giữa Bồ Đề Đạo Tràng làm cho du khách trầm trồ nhìn ngắm.

.Tôi cũng đã đến tận nơi Đức Phật nhập niết bàn. Đại tháp qua hàng nghìn năm sương gió vẫn giữ được sự hùng vĩ và nghiêm cẩn.

.Hình ảnh cột đá của vua A Dục dựng lên tại vườn Lâm Tì Ni (Lumbini) Nepal ghi nhớ nơi Đức Phật đản sinh.

Đại đế Asoka sống vào thế kỷ thứ III trước công nguyên. Nhờ nghe được lời dạy của đạo Phật mà đã từ một nhà cai trị khát máu biến thành một vị vua nhân đạo và một người xiển dương Phật giáo hết sức nhiệt thành. Asoka đã trùng tu nhiều di tích Phật giáo và dựng lên nhiều trụ đá rất lớn tại các vùng thánh địa với những lời miêu tả chi tiết. Nhờ Asoka mà sau này ngơời ta tìm lại được chính xác các thánh tích bị chìm lấp sau hành nghìn năm

alt

Ghé qua Nalanda nơi Huyền Trang đã từng đến nơi này tu học vào thế kỷ thứ 7. Nalanda là trung tâm giáo dục của Phật giáo vào năm 427 đến 1197 sau công nguyên. Thời hoàng kim nơi này có chiều dài 10km chiều rộng cũng xấp xỉ 5 km.Khi Hồi giáo tràn vào Ấn Độ có đến hàng nghìn tăng sĩ bị chặt đầu và hàng nghìn người khác bị thiêu sống. Thư viên Nalanda với rất nhiều kinh sách cháy ròng rả suốt 3 tháng trời. Khói ám đen cả những ngọn đồi chung quanh. Sau biến cố này Phật giáo ở Ấn bắt đầu suy tàn.

Tôi đến Nalanda trong bộ dạng của một người Hồi giáo và tôi cũng đã quỳ rất lâu trên nền phế tích nơi mà máu của gần 10.000 tăng sĩ đã đổ xuống. trong cái nắng nóng kinh hoàng như một sự sẻ chia và cả tâm trạng chuộc lỗi . .  Trên đời này liệu có sự thứ tha ngay cả với những điều khó tha thứ nhất?

Thịnh và suy có và không tồn tại hay không tồn tại? Những ý nghĩ ấy cứ đeo bám tôi suốt trong chặng đường dài trên quê hương đất Phật vào mùa Phật đản sinh

NGÔ QUANG HIỂN

More...

ĐÓN MỪNG PHẬT ĐẢN PL 2555 : Hoa Tâm Trong Vườn Đạo

By MANG VIÊN LONG

                  

              THÀNH KÍNH ĐÓN MỪNG

         NGÀY ĐỨC PHẬT ĐẢN SINH- VESAK 2555

                           

                                 

                                        Một vị hữu tình

                                                không bị chi phối

                                          đã sinh ra ở đời vì lợi ích

                                      vì hạnh phúc cho chúng sinh

                                      vì lòng thương tưởng cho đời

                                           vì lợi ích vì hạnh phúc

                                          vì an lạc cho chư thiên

                                                  và loài người…

 

                                         Đại kinh Sư tư hống

                                               Trung bộ 1

     

      S E N  H Ồ N G

        NỞ GIỮA MÙA TRĂNG…

 

      Bài viết : Mang Viên Long

     

        Ngày Đức Phật Thế Tôn thị hiện đản sanh - PL 2555 lại đến với tất cả  chúng ta - những nguời con Phật trên khắp hành tinh này . Mùa Sen Hồng lại nở giữa ngàn trăng đang ngát hương mầu nhiệm và không ngừng xoa dịu bao nỗi ưu phiền thương đau ; mãi mãi hiến dâng bao niềm hy vọng an hòa cho cõi nhân gian đầy biến động  với lẽ sinh diệt vô thường của kiếp người  nổi trôi mê lầm ;  đã và đang ngời ngời rực sáng trên khắp hành tinh…Hơn 25 thế kỷ đã đi qua – ngày ánh Đạo Vàng  đầu tiên tỏa chiếu ở Ca Tỳ La Vệ vẫn mãi  trường tồn trong muôn triệu trái tim của người con Phật của  cả nhân loại và của muôn loài chúng sinh . Hôm nay và  mai sau.  Sen Hồng sẽ mãi mãi nở giữa mủaTrăng bất diệt trong  tâm hồn mỗi người con nguyện đi theo  con đường an lành giải thoát  của Đấng Cha Lành…

         Cảm nhận được sự thiêng liêng thiện lành của ngày Đức Phật ra đời – Ni sư Thích nữ Diệu Quả đã thành tâm ghi lại xúc cảm qua mấy vần thơ giản dị mà đầy xúc cảm :

           Ngày Phật Đản hiện lên vầng trăng sáng

              Giữa bầu trời tỏ rạng ánh quang minh!

              Quét bóng đen - sạch hết cõi vô minh…

              Dạy nhân loại thực hành theo Bỉ Trí.

              Ngày Đán sanh đấng Từ Bi vô nhị…

              Cứu muôn loài thỏat khỏi mọi đau thương (…) “

                    ( Kính Mừng Ngày Phật Đản )

        Triệu Nguyên Phong trong bài  “Một Khúc Sông Quê “ đã chỉa sẻ niềm hân hoan trong mùa trăng tháng Tư lịch sử:

             “ Tháng Tư

                lễ hội hoa đăng

                Bồ giang ơi! Một khúc sông quê nhà

                Tam giang ôm nước nguồn xa

                Mây giăng đầu núi- mặn mà tình trăng (… )”

           Nhà thơ Nguyễn Khôi cảm tác từ “ Vọng Tiếng Chuông Chùa “ vào một đêm Ban Mê khó quên trong đời thắm đượm đạo vị:

              “ Đêm Ban Mê nằm nghe tiếng gió

                 Vọng tiếng chuông khuya giữa núi rừng

                 Một thoáng ngày xưa - ngàn dặm biếc

                 Trăng vàng sáng mãi cõi lòng tôi (..) “

           Hình ảnh khó quên trong đời có lẽ cũng là đêm Rằm tháng Tư ở ngôi chùa quê thanh vắng nên thơ - cùng nhau vào chùa lễ Phật nguyện cầu an lành cho tất cả - Trần Minh Nguyệt đã ghi lại một kỷ niệm về “ Chùa Quê “ như thế rất sâu sắc :

:

             Rằm tháng Tư em đi chùa – lễ Phật…

                Quy y thiện quả kính dâng hương!

                Chùa quê soi bóng trăng trong sáng

                Pháp nhũ trùm giăng rộng đất trời ! “

          Cùng có chung cảm nhận về hình ảnh “ lễ Phật “ của những  nữ Phật tử  son trẻ chân phác nhân hậu – Tâm Không - Vĩnh Hữu đã xúc cảm ghi lại trong bài “Em Quỳ Lễ Phật “ dài  25 câu thơ- VHT xin trích giới thiệu bốn câu mở đầu:

            Em quỳ rạng rỡ nét vui

               Như sen một đóa vừa ngoi khỏi bùn

               Chắp tay tâm sáng diệu thường

               Như trăng lồng lộng ngát đường quê xưa (..) “

          Nhà thơ Nguyễn Miên Thượng với “ Trăng Sáng Nghìn Xưa “ gồm  5 khổ thơ mới dã ghi lại ngày lịch sử Phật Đản Sanh bằng tấm lòng ngưỡng vọng tri ân – VHTxin chỉa sẻ cùng Bạn đọc 1 đoạn :

            “ Trăng rực rớ khắp Ca Tỳ La Vệ

               Trời tháng Tư ngào ngạt sắc hương hoa

               Cả trần gian như bừng sáng- chan hòa

               Cung nghinh đón Đấng Thế Tôn thị hiện (..) “

         Trần Ba nhìn ánh trăng Rằm tháng Tư cũng cảm thấy có gì khang khác? Trong màu trăng dường như cũng tỏa hương…

          Trăng Rằm vằng vặc muôn nơi

              Dưới trăng - ta dạo nhớ lời Cha xưa…

              Ánh vàng bàng bạc xa đưa

              Màu trăng Phật đản như vừa ngát hương? “

         Hoa Sen đã được ghi nhận như một biểu tượng thiêng liêng mầu nhiệm từ ngàn xưa để hướng tâm về điều thiện lành tinh khiết. Hướng tâm về Phật.  Hoa Sen Hồng cũng vừa được  Việt Nam chọn làm “ Quốc Hoa “.Trong bài “ Cảm Tác Mùa Sen “ - Trịnh Thị Vui đã bày tỏ :

          Tháng Tư sen nở

               Bừng dậy sắc hương

               Không gian reo hát

               Đón mừng Thế Tôn (…)”

          Với bài thất ngôn bát cú - Sơn Bình chân thành ghi lại xúc cảm về “ Rạng Ánh Hào Quang”   mà chính mình đã cảm nhận được nhân ngày Phật đản sinh :

            “   Lành thay! Phật hiện cõi trần gian

                 Nhân loại nương theo ánh đạo vàng

                 Cứu thế - kim ngôn xua khổ lụy

                 Độ nhân – diệu pháp thoát nguy nàn

                 Đạo mầu dẫn lối qua bờ giác

                 Tà kiến dần xa cõi lụy phiền

                 Đuốc tuệ Như Lai soi khắp nẻo

                 Muôn đời còn rạng ánh hào quang “

         Hoàng Hà với  “ Tháng Tư Hoa Nở “  :

               Hoa Tâm nở ngát vườn hồng

                 Tiếng kinh sưởi ấm bao lòng tháng Tư

                  Cành thương đơm trái nhân từ

                  Long lanh mắt Phật ngọt lừ giọng con “

         Nhà thơ Ngô Cang có được phút giây “ Hành Thiền Dưới Bóng Chùa Quê “ trong ngày Đức Phật đản sinh thật đáng ghi nhớ :

            “ Trước cổng tam quan hoa sen nở

               Thoảng thơm giữa nắng tháng Tư xanh

                Hành thiền theo từng nhịp thở

                Phút giât lắng dọng mãi trong anh

        (…) Ta bước đi “ tâm Phật rộng vô bờ “

                Khi nhìn giọt sương trên đóa sen nở trắng

                Hương thơm sắc thắm

                Giữa ngày Khánh Đản nắng quê hương (..) “

          Từ niềm vui  vô biên  của ngày Đức Phật thị hiện bao tâm hồn đã  nhận được vô lượng pháp nhũ nhiệm mầu để tìm thấy niềm an lạc chứng ngộ tri kiến giải thoát cho cuộc đời khổ đau huyễn mộng của mình. Cấn Sách ( Thích Trung Viện ) đã bày tỏ niềm vui lớn ấy trong bài “ Thong Dong” :

         (..) “ Lỡ chân

                  nghỉ lại Ta bà

                 Tỉnh mơ thức giâc

                  lỡ làng chiêm bao

                  Trời cao

                  vững bước tiêu dao

                  Hướng về quê Phật

                  rạt rào niềm vui (…) “

     Trần Đới với “ Gậy Thiền “ rất ấn tượng :

           “   Gậy thiền

                trên đỉnh

                thong dong

                Bên vành nón

                rạng nắng Xuân

                mới về

                Hoàng y

                từng bước

                đề huề

                Đường mây trắng dựng

                bốn bề hư không (..) “

       Nhà thơ Kiều Trung Phương với “ Rửa “ thật vi tế sâu sắc :

           Quay về

              gội rửa

              thân tâm

              Trong bến đục

              rửa

              mê lầm

              phù hoa

              Soi gương

              ta hỏi chính ta

              Bao mê hoặc

              có thoát ra

              rửa mình ? “

       Nhà thơ Nguyễn Nguyên An với 2 bài tứ tuyệt “ Lành “ & “ Tát “ ngan ngát hương đạo :

            Gắng trồng cây xanh

               Tròn trịa lòng thành

               Chung quy hữu báo

               Dù chỉ mầm xanh “

                &

              “Thời gian sắp cạn

                Nhoảnh lại hư không

                Chắp tay ta tát

                Cạn sạch biển lòng “

       Hòa cùng niềm vui chung ngày Đức Phật đản sanh – Nguyễn Thị Hiệp đã ghi lại cảm nhận về “ những ngày Thầy Thích Tâm Mẫn “ nhất bộ nhất bái” ( tại Quảng ngãi tháng 7 năm Mậu Dần ) với lòng thành kính tri ân :

            “ Bước một bước dần về cõi tịnh

               Lễ một lạy độ tận hằng sa

               Tâm Từ một cõi ta bà

               Nhân gian mát rượi Cà Sa Ánh Vàng (…) “

                        ( Kính Dâng Thầy )

        Vườn Hoa Tâm mùa Phật Đản có được nhiều hương sắc tươi thắm để cúng dường lên Đức Phật Thế Tôn là nhờ vào nhiều bàn tay trí tuệ của nhiều  nhà thơ đạo hữu chung góp. Đây là một mảnh vườn nhỏ xinh xắn . gom góp bao cánh hoa thơ - như những nén tâm hương từ bốn phương   kính dâng mừng ngày Khánh Đản. Người giữ vườn trân trọng cám ơn quý nhà thơ thân hữu đã luôn gắn bó với Vô Ưu - dành cho trang thơ những tác phẩm tâm đắc để Vô Ưu ngày càng xứng đáng với lòng tin yêu của Bạn Đọc…

       Nhân mùa Phật Đản Sinh PL 2555 – chân thành gởi đến quý Đạo hữu quý anh chị em văn nghệ sĩ & gia đình lời cầu chúc : “ Mãi mãi an lảnh trong Tình Yêu Thương Vô Bờ của Chư Phật! “

  Lập Tâm tịnh thất

  Phật đản PL 2555

 Huệ Thành

MANG VIÊN LONG

( Ns Vô Ưu số 44- PĐ PL 2555)

       

More...

THÀNH KÍNH CHIA BUỒN ...Nhiều Tác Giả

By MANG VIÊN LONG

 

           THÀNH KÍNH CHIA BUỒN

 

                          Chúng tôi được tin :

                  Cụ Ông NGUYỄN SĨ TUẤN

 

     Sinh năm 1915 tại thôn Tân Dương xã Nhơn An huyện An Nhơn Bình Định. Là Thầy giáo của nhiều thế hệ từ trước 1975. Là nhà thơ Đường rất tâm huyết với Quê Nhà & Nghề Nghiệp ( bút hiệu Thanh Tình ) & là Thân sinh của chị Nguyễn Duy Khương ( Hiền Nội nhà thơ Đặng Tấn Tới ) – vừa từ giã cõi tạm vào lúc 1 giờ sáng ngày Mồng 9 tha 4 âm lịch ( nhằm ngày 11 th 5 – 2011) tại Thị trấn Bình Định - hưởng thọ 97 tuổi.

      Lễ di quan sẽ được cừ hành vào lúc 12 giờ trưa ngày ngày10 thg 4 amlich ( 12 th5 -2011 ).

     Thay mặt anh chị em thân hữu nhà văn & nhà thơ ở binhdinhquetoi Thành Kính Cầu Chúc Vong Linh Cụ Được Sớm An Lành Nơi Cõi An Lạc!

     Hội VHNT An Nhơn & Anh Chị Em 

Binhdinhquetoi & Quý Đòng Nghiệp... 

 

               CHÂN THÀNH CÁM ƠN

 

         Gia đình chúng tôi chân thành Cám Ơn:

Quý  Thượng Tọa - Đại Đức các  Chùa & Tự viện & Bà Con Nội Ngoại & Sui Gia & Quý Thân Hữu Xóm Giềng & Quý Bạn GV Đồng Nghiệp ( THPT/TP 2/ THCS TT/BĐ..)/ UBND Huyện &  Hội VHNT An Nhơn & Quý Nhà Văn – Nhà Thơ của Binhdinhquetoi - trường ĐH KT/ Đà Nẵng ( Khoa Tài Chính) đã đến phúng điếu & chia buồn cùng gia đình.

        Trong lúc tang gia đang bối rối & đau buồn – có nhiều điều thiếu sót rất mong Quý Vị niệm tình tha thứ…

        Chúng tôi xin thành kính tri ân & và cầu chúc Quý Vị & Gia đinh Thân Tâm Thường Lạc!

 

Thay mặt gia đình:

-Trưởng Nam Nguyễn Thanh Bình & Vợ và Các Con...

- Trưởng Nữ  Nguyễn Thị Duy Hiền & Gia đình...

- Các em : Duy Thuần & Duy Khương& Duy Ninh & Duy Nhân & Duy Đức & Gia đình...

ĐỒNG CẢM TẠ

 1 )   Lúc sinh tiền - Cụ Nguyễn Sĩ Tuấn đã đặt tên các con ( 1 trai & sáu gái)

ghép thành câu thơ : "   Hiền Thuần Nhân Đức Khương Ninh/ Thanh Bình là đạo

nhân sinh muôn đời! "

( 2) Lúc Duy Ninh có chồng ( Trần Hữu Lĩnh ) - Cụ có câu đối ghép tên hai con & bút danh của Cụ & ông Sui  ( nhà thơ Trúc Tiền ) như sau : "  Hẹn nước thề non tình đẹp Lĩnh - Ninh xây mộng gấm/  Mừng dâu vui rể - thơ già Thanh- Trúc điểm mầu xuân "

- Nguyễn Duy Hiền- Chi cả- có câu dối  phúng điếu cho Cha nhân ngày đau buồn như sau ; " ĐỜI KẺ SĨ HÀNH SỬ LỄ NGHĨA NÊU GƯƠNG ĐẠO THÁNH HIÊN/ THÂN TRÍ ĐỨC ĐA MANG TÀI HOA LUYỆN RÈN ĐƯỜNG NHÂN ĐỨC ".

          

 

More...

HẠT BỌT TRÀ Tạp Bút Của Nhà Văn VÕ PHIẾN

By MANG VIÊN LONG

 

HẠT BT TRÀ

Tạp Bút

 

Nhà Văn VÕ PHIẾN

 

  “Dịch thể ngạnh ngọc bào”: tôi lấy làm suy nghĩ về chữ “bào” rất nhiều.

 Ca tụng cái bọt của chất nước ngọc? Trà là nước ngọc? Tốt lắm nhưng còn chút bọt kia nó giữ vai trò gì ở đây? Ai cũng biết trong chén trà Tàu bé bằng hạt mít bậc đài các chỉ thưởng thức cái hương và cái vị của một hớp nước mà thôi. Làm gì có bọt bèo trong đó? Bọt bèo rườm rà cũng không có cả trong chén trà bột của người Nhật. Vả lại dù có dăm ba hạt bọt thì đó đâu phải là một yếu tố làm nên giá trị của trà? Nói đến làm gì?

 “Khát uống trà mai hương ngọt ngọt

Giấc nằm hiên nguyệt gió hiu hiu.”

 Ðó nói như cụ Trạng Trình thế là đúng điệu: Thưởng trà khách tao nhân chú trọng nhất cái hương.

 Còn ham trà đến như ông Lư Ðồng uống trà mà ngon trớn đến như ông ta – làm luôn một hơi bảy chén đến nỗi gió dậy dưới nách ào ào (1) – thế mà Lư Ðồng cũng không một lần đề cập đến bọt trà.

 Có thể ngờ rằng những hạt bọt trong chén trà Tàu đã tan đi từ mười lăm thế kỷ rồi. Các lối uống trà khuấy (mạt trà) thịnh hành ở Nhật Bản hay trà ngâm (diệp trà tiễn trà yêm trà) như ở Trung Hoa từ đời Minh về sau đều không đếm xỉa đến bọt. Họa chăng hạt bọt được quí chuộng vào thời kỳ xa xưa của trà bánh (đoàn trà) nấu với đủ các món gia vị lủng củng nào gừng nào hành nào vỏ quít nào muối đó chăng?

 Dẫu sao một hạt bọt trà dính trong câu thơ Tàu lưu lạc từ hơn nghìn năm xưa quả không đủ sức làm dâng lên sự suy tưởng trong một trí óc nặng nề. Sở dĩ tôi đã đâm ra nghĩ ngợi chỉ vì những hạt bọt nọ còn dính trên mớ râu của một ông cụ người cùng làng cách đây không lâu.

 Trong chỗ dân dã ở thôn quê miền Trung người ta gọi nó là Chè mà không gọi là Trà. Uống Trà Tàu là cái thú của hạng giàu sang; người bình dân thì uống Chè Huế.

 Trà Tàu pha theo lối Tàu. Chè Huế nấu lối Huế. Lối Huế không giống lối nấu chè tươi hay chè khô ngoài Bắc. Từ Huế lần vào các tỉnh nam Trung phần lối nấu chắc chắn cũng có thay đổi ít nhiều; vì vậy các quán nước chè bên đường ngoài Huế thường thấy có một chai nước cốt trữ sẵn món đó không hề có ở vùng Nam Ngãi Bình Phú...

 Trong bếp của mọi gia đình ngoài Trung đều có đủ hai món đồ gốm dùng để nấu nước: cái ấm và cái om. Om dùng cho chè Huế.

 Chiếc om hình thù nó như một trái sim lớn: nó tròn quay và miệng loe ra (như tai sim). Vì om không có quai như ấm như nồi siêu xoong chảo v.v... cho nên để nhắc nó người ta không thể dùng đôi đũa bếp: phải dùng cái cặp.

 Cặp om là một thanh tre cật dài non sải tay uốn cong gập làm đôi vòng cong vừa ôm khít chỗ eo của miệng om.

 Có om có cặp thế là đủ. Bỏ một vốc lá chè khô vào om đổ nước vào nổi lửa lên. Nước sôi sắp trào ra thì lập tức chế thêm tí nước lã vào để trấn nó xuống. Một chốc nó lại sôi bồng lên: lại tí nước lã nữa. Ba bận bốn bận như thế... Cần nhất phải kiên nhẫn: lửa không nên cháy hỗn quá nước chế thêm không nên nhiều quá mỗi lần chút ít thôi. Có thế chè pha ra bát mới tốt bọt được.

 Chè nấu xong đến chuyện pha nước. Bát bày sẵn bên bếp trước tiên cho vào bát độ sáu bảy phần mười nước lạnh. Xong dùng cây cặp nhắc om lên rót nước chè sôi vào bát cho đến đầy.

 A! Cái công việc rót nước ấy là cả một nghệ thuật đấy. Hạ om thấp quá thì bát chè ít bọt: đưa lên cao quá thì sẽ làm nổi lên những quả bong bóng to tướng. Bát nước kém bọt là hỏng đã đành. Mà bọt nổi bong bóng lớn cũng là chuyện vụng về mà người nội trợ tự trọng phải cố tránh. Kẻ pha nước thông thạo biết chọn đúng cao độ cho om nước biết rót xuống một dòng nước vừa phải không nghiêng trút mạnh quá khiến bọt không tụ được lại còn biết di động miệng om để phân phối bọt cho đều khắp biết ngắt dòng nước đúng lúc để rồi rót thêm chỗ này một chút chỗ kia một tí bổ di kịp thời vào những khoảng trống không đẹp mắt v.v... Ðến khi mọi sự đã viên thành kẻ ấy gặc miệng om một cái trước khi ngừng tay biểu diễn sự hài lòng trong cử chỉ chấm dứt.

 Bát nước ngon lành phải thật nhiều bọt đầy bọt bọt hầu như phủ kín mặt nước thứ bọt dẻo quánh lại và nhỏ hạt.

 Pha một bát nước vừa ý rồi mà phải đứa bé bưng nước không cẩn thận cũng đáng bực mình lắm. Bưng bát nước đầy thế nào từ dưới bếp lên đến nhà trên trao cho ông khách mà bọt không sánh ra ngoài mà mặt nước không dao động đến nỗi làm vỡ bọt: được thế mới gọi là không phụ công phu kẻ nấu và pha nước.

Ðến đây đã rõ: Bao nhiêu công phu như đều dồn vào một chủ đích: “... ngạnh ngọc bào”.

 Ông khách đón nhận bát nước bưng trên tay nhìn vào đám bọt tràn trề sung mãn mà không cầm lòng được. Bọt nước long lanh rạng rỡ phản chiếu khuôn mặt khách lặp lại một vạn lần cái rạng rỡ ánh lên trong mắt khách. Nghịch ngợm khiêu khích nhau đến thế thì không chịu được. Khách cúi đầu chọn lựa một điểm thế thích nghi chúm miệng thổi nhẹ để xua đuổi lũ bọt nước tránh giạt ra dọn một khoảng trống vừa đủ chỗ đặt môi. (Dĩ nhiên không một ai tính chuyện đớp mớ bọt nọ vào bụng!)

 Bị đuổi lũ bọt vội vàng vẹt tránh ngay. Nhưng hễ khách vừa nhúng môi xuống thì tất cả bọn chúng liền ập tới bám riết quanh mép. Mực nước càng xuống thấp chúng càng rủ nhau kéo đến dồn dập chen nhau lấn nhau vỡ nổ lèo xèo trên môi trên mép của khách.

 Có thể khách không hay biết về những gì xảy đến cho lũ bọt: Khách đang ngon trớn mà. Và tất cả sự khoái thích của việc uống chè Huế là ở trong cái trớn ấy.

 Bát nước đã có lót đến sáu bảy phần nước lạnh cho nên pha đầy nước dù đang sôi vào nó vẫn không quá nóng. Nó không như chén trà Tàu. Nó chỉ nóng vừa đủ cái độ khiến khách có thể uống ồng ộc một hơi uống luôn không dừng không ngẩng mặt lên không rời môi khỏi miệng bát cho đến cạn bát mới thôi. Mà bát chè Huế thì phải biết nó là những thứ bát khổng lồ. Hồi tiền chiến người ta dùng bát Bài Thơ bát Con Rồng: Một bàn tay xòe rộng chỉ che vừa miệng bát. Trong thời kháng chiến nhiều gia đình thiếu thốn phải dùng đến những cái “vùa” đất: vùa chỉ thua bát ở nước men chứ kích thước không thua sút tí nào. Bởi vậy cái ngon của trà Tàu là cái ngon tiểu vẻ của hạng phong lưu đài các cái ngon cầu kỳ kiểu cách của một chút vị ngọt ở chót lưỡi chút hương thoảng qua mũi v.v...; còn cái ngon của chè Huế thì phàm tục thô bạo hơn nhưng nó là cái ngon khỏe mạnh thích hợp với bản chất nông dân lao động.

 Trà Tàu để nhấp từng tí là thứ trà của sự suy tưởng mơ màng. Còn chè Huế không ai uống nó mà uống từng hớp rời. Ðã tợp vào là cứ thế thừa thắng xông lên ào ào cứ ráo riết dồn dập cho đến cùng.

 Mà đến tận cùng một bát Con Rồng thì bảy chén trà con của Lư Ðồng thấm vào đâu. Khách mà uống xong một bát chè Huế thì – theo ngôn từ nhà thơ Trung Hoa – dưới mỗi bên nách tất phải nổi lồng lên một trận bão. Và – theo cái lối mệnh danh của thời đại – có thể dưới nách bên này là một trận Hélène bên kia là Jackie chẳng hạn.

 Uống chè như vậy đâu đến nỗi vô vị?

 Ở chỗ thôn quê nghèo nàn ngoài Trung trong cái xã hội của hạng sống lam lụ quanh mình tôi chưa được nghe câu chuyện nào liên quan đến cái giới uống trà Tàu. Ðây đó chỉ nghe toàn những giai thoại về chè Huế. Anh Ba Càng Cua mỗi sáng nhất định phải điểm tâm một bát thật đậm rồi mới ra đồng cày bừa được mà hễ đã uống nước rồi là khỏi cần ăn; ông Tư và ông Tam Khoang vẫn cầm cự nhau suốt ba mươi năm nay: ông này mỗi lần hai bát thì ông kia cũng vẫn giữ vững đủ hai bát mỗi lần; ở làng nọ có người uống một lượt đến ba bát Bài Thơ; thôn kia có ông lão hai bát gặp được chàng trai hai bát rưỡi lấy làm khoái gả ngay con gái cưng cho v.v... Lại cũng không hiếm những câu truyền tụng về các bậc dị nhân ở tổng này huyện nọ uống một mạch hoặc bốn bát năm bát nước hoặc cả om nước hoặc nửa vò nước v.v... nhưng tôi ngờ rằng những chuyện đó thuộc về huyền thoại.

 Dầu sao trong thôn dã có huyền thoại về chè om về anh hùng chè lá thì đủ biết om chè đã có địa vị nào đó trong cuộc sống tinh thần của dân gian.

 Riêng đối với ông Tam Khoang nó có vai trò trong cuộc đời tình cảm. Cũng như phần đông các tay cao thủ chè om ông Tam Khoang có vóc người dềnh dàng lực lưỡng. Trong chỗ xa tít nhất của ký ức tôi ông đã có hai chòm râu mép. Ngày nay trên bảy mươi tuổi già ông cụ bạc trắng cả râu mép lẫn râu cằm.

 Hồi tôi còn nhỏ mỗi lần ông đến nhà tôi thường lãnh việc bưng nước để được xem ông uống. Ông thong thả chững chạc trông không có vẻ gì là một người đang khát. Bưng tô nước lên tay bao giờ ông cũng ngừng lại ngắm qua một chút để đánh giá; nếu có đàn bà trong nhà ngồi gần đâu đấy ông không quên bình phẩm vắn tắt vài lời. Rồi thì bắt đầu: từ từ không chút vội vã ông uống cạn một bát bình thản chờ đợi rồi lại uống cạn một bát khác... Khi ông Tam Khoang ngẩng đầu lên lần thứ hai thì rất nhiều bọt trắng đã đeo lấy hai vệt râu mép. Tôi thích chí chỉ chỏ: ông nở một nụ cười hiền lành đưa tay áo quệt ngang một cái rồi dùng hai ngón tay – ngón cái và ngón trỏ – vẹt sửa lại bộ râu.

 Tôi chắc chắn không có một lần uống nào ông không bị lũ bọt chè quấy rầy bộ râu ấy; nhưng cũng không có lần nào đối với chúng ông không có cử chỉ khoan hòa.

 Trước con mắt trẻ thơ của tôi bấy giờ một con người đã thực hiện cái kỳ công là nuốt trọn hai bát nước to tướng như thế với một vẻ vừa đĩnh đạc khả kính lại vừa giản dị khiêm nhường như thế có vẻ đẹp riêng. Tôi ao ước mơ tưởng một ngày nào đó trong đời có thể học được cái phép làm một dị nhân từ tốn độ lượng kiểu ấy để cho lũ bạn bè chúng nó lác mắt ra vừa kinh hãi vừa cảm phục trong lòng. Cho đến ngày nay thì tôi đã chắc chắn đến mười phần là trọn đời mình không sao có được cái phép lạ ấy trong khi ông Tam Khoang vẫn đều đều mỗi ngày tái diễn ba bốn lần.

 Do đó tôi hoàn toàn cảm thông cái tâm sự của bà Tư. Bà có người chồng xuất sắc: ông Tư có tài uống một hơi hai bát chè. Nhưng bà không cầm lòng được trước phong thái của ông Tam Khoang. Từ hơn ba mươi năm trước trong chỗ chòm xóm với nhau người ta thường gặp ông Tam Khoang đến chơi nhà ông Tư chủ khách mỗi đàng hai bát nước xong mặt mày thỏa thuê tươi rạng đàng nào lặng lẽ mân mê ve vuốt râu mép của đàng ấy... Tất nhiên không phải là một cuộc đấu râu. Ðây là sự gặp gỡ của hai kẻ đàn ông nơi lòng mến mộ của một người đàn bà.

 Ðối với mối tình tay ba ấy bà con làng xóm không có lời chỉ trích nghiêm khắc chỉ có những giễu cợt khúc khích. Mối tình cứ thế kéo dài suốt ba bốn chế độ chính trị suốt đôi ba mươi năm ly loạn.

 Cho đến ba năm trước đây thì xảy ra một biến cố: gia đình ông Tam Khoang quyết định tản cư lên tỉnh lỵ gia đình ông Tư ở lại làng.

 Thật là tan tác bi ai. Tuy nhiên rồi sau đó người ta thấy rõ lòng người vẫn thắng nghịch cảnh: đôi ba tháng một lần ông Tam Khoang tìm được dịp về làng ghé chơi nhà ông Tư.

 Ghé chơi ông Tư một mặt công khai chủ khách hể hả uống bốn bát nước chè một mặt kín đáo ông Tam Khoang giúi cho bà Tư hoặc một xấp lãnh nhuộm đen bằng mặc nưa ở biên giới hoặc một cái quần xa-teng Mỹ A v.v... Chỗ tỉnh lỵ coi vậy mà có lắm sáng kiến cung cấp cho ông nhiều lý do chính đáng để ông quyết định những chuyến về làng mạo hiểm. (Phải đã ra tỉnh lại trở về làng là một chuyện nguy hiểm mà đám con cháu ông Tam Khoang tìm mọi cách để can ngăn.)

 Ông Tam Khoang mạo hiểm hơn một năm trời như thế rồi thì rốt cuộc gia đình ông Tư cũng dọn lên tỉnh. Lại đề huề lại sum vầy.

 Ôi cái cảnh sum vầy mới ngộ nghĩnh làm sao. Trong chuyến gặp nhau gần đây nhất tôi được biết bây giờ giữa hai ông cụ có sự khắng khít như chưa bao giờ mật thiết đến thế: không ngày nào ông Tam Khoang không có mặt tại nhà ông Tư đủ hai buổi sớm chiều.

 Có thể giải thích rằng trong cảnh xa lạc xóm làng những cụ già bơ vơ giữa đô thị thường tìm đến nhau như tìm về dĩ vãng của mình. Nhưng lý do cụ thể hơn hết lý do sờ mó được ấy là chiếc om chè.

 Ðúng thế cách đây nửa năm chiếc om nhà ông Tam Khoang bị vỡ và ông không thể tìm mua ở đâu cho được chiếc om khác thay thế. Om đất bây giờ đã biến mất trên thị trường. Om đất đã chết không kèn không trống không một lời báo trước; vì vậy không ai được biết để mà phòng bị tích trữ. Và một người đã uống chè Huế hơn nửa thế kỷ như ông Tam Khoang chẳng lẽ nay lại đi nấu chè trong cái niêu đồng? Vậy sự hiện diện thường trực của ông tại nhà ông Tư là một sự chính đáng.

 Trong những ngày cuối cùng của cuộc sống mặc dù cảnh đời ly loạn hai ông cụ vẫn tiếp tục ngày ngày cúi xuống thổi những tảng bọt ngon lành nổi trên bát nước trao lên từ đôi bàn tay thân yêu nhăn nheo: cứ như thế họ hưởng hạnh phúc. Tôi hỏi thăm:

– Thưa các cụ vẫn uống được hai bát như xưa...

 Hai ông cụ tranh nhau đáp:

– Cám ơn ông Hai. Nhờ trời vẫn đủ hai bát mỗi lần.

 Trên môi ông Tam Khoang nở một nụ cười kín đáo man mác. Tuy vậy người ta cũng nhận thấy về già ông mất đi cái khiêm nhường đáng yêu của một người tự tin: về già – dù kín đáo – ông lại không giấu được một chút kiêu hãnh.

 Sự mất tích của chiếc om đất không chỉ có tác dụng làm khắng khít một mối tình già. Tôi lo rằng sự mất tích ấy cũng có thể gây ra đôi điều không hay.

Không phải các dân tộc nhất thiết phải gìn giữ mãi mãi các phong tục ăn uống. Trong lịch sử người Trung Hoa đã lần lượt trải qua những cách uống trà khác nhau hoàn toàn; có sao đâu? Lại còn nhờ thế mà họ tiến được đến những bình trà Thiết Quan Âm Bạch Mao Hầu v.v... danh tiếng ngày nay chắc chắn là hơn hẳn món trà uống với muối gừng xưa kia.

 Nhưng trong trường hợp của chè Huế dường như đây không phải là một biến chuyển để tiến tới. Trái lại.

Ðất Bình Ðịnh từng ghi được nhiều thành tích về trà. Trong cuốn sách viết về chỗ quê hương thi sĩ Quách Tấn có nói đến thứ khổ trà ở miền An Lão Hoài Ân thứ trà quí được vua chúa thích một thời. Trong đoạn hồi ký về chuyến ghé Nam kỳ năm 1778 một nhà hàng hải người Anh tên Chapman đã chú ý đến ngành buôn bán trà đang hồi cực thịnh tại đây: từ hải cảng Qui Nhơn cho đến hoàng thành của Nguyễn Nhạc dọc đường nơi nào cũng thấy những cửa tiệm bán trà.

Có lẽ cả thứ trà dâng cho vua Nguyễn Gia Miêu cũng như thứ trà thịnh phát dưới triều Nguyễn Tây Sơn đều là trà pha chế lối Tàu. Còn chè Huế sau này thì không còn ai dâng vua cũng không hề được bày bán trong tiệm: người ta chỉ bán chè Huế ở chợ hay bán rong dạo xóm dạo làng...

 Thời của trà vua chúa đã qua đến thời của chè om cho dân dã cũng được chứ sao. Nhưng bây giờ om cặp lại mất tích rồi sắp hóa sinh ra thứ chè gì nữa đây? Cứ sự thể này thì hình như chè om tính đi luôn vào lịch sử không để lại thừa kế không lưu vết tích. Thay thế cho nước chè rồi sẽ có những thứ khác thiếu gì. Các người làm văn hóa dân tộc đang ngậm ống nhựa hút tùn tụt những ly pepsi coca v.v... không thấy đó sao? Thật tốt thật hợp vệ sinh.

 Có điều một người Nhật Bản ông Okakura Kakuzo đã mỉa mai nhẹ nhàng một vị huấn cổ học giả đời Minh bên Tàu khi ông này lúng túng không biết giải thích thế nào về hình dáng chiếc “trà tiễn” được nói đến trong một tác phẩm đời Tống. Sự lúng túng ấy gần mang ý nghĩa sỉ nhục khi một bậc trí thức Trung Hoa quên mất cả phong tục tập quán của dân tộc mình sau một thời gian bị quân Mông Cổ cai trị.

 “Trà tiễn” là món có công dụng rõ rệt mà người đời còn quên nó huống hồ “trà bào”! Thật vậy cái om cái cặp và đặc biệt là cái bọt chè rất có thể là những tai họa cho các vị huấn cổ học giả nước nhà trong tương lai. Năm ba mươi năm sau nói đến sự thích thú trước một bát nước chè đầy bọt thì còn hiểu thế quái nào được? thì các bậc học giả dám ngẩn tò te lắm chứ.

 Trà tiễn để mà khuấy chứ còn bọt chè dùng để làm gì? Không uống được không ngửi được không nếm được v.v... nó thành ra cả một sự bí hiểm một sự thách đố đối với các nhà nghiên cứu. Ẩm giả yêu bọt chỉ vì bọt sao chớ? Cũng như nghệ thuật vị nghệ thuật vậy sao?

 Bởi thế trước khi bọt chè tan vỡ tiêu tùng hết nên có đôi lời ghi chép về chút chuyện bọt bèo.

 VÕ PHIẾN

More...

NIỀM TIN TỎA SÁNG Thơ TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG

By MANG VIÊN LONG

NIỀM TIN SÁNG TỎA

Kính Tưởng Niệm Húy Nhật Năm Thứ Năm Mươi

Của Phụ Thân  :  4-4-1961 - 4-4-2011

 Thơ TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG

 

NĂM MƯƠI NĂM Thấm thoát trôi qua…

“Hình ảnh Từ Thân chẳng nhạt nhòa.

Vẫn sáng lòng con niềm hạnh phúc

Vẫn ngời Hương sắc áng Thi Ca “ (1)

 

Lời vàng khắc đậm trong tâm khảm :

“Sống an vui   tự tại chan hòa “

“Không giận   không hờn   không oán trách “

“Nghĩa ân ghi tạc – đẹp lòng ta “.

 

NĂM MƯƠI NĂM hình bóng yêu thương

Dẫn dắt đời con mỗi chặn đường.

Cuộc sống thăng trầm luôn vững dạ

Không hân hoan cũng chẳng sầu vương.

 

Tất cả nhờ ơn đức Phật Trời

NIỀM TIN SÁNG TỎA chẳng hề vơi.

“Lời xưa di huấn thời son trẻ

Con vẫn mang theo suốt cuộc đời “ (2)

 

“…Sóng vàng quyện ánh sao rơi

Văn Lâu khúc hát trao lời núi sông.

  Dòng Hương Giang nước vẫn trong

Trong xanh như cả tấm lòng Người xưa . (3)

 

            Miền Nam Tháng 2 Tân Mão – Tháng 4 -2011

                               Tôn Nữ Hỷ Khương

 

Chú thích :

(1)    Thơ tưởng niệm húy nhật năm thứ 40 của Phụ Thân

(2)    (2)(3) Thơ tưởng niệm húy nhật năm thứ 12 của Phụ Thân

More...

SUY GẪM VỀ CON ĐƯỜNG Bài Viết Nữ Sĩ TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG

By MANG VIÊN LONG

 Chân Thành Cám Ơn Nữ Sĩ TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG

Đã Gởi Cho Trang Nhà Bài Viết Rất Sâu Sắc & Chí

Tình Về...Tên Một Con Đường Mà Bấy Lâu Ít Có

Ai Quan Tâm...

Xin Rất Đồng Cảm Với Chị & Và Xin Phép Được Chia

Sẻ Cùng Bạn Đọc...

MVL

SUY NGẪM VỀ CON ĐƯỜNG

MANG TÊN MỘT VỊ VUA YÊU NƯỚC

 

Bài Viết TÔN NỮ HỶ KHƯƠNG

 

 

    

Trước năm 1975 đường Duy Tân bắt đầu từ đường Hiền Vương dẫn đến nhà thờ Đức Bà đường Thống nhất.

Sau năm 1975 đường Duy Tân được đổi tên là Phạm Ngọc Thạch. Bắt đầu từ đường Võ Thị Sáu đến đường Lê Duẫn.

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch là anh em cô cậu ruột với tôi. Anh Thạch gọi cha tôi bằng cậu ruột. Bà nội tôi có 4 người con trai và 1 người con gái duy nhất là mẹ anh Thạch tên Công Tôn Nữ Chánh Tín vợ của nhà giáo Phạm Ngọc Thọ ở Phan Thiết mà tôi thường gọi là dượng Đốc Thọ.

Anh Thạch có một người vợ là người Pháp. Hồi tôi còn rất nhỏ nhưng vẫn nhớ như in là mỗi lần giỗ   tết ở nhà cha tôi   vợ chồng anh Thạch đều có tham dự. Chúng tôi cứ chạy theo nhìn “Bà Đầm” (vợ anh Thạch).

Theo tôi biết cha tôi rất quí anh Thạch   thường ca ngợi tài năng đức độ của anh. Cha tôi vẫn nói: “Đi làm cách mạng như Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch mới đúng nghĩa. Bỏ hết bỏ tất cả bỏ cả gia tài sự nghiệp vợ đẹp con thơ…mà ngày ấy Bác sĩ chỉ đếm trên đầu ngón tay vô cùng quí hiếm”.

Anh Thạch cũng rất quí mến cha tôi hai cậu cháu cũng rất gần gũi. Cha tôi có nói cho tôi biết là: “Anh Thạch rất kính phục vua Duy Tân”. Vì thế khi bỏ con đường Duy Tân để đặt tên anh tôi thầm nghĩ có lẽ hương hồn anh cũng không được vui!.

Thuở trước ờ Sài Gòn có con đường của một danh nhân thì vùng Gia Định cũng có. Vì thế lại còn thêm một con đường Duy Tân nữa mà đến ngày nay vẫn còn. Trước kia con đường này từ đường cách mạng 1 tháng 11 đến Nguyễn Huỳnh Đức. Sau này là từ đường Nguyễn Văn Trỗi đến đường Huỳnh Văn Bánh quận Phú Nhuận. Một con đường nhỏ nay đã hư hỏng lại thêm người dân ở đó buôn bán bày ra đường nhếch nhác trông rất thê thảm.

Một buổi chiều tôi có dịp đi ngang qua nước mắt tôi cứ ứa ra từ đầu đường đến cuối đường. Tôi thầm đọc mấy câu thơ tôi đã viết trong bài “Trở Về” khi thăm lại ngôi nhà của cha tôi tại Vỹ Dạ Huế:

 

“…Có nghe mắt đọng sầu vương

Có nghe nỗi nhớ niềm thương dạt dào…

Chiều lên giữa giấc chiêm bao

Bâng khuâng mây trắng trôi vào hư vô…”

 

Và lúc này tôi cũng không thể quên câu hò đã đi vào dân gian gần thế kỷ nay cha tôi đã viết về vua Duy Tân mà tôi đã hò không biết bao nhiêu lần hầu cha tôi nghe khi người còn sinh tiền…Cũng như tôi đã nhiều lần ghi âm vào các băng dĩa hay những dịp kỷ niệm về cha tôi. Tôi cũng đã có dịp hò câu hò này với tiếng đàn phụ họa của Giáo sư Tiến sĩ Trần Văn Khê rất nhiều lần ở trong nước và cả lúc ra nước ngoài. Khi Giáo sư Tiến sĩ Thái Kim Lan mời qua diễn tuồng Lộ Địch của cha tôi ở Đức sau đó qua Pháp năm 2002. Chúng tôi cùng đi với đoàn tuồng Đào Tấn Bình Định. Biết bao kỷ niệm êm đềm và sâu sắc ở trong tôi.

Bài “Chữ Ai Trong Câu Hò” tôi đã ghi lại trong cuốn “Hồi Ức Về Cha Tôi: Ưng Bình Thúc Giạ Thị” xuất bản năm 1996 tái bản lần thứ nhất 2002. Sài Gòn Media sắp tái bản lần thứ hai nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất Ưng Bình Thúc Giạ Thị: 1961-2011.

Trong bài này đã nói rất rõ sự tích về câu hò:

 

“Chiều chiều trước Bến Văn Lâu

Ai ngồi Ai câu Ai sầu Ai thảm

Ai thương Ai cảm Ai nhớ Ai trông.

Thuyền Ai thấp thoáng bên sông

Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

 

Miền Nam tháng 4 năm 2011

Tôn Nữ Hỷ Khương

More...

GIỚI THIỆU TẬP TRUYÊN " NHỮNG KẺ TỰ PHONG " Của TRẦN MINH NGUYỆT

By MANG VIÊN LONG

           

           HÂN HẠNH GIỚITHIỆU

TẬP TRUYỆN ĐẦU TAY CỦA CÂY BÚT TRẺ

         NHỮNG KẺ TỰ PHONG

           TRẦN MINH NGUYỆT

           Nhà Xuất Bản THANH NIÊN

Gồm 20 truyện ngắn tiêu biểu & sách dày 160 trang

     ĐÃ PHÁT HÀNH CUỐI THÁNG  4 - 2011

 

      MỘT PHONG CÁCH RIÊNG

      TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN MINH NGUYỆT

        &Bài Viết : Mang Viên Long

 

         Tôi làm quen với truyện ngắn của Trần Minh Nguyệt khoảng gần một năm nay trên các trang Website-Blogs : vanchuongviet.org   newvietart.com. hoadongphương vanthoviet.com Vandanviet.net binhdinhquetoi datdung cuongdequinhon và ngay cả trên blogs cá nhân của Trần Minh Nguyệt ; nhưng qua mỗi truyện Trần Minh Nguyệt đều đã để lại trong tôi một dấu ấn rất đặc biệt - thể hiện rõ dược một khuynh hướng và quan điểm sáng tác rất riêng - về nội dung cũng như về kỹ thuật dẫn truyện. Tôi nghĩ đây là một “ phong cách” rất cần cho mỗi người cầm bút bởi lẽ nó cho thấy được con đường lâu dài mà tác giả sẽ dấn thân cũng như  tạo dược cá tính đặc biệt qua tác phẩm khiến người đọc không thể lẫn lộn trong cái chung của “ khu rừng” truyện ngắn…

        Phong cách riêng của mỗi tác giả cho thấy được tính sáng tạo mối quan tâm cũng như sự khát khao vươn đến mà người viết luôn gởi gắm qua từng trang viết của mình. Viết-mà không có “ cái riêng” theo tôi-đó là con đường dẫn vào ngõ cụt. Nó không thể hiện chất sáng tạo luôn luôn cần có trong mọi lãnh vực nghệ thuật. Và dĩ nhiên- nó sẽ bị “ đồng hóa” với cái chung hay bị nhạt mờ bởi  không tạo được ấn tượng gì sau  mỗi câu truyện.( hay tác phẩm nghệ thuật). Dù là một cây bút còn rất trẻ Trần Minh Nguyệt chỉ mới xuất hiện với gần 40 truyện ngắn được giới thiệu-nhưng những bước khởi đầu của Trần Minh Nguyệt cho thấy rõ một thái độ đúng đắn của người cầm bút trước đời sống một tấm chân tình rộng mở với cuộc đời và một trách nhiệm cần có của những trang viết gởi đến người đọc.

         Qua 20 truyện ngắn dược giới thiệu trong tác phẩm đầu tay-NHỮNG KẺ TỰ PHONG Trần Minh Nguyệt không chọn cách viết “ hấp dẫn nhất thời” về các vấn đề “ nóng” của Tình Yêu ( như bao người viết trẻ khác muốn “ đi tắt” vào văn học bằng nhiều con đường lắt léo!)) – nhưng Trần Minh Nguyệt rất bình tĩnh và khẻ khàng bước vào Tình Yêu muôn thuở với khát vọng thiêng liêng của đời người.( Mơ Ước Một Mùa Xuân / Nhật Ký Một Đời Người/ Lặng Lẽ Một Tình Yêu/ Hạnh Phúc Tình Cờ/ Thì Thầm Với Mình Trong Đêm…). Với Cuộc Sống bộn bề phiền nhiễu khổ đau- Trần Minh Nguyệt  cũng không bao giờ ôm đồm để cập đến những điều quá to tát xa vời mà  tỉnh táo “ chọn ra” những cảnh đời nhỏ bé tối tăm-bất hạnh-để chỉ rõ nhắc nhở ( và nói hộ) rằng hạnh phúc cho đời người là rất đơn giản và gần gũi. ( Niềm Tin Yêu Còn Lại/ Trôi Theo Dòng Đời/ Bây Giờ Xuân Mới Đến/ Chị Em Bé Trúc/ Mẹ Ơi! Con Xin Lỗi/ Xa Rồi Nỗi Ám Ảnh Một Đời). Với Thực Trạng Xã Hội-Trần Minh Nguyệt cũng đã nhạy bén bày tỏ thái độ phản kháng cần có của người cầm bút chân chính- cũng như sự kỳ vọng đổi thay rất trung thực nhẹ nhàng-nhưng vô cùng sâu sắc( Giá Như Ngày Ấy/ Những Kẻ Tự Phong/ Nỗi Buồn Không Tên Gọi/ /Còn Nỗi Buồn Đau Nào Hơn/ / Ngoài Kia Trời Đã Sáng/ Trôi Theo Dòng Đời).   Nhân sinh quan của Trần Minh Nguyệt thể hiện rất rõ trong từng câu chuyện kể-đó một tâm hồn luôn hướng Thiện khao khát thương yêu và nỗi cô đơn muôn thuở của kiếp người!

        Với một quan điểm sáng tác trong sáng tâm huyết như vậy-nên hầu hết các tác phẩm của Trần Minh Nguyệt đều có tính giáo dục và nhân văn  rất cao rất sâu sắc tạo được sư đồng cảm và ấn tượng sâu đậm lâu dài trong lòng người dọc.

        Bên cạnh sự nhạy cảm cao độ về các “ vấn nạn” của gia đình tình yêu và cuộc sống dược chọn lọc đưa vào truyện để bày tỏ thái độ- Trần Minh Nguyệt có một “ cấu trúc’ truỵện rất đặc biệt để dẫn dắt người đọc thích thú đi dần vào “ tâm điểm” của vấn đề  cho đến  phần kết của mỗi câu chuyện kể- và điều “ bất ngờ thông minh” này luôn là chiếc chìa khóa mở ra cho người đọc một hướng nhìn giải tỏa được bao nỗi suy tư thắc mắc và đó cũng là thái độ tế nhị sau cùng  của người viết trước vấn đề đã để cập. Trần Minh Nguyệt đã vận dụng cách diễn đạt ( kỹ thuật) cho từng câu chuyện từng vấn đề một cách logic nhất để nói được càng nhiều càng tốt nhận định của mình trước mọi trường hợp đã/ đang xảy ra trong đời sống thường nhật.  Cách giải quyết “ vấn đề” trong “ Ngoài Kia Trời Đã Sáng”- tưởng như mọi chuyện sẽ đi vào ngõ cụt bi thảm-nhưng Quyên đã lặn lội băng rừng lên tìm người chị cùng dòng máu là Mai-đã cho Mai niềm hy vọng rất lớn của đời mình cũng như ngầm nói rõ-dầu bị bỏ rơi khổ đau bất hạnh-nhưng nhân cách của Mai luôn rực sáng trước cuộc sống. Sự có mặt đột ngột của Quyên trong một đêm mua gió Cao nguyên đã đem lai cho hai cảnh đời tưởng sẽ bị tàn úa trong tuyệt vọng đã nhìn thấy “ Ngoài Kia Trời Đã Sáng”. Người đọc có thể sẽ bắt gặp rất nhiều “ ngẫu hứng sáng tạo thông minh” trong các truyện ngắn của Trần Minh Nguyệt.( về câu truyện/ cũng như cách dẫn truyện) Trong  truyện “ Tuần Lễ Một Đời Người”-tính biều tượng là rất lớn Các truyện. “ Giá Như Ngày Ấy/ Những Kẻ Tự Phong “là sự phản kháng rất tích cực đối với những  thoái hóa suy đồi của nhiều trường hợp đã- đang xảy ra bên cuộc sống của chúng ta hôm nay   Nếu mong chờ ở truyện của Trần Minh Nguyệt những “ vấn đề to tát” giật gân hay hấp dẫn theo kiểu “ gắng gượng làm mới chạy theo thị hiếu ” thì sẽ chẳng bao giờ tìm thấy!  Nếu mong chờ ở người viết những lời lẽ “ đao to-búa lớn –đỏm dáng” thì cũng không thể .Chẳng hạn trong “ Nỗi Buồn Không Tên Gọi”-câu chuyện chỉ ở trong một ngôi truờng THPT miền quê-thậm chí chỉ ở trong một cuộc họp tổ chuyên môn với vài nhân vật nhưng đó là một “ vết đen” đang lan dần trong vấn đề giáo dục nó là “ hình ảnh thu nhỏ” của một nền giáo dục chuộng thành tích cửa quyền còn nhiều lổ hổng cần phải lấp kín khắc phục lâu dài. Qua câu truyện tác giả đã đề cao tình đồng nghiệp thâm tình cần có cho người làm thiên chức “ trồng người” và xem thường những hình thức vô ích cho chính mình và cho ngành giáo dục nữa! .“ Chuỵện Làng Tôi/ Làng Những Người ĐộcThân “ là những bức tranh chấm phá phác họa rất sâu sắc về cuộc sống  muôn màu quanh ta đôi khi vì cuộc sống quá vội vã mà chúng ta đã không để ý đến…

           Rất thiếu sót nếu không đề cập đến nguồn tư tưởng  căn bản luôn tìm ẩn trong hầu hết những câu truyện của Trần Minh Nguyệt-nó đã chi phối không nhỏ ( nếu không muốn nói  gần như là hoàn toàn)-đó là triết lý sống của Đạo Phật. Trần Minh Nguyệt còn chịu ảnh hưởng rất sâm đậm của hai luồng tư tưởng  Khổng và Lão giáo. Ba luồng tư tưởng này-cũng là nguồn gốc của truyền thống văn hóa dân tộc đã được bao thế hệ dày công vun đắp-mà ngày nay lại đang đứng trước sự lãng quên hay bị coi thường ( ! ). Nghệ thuật là phải biến chuyển luôn khám phá cái mới nhưng không thể mù quáng ( hay điên rồ? ) phá bỏ những giá trị vĩnh cửu ngàn đời của Con Người chỉ vì sự háo danh nhất thời (một cách vô trách nhiệm) trước sự sinh tồn của văn hóa nhân loại… Từ những câu chuyện nhỏ của đời thường-trong tình yêu trong gia đình trong một ngôi truờng trong một ngôi làng(…); cho đến những vấn nạn lớn  nóng bỏng của đời sống của xã hội-của cả một thế hệ đã được Trần Minh Nguyệt ghi lại dàn trải tâm sự nhắc kể  rất nhẹ nhàng thâm trầm cho tất cả chúng ta bằng một giọng văn trong sáng chân tình-của một người cầm bút trẻ có ý thức …

       Người xưa có nói đến mục đích cao đẹp của văn chương là “ văn dĩ tải Đạo”-trong hai mươi câu chuyện Trần Minh Nguyệt giới thiệu trong tập truyện đầu tay hôm nay-chữ “Đạo” đã được bàng bạc trong hầu hết các câu chuyện ấy. Nhưng  “ Đạo “ phải được hiểu rộng hơn sâu hơn-đó chính  là tính nhân văn cao cả là giá trị đích thực của cuộc sống là tinh hoa của triết lý sống hiện đại để hướng đến một đời sống An Lạc Hạnh Phúc-cho chính bản thân ta và cho mọi người!

        Tập truyện là một bức thông điệp thiết tha kêu gọi sự cảm thông sự mở rộng  gắn bó giữa Người với Người-để Tinh Thương Yêu ngày càng nẩy nở  xanh mầm tuơi đẹp trong cuộc sống vốn dĩ rẫy đầy ưu phiền và hữu hạn…

            Truyện Ngắn Trần Minh Nguyệt đã và đang làm công việc “ đào giếng bằng cây kim” ( tục ngữ Ai cập)-để từng bước khơi dậy Tinh Yêu Thương cho cuộc sống đang bị nguy cơ hủy diệt trong thời đại tôn sùng kỹ thuật và giá trị vật chất mà chẳng mấy quan tâm tới những giá trị tâm linh thiêng liêng của đời Người…

 Tháng 12/2010

MANG VIÊN LONG

More...

QUAN ÂM CHỈ LỘ Truyện Ngắn NGUYỄN HUY THIỆP (Tiếp theo)

By MANG VIÊN LONG

QUAN ÂM CHỈ LỘ

( Tiếp theo & Hết )

Truyện Ngắn

NGUYỄN HUY THIỆP

 

Sáng mồng 2 Tết chị Hỷ tống cổ cháu Yên mua vé tàu hoả bắt nó trở về Hà Nội. Những ngày nghỉ Tết còn lại trở nên khó chịu vô cùng. Ngày mồng 4 Tết anh Lai họp mọi người trong nhà quyết định trở về Hà Nội sớm hơn dự định. Chị Hỷ thu xếp đồ đạc sai cháu Quang đi thuê xe ô tô chở chúng tôi về Hà Nội ngay ngày hôm ấy.

  Anh Lai gọi tôi vào phòng đóng cửa lại bảo tôi:

- Gia đình tôi thật có lỗi với chú. Sự việc xảy ra thật không hay. Pho tượng quý bị mất tôi rất ân hận. Gia đình tôi tự thấy phải có trách nhiệm bồi thường cho chú...

Anh Lai lấy tiền ra bảo tôi:

- Đây là 1 nghìn đô-la. Số tiền này không phải là số tiền đánh giá giá trị pho tượng. Nó có thể hơn thế cũng có thể nó không bằng thế... Chú hiểu cho tôi đây chỉ là một số tiền mọn nhỏ nhoi giải quyết một sự kiện mọn không ra gì. Thực khốn nạn tôi không biết chứng minh danh dự của gia đình tôi bằng cách thế nào với chú. Khi phải dùng hạ sách này chính tôi tôi cũng rất nhục. Chú hiểu cho tôi từ xưa đến nay tôi vốn là người dứt khoát rạch ròi chính trực.

Tôi bảo anh Lai rằng anh không nên làm thế rằng pho tượng này chỉ là quà tặng mà thôi rằng tôi có được cơ duyên làm bạn với gia đình anh thì không nên chỉ vì một chuyện nhỏ con mà làm phương hại tình cảm với nhau rằng...

Anh Lai cố ép nhưng tôi không nhận. Chúng tôi cãi nhau. Cuối cùng tôi nói thực ra cũng vì quá bực mình với thái độ kiên quyết cố chấp của anh:

- Thế anh có bao giờ nghĩ rằng chính tôi giấu đi pho tượng này không? Có thể vì mục đích này hay mục đích khác?

Anh Lai cười nhạt ngồi xuống ghế lắc đầu:

- Thực ra cũng có lúc tôi đã nghĩ thế. Xin lỗi chú tôi cũng đã bí mật lục soát đồ đạc của chú. Do nghề nghiệp tôi đã phải tiếp xúc làm việc với đủ hạng người xem xét cả khía cạnh cao thượng lẫn lưu manh trong con người họ không trừ ai hết kể cả người thân. Không phải tôi không tin con người không phải tôi không nhân văn chú đừng đánh giá tôi thấp rằng tôi là kẻ lạnh lùng. Có những công việc không nên để cho cảm tính dự vào. Thú thực với chú không một hạng người nào mà qua được mắt của tôi tôi không đảm bảo 100% nhưng tới 90% thì tôi chắc chắn rằng tôi hiểu được họ và tôi kiểm soát được họ trừ một loại người... Chú có biết không chính là nhà văn chính là những người như chú...

Tôi lặng người đi bỗng nhiên thấy trong lòng mình đắng ngắt. Anh Lai đi đi lại lại trong phòng. Anh nói với tôi:

- Tôi không hiểu nổi một người viết văn như chú. Chú là ai? Tại sao chú lại viết ra những thứ làm cho mọi người dằn vặt lòng mình? Chú có quyền gì? Ai trao cho chú cái quyền năng ấy? Tư cách của chú tôi gạt sang bên. Tôi không hiểu sao mọi người vì nể một người như chú? Ở chú có phẩm chất gì? Cao thượng ư? Không phải! Nghiêm cẩn ư? Cũng không phải nốt... Tôi chỉ nhận ra ở chú dục vọng hão huyền và khả năng đánh thức cái dục vọng hão huyền ghê gớm ấy ở mỗi một người? Điều ấy là tốt ư? Không phải! Xấu ư? Không phải! Từ bản chất tôi vừa căm ghét vừa sợ hãi cảm phục những người như chú. Chú có hiểu không?

Tôi ngạc nhiên nhìn anh Lai. Hoá ra chuyến đi của tôi và gia đình anh chỉ là cái cớ để anh tìm hiểu về tôi. Tôi bật cười hoàn toàn bất ngờ vì sự trớ trêu trong hoàn cảnh đó của mình.

Tôi dứt khoát không nhận số tiền anh Lai đưa cho. Tôi có những nguyên tắc lương tâm của tôi. Tôi nói với anh rằng thực ra số tiền này phải thuộc về người đàn ông người Mông nghiện ngập mà tôi ngẫu nhiên gặp gỡ chính tôi cũng chẳng biết tên tuổi ông ta là gì. Nếu có số tiền ấy ông ta cũng chỉ dùng để hút thuốc phiện mà thôi nó cũng chẳng giúp cho ông ta cải thiện thêm gì số phận tồi tệ của mình. Câu chuyện về bức tượng “Quan Âm chỉ lộ” tốt nhất là nên chấm dứt ở đây. Tôi hy vọng tình cảm của tôi với gia đình anh không phải chỉ vì một chuyện nhỏ nhoi thế này mà sứt mẻ.

  Chúng tôi về Hà Nội. Thời gian trôi đi. Tôi cũng nghĩ rằng câu chuyện không vui trong dịp Tết năm ấy rồi cũng rơi vào quên lãng chẳng còn ai nhớ. Sáu tháng sau tôi được biết anh Lai đã đi nhận công tác mới cháu Quang cũng sang bên Mỹ làm việc cháu Vân thì đi học đại học ở Anh. Một hôm chị Hỷ đến nhà tôi chơi. Tôi rất ngạc nhiên thấy chị mang đến bức tượng “Quan Âm chỉ lộ”. Chị nói:

- Tôi đã tra hỏi con bé "ô-sin". Tôi đã không nhầm. Nó là thủ phạm của vụ trộm này. Chú có biết không hạng người như nó thì có dạy dỗ thế nào vẫn thế... Tôi đã đuổi việc nó rồi!

  Tôi mời chị Hỷ ở lại ăn cơm nhưng chị từ chối nói là rất bận. Tôi ngồi một mình buồn bã nâng bức tượng lên tay xem xét. Hình ảnh cô gái bé nhỏ âm thầm quỳ trước bàn thờ Chúa cầu nguyện hôm nào trong ngôi nhà thờ ở Sa Pa hiện ra ở trước mắt tôi. Tội nghiệp cho nó. Tôi không tin nó là thủ phạm. Ở bên ngoài những chiếc lá của cây báng súng rơi lả tả trên nền sân đá.

  Chị Hỷ ra về. Tôi cẩn thận đặt bức tượng Phật lên trên bàn thờ. Trên khuôn mặt Quan Thế Âm Bồ tát hình như có một giọt nước mắt trong veo lăn xuống khóc cho số phận trớ trêu của mỗi con người.

Chắc chắn là tôi sẽ còn quay trở lại Sa Pa. Phải trở lại chứ! Vì sao ư? Vì Sa Pa là mảnh đất tình yêu mảnh đất giữ người!

Trên đất nước mình đâu đâu chẳng là mảnh đất tình yêu mảnh đất giữ người? Hãy làm cho mảnh đất này ngày càng phì nhiêu tươi đẹp. Tôi nghĩ thế chân thành nghĩ thế.

Vậy còn bạn bạn nghĩ thế không?

Kìa Xuân đang về. Lại một cái Tết đi qua. Hãy lắng nghe âm thanh trong lòng. Phải sống! Phải sống cho ra giá trị cuộc sống con người dù cho thế nào đi nữa...

(NHT)

More...

QUAN ÂM CHỈ LỘ Truyện Ngắn NGUYỄN HUY THIỆP

By MANG VIÊN LONG



QUAN ÂM CHỈ LỘ

 

Truyện Ngắn

 

Nguyễn Huy Thip

 

 

  

Ngôi trường vùng cao ở lưng chừng đồi đơn sơ một ngôi nhà gianh vách đất một nửa là lớp học một nửa là chỗ ở của hai cô giáo Thu và Kiểm. Lớp học thường xuyên xê dịch có từ 7 đến 20 học sinh của năm dân tộc là Mông Thái Nhắng Dao và Lô Lô.

  Hai cô giáo Thu và Kiểm đều quê ở Tiền Hải Thái Bình bố mẹ là dân chài vùng biển. Hai cô học hết cấp 2 phổ thông trung học thì đi học một lớp sư phạm nâng cao hai năm. Tốt nghiệp ra trường Đoàn thanh niên có phong trào “thắp lửa ánh sáng vùng cao” họ ghi tên tham gia và mười ngày sau họ có mặt ở ngôi trường này.

Ai lên Sa Pa nếu đến nơi xa nhất thì phải đến bản Suối Thầu. Từ chợ Sa Pa đến đây tròn 70 cây số. Người Mông người Dao giỏi đi bộ thì mỗi ngày đi được 20 cây. Thu và Kiểm vẫn thường xuyên đi lại trên tuyến đường này. Ngôi trường của họ ở nơi hẻo lánh nhất của vùng đất du lịch không thể nói là không phù hoa đó. Ôi Sa Pa Sa Pa... Mảnh đất tình yêu! Mảnh đất giữ người!

 Tết năm ngoái tôi có dịp lên Sa Pa theo lời mời của gia đình một người bạn. Anh Lai Vụ trưởng một Vụ chuẩn bị đi làm đại sứ một nước ở châu Âu quyết định không ăn Tết ở Thủ đô mà đưa cả nhà đi du lịch. Họ sẽ ăn Tết ở Sa Pa. Tôi được mời đi theo “tháp tùng”. Mấy năm gần đây hội “tay to” ở Hà Nội có “mốt” không ăn Tết ở nhà mà đóng cửa đi dã ngoại để đổi không khí cũng tránh cả việc người ta đến lễ lạt nhờ vả nhiêu khê... Tiền nhiều chẳng làm gì. Chất lượng cuộc sống trên hết. Sống vẻ vang chết nhẹ nhàng... Những triết lý như thế gần đây tôi được nghe nhiều ở các quan chức và giới doanh nhân thành đạt. Cũng là một “mốt”...

Chị Hỷ vợ anh Lai (xuất thân thợ dệt) tính rất chu đáo đã mua vé tàu hoả thuê nhà chuẩn bị thức ăn chu đáo cho 10 ngày nghỉ Tết mọi người chẳng ai phải mó tay vào.

- Không thiếu thứ gì! – Chị Hỷ vui vẻ bảo tôi – Chú sẽ được ăn Tết như ở nhà mình.

Gia đình anh Lai có năm người: hai vợ chồng anh cháu Quang đang du học ở Mỹ (đại học Duke) về nghỉ Tết cháu Vân đang học lớp 12 trường Chu Văn An Hà Nội và Yên cô "ô-sin" người vùng đạo gốc Bùi Chu.

- Chú là nhà văn danh tiếng nhưng nghèo – Anh Lai bảo tôi – Nghề của chú chẳng phải là nghề. Đó là nghiệp chướng. Đọc đi viết là ba công đoạn mà tay nhà văn nào không làm được thì đừng nói gì đến có tác phẩm. Không đọc không đi thì viết thế nào? Nhưng không có tiền thì chịu. Chuyến đi Sa Pa này vợ chồng tôi “bao” hết chỉ mong chú viết được cái gì hay hay đóng góp cho đời. Vợ chồng tôi chọn Sa Pa cũng là vì chú! Ngày xưa Khổng Tử du ngoạn Thái Sơn có nói được câu chí lý: “Người nhân từ yêu núi người có chí yêu nước”. Nhà văn phải là người nhân từ phải là người nhân nghĩa nhân văn...

Tôi nghe. Tôi đi cũng là vì nể anh Lai. Nhân từ gì tôi không biết ngày trẻ tôi đã ở miền núi Tây Bắc 10 năm miền núi tôi chẳng lạ gì. Nhưng thôi một chuyến đi du lịch một cái Tết xa nhà cũng tốt cho tôi: ở nhà toàn khuôn mặt cũ những đứa con tôi đã lớn chúng không cần tôi nữa tôi và danh tiếng hão của tôi đã là gánh nặng cho cả gia đình...

Chúng tôi lên Sa Pa vào 25 Tết. Chị Hỷ thuê một biệt thự riêng. Mọi người ai nấy đều như chim sổ lồng: anh Lai đi thăm vùng trồng hoa với bạn học cũ là phó chủ tịch thị xã cháu Quang và cháu Vân đi Thác Bạc – Cổng Trời cô "ô-sin" đi lễ nhà thờ rồi đi chợ chị Hỷ ở nhà “giữ gôn”. Còn tôi số phận run rủi ma xui quỷ khiến thế nào mà tôi lại đến ngôi trường của hai cô giáo Thu và Kiểm.

 Ở Sa Pa có một cửa hàng bán đồ cổ nhỏ. Chủ ở đây nghe nói là một người Nhắng giàu có. Tôi rất thích vài thứ bày ở đây nhưng giá của nó khá đắt. Thấy tôi loay hoay mãi bên cửa hàng một anh chàng lái xe ôm gạ tôi:

- Nếu ông thích mấy thứ này tôi đưa ông vào bản Tả Van hay vào Bản Hồ ở đấy có thể có người còn có nhiều thứ hay.

Tôi lưỡng lự. Anh ta nói thêm:

- Càng đi xa càng nhiều thứ quý.

Tôi hỏi:

- Ở Sa Pa nơi xa nhất là đâu?

- Suối Thầu.

- Đi có khó không?

- Cũng không khó lắm.

Tôi xem đồng hồ thấy còn sớm bèn quyết định đi chơi xa một chuyến. Anh lái xe bảo tôi:

- Chắc ông sẽ không thất vọng vì chuyến đi này.

  Tôi ngồi lên xe. Chiếc xe “Min-khơ” dã chiến phóng nhanh như gió. Rừng núi đại ngàn trùng điệp mở ra trước mắt. Tôi chưa bao giờ đi một cuốc xe kinh hoàng như thế. Một bên là vực sâu một bên là núi cao. Thỉnh thoảng một trận mưa địa hình đột ngột trút xuống. Gió lồng lộng thổi. Tôi đã có thâm niên ở miền núi nhiều năm nhưng quang cảnh hùng tráng thế này thì không phải miền núi nào cũng có. Những viên sỏi bắn vào hai bên lốp xe rào rào. Anh lái xe ôm chắc đã quen đưa khách đi du lịch phiêu lưu thế này chỉ chăm chú nhìn về phía trước tôi nghĩ nếu tôi ngã xe có khi anh ta cũng chẳng biết gì.

Đường vào Suối Thầu đi xe máy cũng hơn 5 tiếng đồng hồ. Anh lái xe ôm bảo tôi:

- Theo tôi tốt nhất là ông nên nghỉ lại đây đêm nay. Tôi có thể chỉ cho ông vài nơi nghỉ trọ. Bọn Tây du lịch cũng hay làm thế. Bọn “gai” (tour – guide: hướng dẫn viên du lịch) người Mông vẫn dẫn họ vào đây như cơm bữa. Giá nghỉ trọ ở đây cũng mềm chỉ khoảng độ 10 đồng bạc là cùng.

Tôi nghe lời chỉ dẫn của người lái xe ôm. Anh ta dẫn tôi vào trong ngôi trường học mà tôi đã kể ở đầu câu chuyện. Hai cô giáo rụt rè ra đón vẻ rất băn khoăn. Tôi tự giới thiệu về mình. Cô giáo thấp lùn có khuôn mặt vuông vức tên là Kiểm mắt sáng lên:

- Em đã từng nghe đến tên ông. Nếu ông đúng là nhà văn thì em cho trọ.

Cô giáo người gày gò trắng trẻo tên là Thu hỏi anh lái xe ôm:

- Anh về Sa Pa hay cũng nghỉ lại?

Anh này trả lời:

- Tôi về thôi. Mai lại vào. Ông nhà văn này muốn tìm đồ cổ có gì nhờ hai cô giáo tìm giúp.

  Họ chia tay nhau. Hai cô giáo dẫn tôi vào lớp học ở đấy đang có một cô bé người Mông ngồi tập viết chữ. Hai cô giáo loay hoay kê những chiếc ghế băng sát lại sau đó họ mang đệm và chăn bông vào. Ngay lập tức tôi đã có một chiếc giường ngủ hảo hạng. Tôi lấy điện thoại di động gọi về Sa Pa anh Lai và chị Hỷ trách tôi nhưng hai cháu Quang và Vân thì thích hứa có thể sẽ vào Suối Thầu với tôi.

  Đêm hôm đó bên bếp lửa tôi được nghe hai cô giáo Thu và Kiểm kể về cuộc đời của họ.

- Thế hai cô ở đây được mấy năm rồi?

- Được 6 năm.

- Thế Tết này các cô có về quê ăn Tết hay không?

Cô Kiểm thở dài:

- Cái Thu thì 27 Tết mới về. Còn em... Tết này chưa chắc em về được.

- Thế có năm nào các cô ăn Tết ở đây hay không?

Cô Thu bảo:

- Tết năm nào em cũng về quê ăn Tết. Em đang định bỏ việc ở đây chán lắm. Còn cái Kiểm sáu năm rồi năm nào nó cũng ở lại. Năm nào nó cũng bảo: “Tết này chưa chắc em về được”.

Cô Kiểm quay mặt về phía bóng tối giấu ánh mắt buồn buồn. Tôi không tiện hỏi bèn quay sang nói chuyện về phong cảnh với khí hậu Sa Pa. Tôi cũng hỏi về các món đồ cổ lưu lạc ở trong các gia đình người dân tộc ở vùng cao này. Thế kỷ XVIII Hoàng Công Chất khởi nghĩa ở đồng bằng bị triều đình đánh đuổi lưu lạc lên đây có nhiều gia đình thổ hào đi theo. Đây cũng là vùng buôn bán hàng lậu từ Vân Nam Trung Quốc sang. Vì thế rất có thể có nhiều đồ cổ lưu lạc ở đâu đấy rất quý giá.

  Sáng hôm sau cô giáo Thu chuẩn bị về quê. Lớp học đã nghỉ chỉ có vài ba đứa học sinh thỉnh thoảng đến xin bài về học trong dịp nghỉ Tết. Cô giáo Kiểm dặn dò chúng. Ngày xưa khi còn đi dạy học ở vùng núi Tây Bắc tôi đã hiểu tâm trạng của các thày cô giáo miền xuôi lên dạy học ở miền núi vào những ngày này. Lòng dạ rối bời cứ như lửa đốt sắm sửa quà Tết gói ghém đồ đạc mong chờ kỳ lương cuối cùng trong năm bóng dáng của người thân cứ hiện rõ dần... Ôi tuổi trẻ phiêu lưu và ngốc nghếch! Ngươi chẳng sợ gì gian khó chẳng sợ gì cô đơn dòng máu chảy trong huyết quản của ngươi mới mạnh làm sao những chân trời nào và ánh mắt nào vẫy gọi? Giọng cười nào tiếng hát nào giấc mơ nào của ngươi cũng đều nồng nàn vẻ đẹp thuần khiết hiến tặng cho cuộc đời cho con người... mà người thì bạc như vôi còn đời thì ngắn... Nhưng chẳng sao chẳng sao cả những lớp người kế tục nhau như những đợt sóng bên ngoài trùng khơi...

Cô giáo Kiểm cho một học sinh dẫn tôi đi vào trong bản. Phần lớn các nhà ở đây đều nghèo nhiều người Mông người Nhắng nghiện thuốc phiện. Tôi rẽ vào một ngôi nhà trên núi thấy một người đàn ông người Mông trạc 50 tuổi đang vật vã vì đói thuốc. Chị vợ đang ngồi giã mèn mén. Thấy tôi vào họ cũng mặc kệ. Tôi lân la hỏi chuyện người vợ. Tôi nhìn thấy trong chạn bát có một pho tượng Phật nhỏ bằng đồng đen thui. Pho tượng rất lạ đó là hình hai mặt Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi trên toà sen đặt trên đống tiền và trên đĩnh vàng có mấy chữ Hán tôi chỉ đọc được bốn chữ: “Quan Âm chỉ lộ”. Tượng Quan Thế Âm tôi đã thấy nhiều nhưng tượng được đặt trên một đống tiền và vàng thì chưa từng thấy. Tôi đoán đây là tượng của một thương gia nào đó có thể được đúc riêng nhân kỷ niệm mừng sinh nhật hoặc mừng tân gia cho ai đó. Pho tượng trông rất có thần đường nét tinh tế không cổ lắm nhưng rõ ràng không phải tượng mới. Trong ruột bức tượng có lẽ người ta có yểm bùa và cho vào đó những viên sỏi kỳ lạ lắc lên nghe lạo xạo.

Tôi hỏi người đàn bà tỏ ý muốn mua pho tượng. Người chồng trừng mắt:

- Không bán đâu. Nó là gia bảo đấy!

Tôi không gặng hỏi tôi biết người Mông tính rất dứt khoát. Tôi rất ái ngại vì thấy tình cảnh của gia đình này thật bi đát. Tôi lấy ra một món tiền nhỏ tặng chị vợ. Chị ta không nhận nhìn về phía người chồng rồi nói:

- Không lấy tiền đâu! Nếu có tiền nó lại đi mua thuốc phiện.

Người chồng đứng lên giật phắt lấy số tiền trên tay tôi quát vợ:

- Nó cho mình thì mình lấy chứ!

Chị vợ bối rối không biết làm sao cả. Chị ta nói với chồng:

- Hết gạo rồi! Cũng không có thịt mà ăn Tết nữa!

Người chồng không nói năng gì khoác chiếc áo bông cũ đi ra. Chị vợ bảo tôi vẻ bực mình thực sự:

- Ông hại nó rồi. Nó sẽ đi đến mai mới về!

Tôi nhớ mãi ánh mắt chị. Tôi đã nhìn thấy nhiều ánh mắt của những người phụ nữ đau khổ rất nhiều ánh mắt tê dại vô hồn vô ảnh ta soi vào mà chẳng thấy gì nó không đủ sức lưu lại hình ảnh của bất cứ ai bất cứ vật gì. Không biết những người chồng người con những người thân của họ đã làm những gì để làm cho nó khô kiệt đã làm mất hết đi vẻ tinh anh trong ánh mắt kia? Cuộc đời con người nào nhiều nhặn gì ai trong số chúng ta đã được yêu thương đã được vuốt ve bởi những ánh mắt chân tình tự nhiên không hề vướng bận sân si vụ lợi?

  Tôi quay trở về trường học lòng thoáng buồn. Anh lái xe hôm qua đã quay trở lại chuẩn bị chở cô giáo Thu ra Sa Pa để mua vé tàu hoả về quê ăn Tết. Cô giáo Kiểm và cô bé học trò người Mông ra tiễn họ.

Anh lái xe hỏi tôi:

- Ông có về không?

Tôi bảo:

- Tôi muốn ở lại. Nếu được ngày mai anh vào đón tôi.

Anh lái xe cười:

- Tôi biết ngay mà... Sa Pa là mảnh đất tình yêu mảnh đất giữ người...

  Buổi chiều cô giáo Kiểm và cô học trò người Mông (sau này tôi biết tên nó là Giàng Seo Mẩy) loay hoay dọn dẹp quét dọn xung quanh ngôi trường đón Tết. Cô giáo Kiểm mang cờ ra treo lên cái cột ở giữa sân trường. Chập tối lúc chúng tôi chuẩn bị ăn cơm thì có khách đến. Tôi đoán đấy là chồng hoặc người nhà cô Kiểm. Người đàn ông này tên Công trạc 50 tuổi dáng điệu phong trần như ở nơi rất xa xôi đến. Cô Kiểm mừng rỡ đun nước nóng cho ông ta ngâm chân săn sóc ông ta từng ly từng tí.

Trong bữa cơm ông ta bảo cô giáo Kiểm:

- Anh chỉ ở đây với em đến mồng 1 Tết. Sáng mồng 2 Tết anh phải đi rồi.

Cô Kiểm bảo:

- Tuỳ anh. Anh ở bao lâu cũng được.

- Nếu anh không lên em có về quê ăn Tết hay không?

- Em không biết. Tết này chưa chắc em về được

Ăn cơm xong người đàn ông rủ tôi ra ngoài ngồi hút thuốc. Ông ta hỏi:

- Có phải ông là nhà văn viết cái gì đó về hoa thủy tiên phải không?

Tôi bảo:

- Phải!

Ông ta bảo:

- Tôi có nghe loáng thoáng về ông. Ông là nhà văn nổi tiếng đã đi ra nước ngoài nhiều lần.

Tôi bảo:

- Phải!

Ông ta nói:

- Tôi cũng đã đi ra nước ngoài nhiều lần. Càng đi càng thấy thương nước Việt Nam mình. Đất nước mình thật đẹp dân mình thật tốt chỉ phải cái nghèo.

Tôi hỏi ông ta về quan hệ của ông ta với cô giáo Kiểm. Ông ta thở dài:

- Đấy là người mà tôi yêu dấu vô cùng. Tôi có vợ rồi nhà ở Lạng Sơn. Tôi biết Kiểm 3 năm nay rồi. Năm nào tôi cũng về đây ăn Tết. Kiểm đối với tôi đúng là “hồng nhan tri kỷ”. Tôi được một người như thế yêu thương thì chết cũng chẳng oán hận gì.

Tôi hỏi:

- Ông biết cô ấy trong trường hợp nào?

Ông ta bảo:

- Cũng giống như ông. Tôi đi du lịch đúng hơn là tôi đi tìm cái chết. Hồi ấy tôi làm ăn thất bại gia đình tan nát tôi rất chán đời. Tôi lên Sa Pa định trèo lên đỉnh Phan-Xi-Păng tự vẫn. Nhảy vèo xuống núi một cái là xong. Tôi gặp Kiểm Kiểm mang tình yêu đến cho tôi. Kiểm đúng là Quan Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn “save from misfortune and danger”. Tôi biết ơn cô ấy. Tết nào cô ấy cũng đợi tôi.

Tôi bảo:

- Ông có vẻ như một người hạnh phúc.

Ông ta bảo:

- Cám ơn ông. Cũng còn tuỳ thuộc cách nhìn. Từ khi biết Kiểm tôi sống tốt hơn lên. Tôi yêu mến tất cả mọi người tôi làm nhiều việc có ích cho đời. Là nhà văn ông nên viết về tình yêu của người phụ nữ. Họ yêu thương đàn ông chúng ta làm cho thế giới này tốt đẹp lên nhiều.

Tôi hỏi về công việc của ông ta. Ông ta nói:

- Tôi là thương nhân. Tôi buôn bán ở Hồng Kông ở Mỹ. Có lần tôi sang cả Thuỵ Điển. Kiểm như một vị Bồ tát chỉ đường. Tôi buôn bán không phải vì tiền mà vì điều thiện vì quan hệ với con người.

Tôi chăm chú nhìn Công thấy ông ta là người thành thực. Tôi rất ngạc nhiên ngẫm nghĩ mãi về hình ảnh cô Đun-xi-nê bé nhỏ dạy học ở một nơi khỉ ho cò gáy lại là nguồn cảm hứng cho gã Đôn Kihôtê giang hồ quốc tế khiến ông ta làm được những việc động trời. Thế gian này thật diệu kỳ! Trong muôn thứ diệu kỳ thì tình yêu chính là điều diệu kỳ nhất.

  Tôi ở Suối Thầu đến hết ngày hôm sau. Tôi được biết Giàng Seo Mẩy cô học trò người Mông chính là con gái của hai vợ chồng người Mông mà tôi đã gặp. Mẩy ở với cô giáo Kiểm cô bé giỏi tiếng Anh nổi tiếng là một “gai nhí” ở khu du lịch Sa Pa.

Anh lái xe ôm vào Suối Thầu đón tôi. Ngôi biệt thự mà chị Hỷ thuê riêng đã được trang hoàng lộng lẫy. Tối hôm đó chị Hỷ làm tiệc tất niên. Sâm-banh được mở ra ai nấy đều vui vẻ.

Rượu ngà ngà say anh Lai hỏi tôi:

- Chú là nhà văn chú có biết câu “nhà văn là tai mắt của nhân dân” không? Chú viết văn điều gì hướng đạo ngòi bút của chú?

Cháu Quang học ở đại học Duke bang Carolina ở Mỹ ở đấy có khoa viết văn đào tạo các nhà văn tương lai. Rất nhiều người ở các nước khác đến đây học. Khi sang Mỹ tôi đã từng có bài thuyết giảng ở đây. Hôm đó tôi đã nói về sự vô minh của con người và thế giới lòng khát khao của cá nhân tôi với cuộc sống mà Thượng đế ban cho. Hôm đó cháu Quang cũng dự. Đến hôm nay khi nghe anh Lai hỏi tôi bỗng nhớ lại những điều tôi nói hôm ấy thật xa xỉ và phù phiếm thậm chí dối trá. Tôi nói với anh Lai rằng quả thực không phải lúc nào tôi cũng trả lời được những câu hỏi do công việc và cuộc sống đặt ra.

Anh Lai nói:

- Tôi nhớ trong Kinh thánh Chúa đã từng mắng các văn sĩ rằng họ chỉ nhắm miếng ngon khát khao thụ hưởng. Trong các hội đoàn họ ngồi ghế hạng nhất... Chúa không mắng những người làm nghề nghiệp khác. Nghề của chú không phải là nghề nó làm rối tinh trật tự.

  Tôi thấy khó trả lời miếng cơm ăn đắng ngắt. Anh Lai là nhà chính trị anh không biết rằng tôi cũng đã từng làm nhiều nghề kiếm sống. Định mệnh của tôi không phải do tôi quyết định. Tuy nhiên tôi không tranh cãi với anh. Hôm nay tôi là khách mời. Đầu óc tôi vẫn còn đang vấn vương hình ảnh những người sống rất giản dị ở bản Suối Thầu họ không bao giờ đặt ra câu hỏi tại sao thế này tại sao thế kia? Cô giáo Kiểm một cô gái bé nhỏ sinh ra ở biển sống 6 năm trời với các em bé người Mông người Nhắng đồng lương dạy học chẳng đáng là bao; ngồi giữ ngọn lửa tình yêu cho một tay giang hồ dọc ngang trời đất. Rồi hai vợ chồng người Mông nghiện hút họ chẳng bao giờ đi xa khỏi bản của mình...

  Cháu Quang và cháu Vân cho xem những bức ảnh chụp ở bãi đá cổ Hầu Thào. Trên các hòn đá có các hình khắc kỳ dị. Ai đã viết lên đấy? Liệu thời tiền sử có một tay văn sĩ rồ dại nào đi làm chuyện ấy hay không?

Ăn xong tôi về phòng thấy cháu Yên cô gái "ô-sin" đang ngồi ăn cơm thầm dưới gầm cầu thang. Tôi hỏi:

- Sao cháu không ăn cơm cùng với mọi người?

Yên nói:

- Cháu quen rồi!

Chị Hỷ đi ra bảo tôi:

- Lệ ở nhà này là thế. Tôi vốn có “tay” nuôi "ô-sin". Dân chủ thì dân chủ. Nhưng trật tự cần hơn dân chủ. Anh yên tâm đi một mình nó một mâm cũng đầy đủ sơn hào hải vị.

  Sáng hôm sau tôi ra chợ Sa Pa. Anh lái xe ôm hôm trước gặp tôi. Tôi vào chợ mua một bao gạo 50 ki lô và một đùi thịt lợn nhờ anh ta chở vào Suối Thầu tặng gia đình của Giàng Seo Mẩy. Anh lái xe cười:

- Thế này thì nhà này năm nay ăn Tết to rồi!

Tôi thấy vui vui. Chừng mấy năm nay tôi không còn nhiều lòng ham hố “kiếm chác” cho mình nhiều khi cho được người khác cái gì thích hơn được nhận. Tôi không giàu có nhưng cũng chẳng nghèo. Tôi không có nhiều người thân nhiều bạn bè. Tôi đã trót rào quanh tôi hàng rào danh tiếng đấy cũng không phải do ý thức của tôi chủ định rất nhiều các thói đời xô đẩy khiến tôi lâm vào tình cảnh trớ trêu như thế. Nhiều khi tôi rất cô đơn ngay giữa nhà mình. Những bạn bè cũ cũng ngại gặp tôi tôi cố gắng phá đi mặc cảm tự ti vì không thành đạt ở trong lòng họ mà không phá được. Nhiều lần tôi nhớ lại những ngày gian khó thuở tôi còn đi dạy học ở trên miền núi Tây Bắc xa xôi tôi chỉ là một thày giáo tiểu học vô danh tôi như viên sỏi vô danh ở trong lòng suối vô danh nhưng chẳng bao giờ tôi thấy cô đơn trong lòng tôi lúc nào cũng như có một con chim chiền chiện líu la líu lo ca hát những lời vô nghĩa bất tận. Đêm chẳng bao giờ là dài ngày chẳng bao giờ là ngắn. Những ngôi sao xa xôi trên bầu trời giục giã vẫy gọi tôi. Tôi sống tôi sống như cô giáo Kiểm như Giàng Seo Mẩy như người đàn bà Mông kia ở bản Suối Thầu tôi chẳng bao giờ đặt ra câu hỏi tại sao thế này tại sao thế kia... Lúc ấy tôi chưa có ý thức đi tìm ý nghĩa cuộc sống cho mình.

  Ngày 30 Tết Sa Pa vắng tanh vắng ngắt. Tiết trời cuối năm lạnh giá nhiệt độ xuống tới 5 độ. Xung quanh nhà thờ không còn những người bán đồ lưu niệm. Đội quân lái xe ôm cũng đã về nhà. Tôi vào trong nhà thờ thấy có một mình cháu Yên cô gái "ô-sin" của nhà anh Lai đang quỳ gối cầu kinh trước bàn thờ Chúa. Tôi quay ra không muốn làm phiền cô bé ngoan đạo. Lá của những cây báng súng rơi lả tả ở trên mặt đường. Một vài ba khách du lịch nước ngoài lác đác đi bộ dọc trên hè phố. Sa Pa thật đẹp vẻ đẹp dịu dàng. Phía xa xa Phan-Xi-Păng ngọn núi cao nhất được ví như nóc nhà của người Việt Nam thấp thoáng ở trong mây trắng.

  Tôi đi lững thững về nhà. Trước cổng biệt thự tôi ngạc nhiên nhìn thấy người đàn ông người Mông nghiện hút ở bản Suối Thầu mà tôi đã gặp đang ngồi ở đó. Chị Hỷ chạy ra bảo tôi:

- Người này chờ chú suốt cả buổi chiều. Tôi đuổi nhưng lão ấy không đi. Không biết là có chuyện gì.

Người đàn ông người Mông ngồi ủ rũ nhắm mắt lại như người ngủ gật. Trông thấy tôi ông ta đứng dậy mắt sáng hẳn lên. Ông ta hỏi tôi:

- Mày gửi cho tao gạo và thịt à?

Tôi gật đầu. Ông ta bảo tôi:

- Vợ tao rất thích. Nó cám ơn mày!

Thấy chuyện lạ anh Lai và hai cháu Quang cháu Vân cũng chạy ra xem. Người đàn ông người Mông lấy ra trong gùi một bọc vải nhỏ giúi vào tay tôi. Ông ta nói:

- Cái này của mày!

Nói xong ông ta quay đi chẳng chào ai cả. Tôi nhìn theo người đàn ông người Mông bước đi loạng choạng áy náy vì không hiểu làm sao ông ta lại có thể đi được về nhà.

  Chị Hỷ đỡ lấy bọc vải ở trong tay tôi mở ra. Chúng tôi sững sờ vì đấy chính là pho tượng “Quan Âm chỉ lộ”. Tôi không thể tin ở mắt mình càng không ngờ lại có phúc có pho tượng ấy. Mọi người trong nhà anh Lai xuýt xoa ai cũng sờ nắn xem xét không muốn rời tay.

  Buổi tối dưới ánh đèn pho tượng trông thật rạng rỡ. Xem xét kỹ ai cũng thấy rõ ràng đây là một pho tượng quý. Ở dưới đĩnh vàng có hình Thái thượng lão quân đắp nổi và chữ “Bình an lộ”. Ý nghĩa của pho tượng là hãy đi trên con đường bình an lắng nghe âm thanh trong lòng đấy là con đường mà Quan Thế Âm Bồ tát chỉ lối đưa đường. Anh Lai và chị Hỷ áng chừng đây là pho tượng đồng có thể có từ thời nhà Thanh Trung Quốc. Tôi không nghĩ thế bởi xem xét kiểu chữ khắc trên đó thì có thể nó có muộn hơn. Sau phong trào Ngũ tứ và Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc người ta cải cách chữ Hán. Lúc này tinh thần dân tộc của người Trung Quốc lên cao nhiều thương gia xuất hiện cố gắng vươn ra thế giới. Rất có thể đây là pho tượng của một thương gia thành đạt thời ấy. Song đây cũng có thể là pho tượng của một người Việt Nam nào đó làm ra. Tôi đã từng đến xem các lò đúc đồng ở Huế ở Hà Nam ở Hà Nội và rất thán phục nhiều tác phẩm điêu khắc kỳ khu của họ. Muốn biết rõ lai lịch của nó phải chờ khi về Hà Nội hỏi các chuyên gia. Tôi không phải là người chơi đồ cổ những thứ thế này tôi chẳng biết gì.

  Đêm 30 Tết chúng tôi ngồi đón giao thừa. Pho tượng đặt giữa bàn ăn thắp nến. Một bầu không khí thiêng liêng và bình an làm cho ai nấy đều xúc động muốn xích lại gần nhau hơn.

Anh Lai chúc mừng tôi. Anh nói:

- Năm mới “quý vật gặp quý nhân”. Chắc là con đường phía trước của chú sẽ bình an may mắn.

Tôi cười như mếu. Tôi không còn trẻ. Tôi không hy vọng gì nhiều ở phía trước. Với tôi từ lâu “cuộc chơi đã kết thúc rồi”. Tôi ngẫu nhiên có pho tượng này thực sự thâm tâm tôi cũng chẳng cầu. Phúc hoạ thường vẫn đi kèm như hình với bóng. Ý nghĩa phù du của cuộc sống cho đến một lúc nào đó ai cũng hiểu ra. Thường thường hiểu ra thì đã muộn rồi. Trời xanh kia vẫn trớ trêu được mất ở đời có gì quan trọng?

Tôi nói điều ấy với anh Lai chị Hỷ. Ai cũng cười tôi cho tôi là người “bi quan chủ nghĩa”. Ừ thôi cũng được chúng ta hãy sống chấp nhận nhau yêu thương làm sao mỗi ngày ta sống sẽ là một ngày hoan lạc ở đấy chỉ có nụ cười thân thiết và những lời nói chân tình với nhau.

Chị Hỷ lấy tiền ra mừng tuổi mọi người. Chị nói với tôi:

- Nếu chú bán pho tượng thì tôi mua đấy!

Tôi cười. Tôi thấy khó xử. Nếu anh chị thích thì tôi tặng lại “quý vật gặp quý nhân” cũng là một lẽ... Anh Lai trầm ngâm lắc đầu:

- Định mệnh của chú... Chắc là nghiệp chướng gì đây! Chúng tôi không làm thế được!

Mọi người uống rượu sâm-banh chúc tụng nhau rồi đi ngủ. Pho tượng vẫn đặt trên bàn.

  Ngày mồng 1 Tết cả nhà anh Lai với tôi đi dạo phố phường chúc Tết bất cứ ai gặp trên đường. Nhìn thấy gia đình anh Lai ríu rít tôi bỗng giật mình:

- Ngày Tết là ngày đoàn tụ gia đình. Tại sao tôi lại ở đây?

Lòng tôi cồn cào như có lửa đốt.

- Tết này chưa chắc em về được...

Câu nói bâng quơ của cô giáo Kiểm văng vẳng bên tai. Tôi bật cười nhớ lại mấy câu thơ cũ của một nhà thơ mà tôi yêu mến:

 Giang hồ sót lại mình tôi

Quê người đắng khói quê người cay men...

  Tết này chưa chắc em về được

Em gửi về đây một tấm lòng

Ai bảo mắc duyên vào bút mực

Sòng đời mang lấy số long đong

Người ta đi kiếm giàu sang cả

Mình chỉ mơ toàn chuyện viển vông

Khốn nạn tưởng yêu thì khó chứ

Không yêu thì thực dễ như không!...

   Đời người cầm bút xưa nay mấy người thanh thản? Khúc đoạn trường mấy ai hiểu rõ nỗi lòng của mỗi một người?

  Chiều hôm ấy sau bữa cơm ai nấy đều giật mình vì phát hiện ra pho tượng “Quan Âm chỉ lộ” bỗng nhiên biến mất. Tất cả nháo nhác đi tìm. Anh Lai rất bực đập vỡ cả lọ hoa. Không khí ngày Tết trở nên ảm đạm. Thật vô lý quá ngôi biệt thự này có tường bao quanh không ai ra vào. Đồ đạc trong nhà không mất thứ gì. Tại sao bức tượng không cánh mà bay?

  Anh Lai gọi từng người một vào phòng cật vấn. Anh tỏ ra rất bực. Cháu Quang cháu Vân bị xúc phạm phát khóc bỏ đi tối cũng không về. Tất cả nghi ngờ đổ vào cháu Yên cô bé "ô-sin" tội nghiệp. Cô bé gọi tên Chúa thề thốt đủ điều. Chị Hỷ lục soát các túi đồ đạc áo quần của nó. Tôi cố can gián nhưng không làm sao ngăn được sự giận dữ của hai vợ chồng anh Lai.( c

More...