ĐÓN MỪNG PHẬT ĐẢN PL 2555 : Hoa Tâm Trong Vườn Đạo

By MANG VIÊN LONG

                  

              THÀNH KÍNH ĐÓN MỪNG

         NGÀY ĐỨC PHẬT ĐẢN SINH- VESAK 2555

                           

                                 

                                        Một vị hữu tình

                                                không bị chi phối

                                          đã sinh ra ở đời vì lợi ích

                                      vì hạnh phúc cho chúng sinh

                                      vì lòng thương tưởng cho đời

                                           vì lợi ích vì hạnh phúc

                                          vì an lạc cho chư thiên

                                                  và loài người…

 

                                         Đại kinh Sư tư hống

                                               Trung bộ 1

     

      S E N  H Ồ N G

        NỞ GIỮA MÙA TRĂNG…

 

      Bài viết : Mang Viên Long

     

        Ngày Đức Phật Thế Tôn thị hiện đản sanh - PL 2555 lại đến với tất cả  chúng ta - những nguời con Phật trên khắp hành tinh này . Mùa Sen Hồng lại nở giữa ngàn trăng đang ngát hương mầu nhiệm và không ngừng xoa dịu bao nỗi ưu phiền thương đau ; mãi mãi hiến dâng bao niềm hy vọng an hòa cho cõi nhân gian đầy biến động  với lẽ sinh diệt vô thường của kiếp người  nổi trôi mê lầm ;  đã và đang ngời ngời rực sáng trên khắp hành tinh…Hơn 25 thế kỷ đã đi qua – ngày ánh Đạo Vàng  đầu tiên tỏa chiếu ở Ca Tỳ La Vệ vẫn mãi  trường tồn trong muôn triệu trái tim của người con Phật của  cả nhân loại và của muôn loài chúng sinh . Hôm nay và  mai sau.  Sen Hồng sẽ mãi mãi nở giữa mủaTrăng bất diệt trong  tâm hồn mỗi người con nguyện đi theo  con đường an lành giải thoát  của Đấng Cha Lành…

         Cảm nhận được sự thiêng liêng thiện lành của ngày Đức Phật ra đời – Ni sư Thích nữ Diệu Quả đã thành tâm ghi lại xúc cảm qua mấy vần thơ giản dị mà đầy xúc cảm :

           Ngày Phật Đản hiện lên vầng trăng sáng

              Giữa bầu trời tỏ rạng ánh quang minh!

              Quét bóng đen - sạch hết cõi vô minh…

              Dạy nhân loại thực hành theo Bỉ Trí.

              Ngày Đán sanh đấng Từ Bi vô nhị…

              Cứu muôn loài thỏat khỏi mọi đau thương (…) “

                    ( Kính Mừng Ngày Phật Đản )

        Triệu Nguyên Phong trong bài  “Một Khúc Sông Quê “ đã chỉa sẻ niềm hân hoan trong mùa trăng tháng Tư lịch sử:

             “ Tháng Tư

                lễ hội hoa đăng

                Bồ giang ơi! Một khúc sông quê nhà

                Tam giang ôm nước nguồn xa

                Mây giăng đầu núi- mặn mà tình trăng (… )”

           Nhà thơ Nguyễn Khôi cảm tác từ “ Vọng Tiếng Chuông Chùa “ vào một đêm Ban Mê khó quên trong đời thắm đượm đạo vị:

              “ Đêm Ban Mê nằm nghe tiếng gió

                 Vọng tiếng chuông khuya giữa núi rừng

                 Một thoáng ngày xưa - ngàn dặm biếc

                 Trăng vàng sáng mãi cõi lòng tôi (..) “

           Hình ảnh khó quên trong đời có lẽ cũng là đêm Rằm tháng Tư ở ngôi chùa quê thanh vắng nên thơ - cùng nhau vào chùa lễ Phật nguyện cầu an lành cho tất cả - Trần Minh Nguyệt đã ghi lại một kỷ niệm về “ Chùa Quê “ như thế rất sâu sắc :

:

             Rằm tháng Tư em đi chùa – lễ Phật…

                Quy y thiện quả kính dâng hương!

                Chùa quê soi bóng trăng trong sáng

                Pháp nhũ trùm giăng rộng đất trời ! “

          Cùng có chung cảm nhận về hình ảnh “ lễ Phật “ của những  nữ Phật tử  son trẻ chân phác nhân hậu – Tâm Không - Vĩnh Hữu đã xúc cảm ghi lại trong bài “Em Quỳ Lễ Phật “ dài  25 câu thơ- VHT xin trích giới thiệu bốn câu mở đầu:

            Em quỳ rạng rỡ nét vui

               Như sen một đóa vừa ngoi khỏi bùn

               Chắp tay tâm sáng diệu thường

               Như trăng lồng lộng ngát đường quê xưa (..) “

          Nhà thơ Nguyễn Miên Thượng với “ Trăng Sáng Nghìn Xưa “ gồm  5 khổ thơ mới dã ghi lại ngày lịch sử Phật Đản Sanh bằng tấm lòng ngưỡng vọng tri ân – VHTxin chỉa sẻ cùng Bạn đọc 1 đoạn :

            “ Trăng rực rớ khắp Ca Tỳ La Vệ

               Trời tháng Tư ngào ngạt sắc hương hoa

               Cả trần gian như bừng sáng- chan hòa

               Cung nghinh đón Đấng Thế Tôn thị hiện (..) “

         Trần Ba nhìn ánh trăng Rằm tháng Tư cũng cảm thấy có gì khang khác? Trong màu trăng dường như cũng tỏa hương…

          Trăng Rằm vằng vặc muôn nơi

              Dưới trăng - ta dạo nhớ lời Cha xưa…

              Ánh vàng bàng bạc xa đưa

              Màu trăng Phật đản như vừa ngát hương? “

         Hoa Sen đã được ghi nhận như một biểu tượng thiêng liêng mầu nhiệm từ ngàn xưa để hướng tâm về điều thiện lành tinh khiết. Hướng tâm về Phật.  Hoa Sen Hồng cũng vừa được  Việt Nam chọn làm “ Quốc Hoa “.Trong bài “ Cảm Tác Mùa Sen “ - Trịnh Thị Vui đã bày tỏ :

          Tháng Tư sen nở

               Bừng dậy sắc hương

               Không gian reo hát

               Đón mừng Thế Tôn (…)”

          Với bài thất ngôn bát cú - Sơn Bình chân thành ghi lại xúc cảm về “ Rạng Ánh Hào Quang”   mà chính mình đã cảm nhận được nhân ngày Phật đản sinh :

            “   Lành thay! Phật hiện cõi trần gian

                 Nhân loại nương theo ánh đạo vàng

                 Cứu thế - kim ngôn xua khổ lụy

                 Độ nhân – diệu pháp thoát nguy nàn

                 Đạo mầu dẫn lối qua bờ giác

                 Tà kiến dần xa cõi lụy phiền

                 Đuốc tuệ Như Lai soi khắp nẻo

                 Muôn đời còn rạng ánh hào quang “

         Hoàng Hà với  “ Tháng Tư Hoa Nở “  :

               Hoa Tâm nở ngát vườn hồng

                 Tiếng kinh sưởi ấm bao lòng tháng Tư

                  Cành thương đơm trái nhân từ

                  Long lanh mắt Phật ngọt lừ giọng con “

         Nhà thơ Ngô Cang có được phút giây “ Hành Thiền Dưới Bóng Chùa Quê “ trong ngày Đức Phật đản sinh thật đáng ghi nhớ :

            “ Trước cổng tam quan hoa sen nở

               Thoảng thơm giữa nắng tháng Tư xanh

                Hành thiền theo từng nhịp thở

                Phút giât lắng dọng mãi trong anh

        (…) Ta bước đi “ tâm Phật rộng vô bờ “

                Khi nhìn giọt sương trên đóa sen nở trắng

                Hương thơm sắc thắm

                Giữa ngày Khánh Đản nắng quê hương (..) “

          Từ niềm vui  vô biên  của ngày Đức Phật thị hiện bao tâm hồn đã  nhận được vô lượng pháp nhũ nhiệm mầu để tìm thấy niềm an lạc chứng ngộ tri kiến giải thoát cho cuộc đời khổ đau huyễn mộng của mình. Cấn Sách ( Thích Trung Viện ) đã bày tỏ niềm vui lớn ấy trong bài “ Thong Dong” :

         (..) “ Lỡ chân

                  nghỉ lại Ta bà

                 Tỉnh mơ thức giâc

                  lỡ làng chiêm bao

                  Trời cao

                  vững bước tiêu dao

                  Hướng về quê Phật

                  rạt rào niềm vui (…) “

     Trần Đới với “ Gậy Thiền “ rất ấn tượng :

           “   Gậy thiền

                trên đỉnh

                thong dong

                Bên vành nón

                rạng nắng Xuân

                mới về

                Hoàng y

                từng bước

                đề huề

                Đường mây trắng dựng

                bốn bề hư không (..) “

       Nhà thơ Kiều Trung Phương với “ Rửa “ thật vi tế sâu sắc :

           Quay về

              gội rửa

              thân tâm

              Trong bến đục

              rửa

              mê lầm

              phù hoa

              Soi gương

              ta hỏi chính ta

              Bao mê hoặc

              có thoát ra

              rửa mình ? “

       Nhà thơ Nguyễn Nguyên An với 2 bài tứ tuyệt “ Lành “ & “ Tát “ ngan ngát hương đạo :

            Gắng trồng cây xanh

               Tròn trịa lòng thành

               Chung quy hữu báo

               Dù chỉ mầm xanh “

                &

              “Thời gian sắp cạn

                Nhoảnh lại hư không

                Chắp tay ta tát

                Cạn sạch biển lòng “

       Hòa cùng niềm vui chung ngày Đức Phật đản sanh – Nguyễn Thị Hiệp đã ghi lại cảm nhận về “ những ngày Thầy Thích Tâm Mẫn “ nhất bộ nhất bái” ( tại Quảng ngãi tháng 7 năm Mậu Dần ) với lòng thành kính tri ân :

            “ Bước một bước dần về cõi tịnh

               Lễ một lạy độ tận hằng sa

               Tâm Từ một cõi ta bà

               Nhân gian mát rượi Cà Sa Ánh Vàng (…) “

                        ( Kính Dâng Thầy )

        Vườn Hoa Tâm mùa Phật Đản có được nhiều hương sắc tươi thắm để cúng dường lên Đức Phật Thế Tôn là nhờ vào nhiều bàn tay trí tuệ của nhiều  nhà thơ đạo hữu chung góp. Đây là một mảnh vườn nhỏ xinh xắn . gom góp bao cánh hoa thơ - như những nén tâm hương từ bốn phương   kính dâng mừng ngày Khánh Đản. Người giữ vườn trân trọng cám ơn quý nhà thơ thân hữu đã luôn gắn bó với Vô Ưu - dành cho trang thơ những tác phẩm tâm đắc để Vô Ưu ngày càng xứng đáng với lòng tin yêu của Bạn Đọc…

       Nhân mùa Phật Đản Sinh PL 2555 – chân thành gởi đến quý Đạo hữu quý anh chị em văn nghệ sĩ & gia đình lời cầu chúc : “ Mãi mãi an lảnh trong Tình Yêu Thương Vô Bờ của Chư Phật! “

  Lập Tâm tịnh thất

  Phật đản PL 2555

 Huệ Thành

MANG VIÊN LONG

( Ns Vô Ưu số 44- PĐ PL 2555)

       

More...

VÀI SUY NGHĨ VỀ MỘT CÂU KINH PHAP CÚ @ MANG VIÊN LONG

By MANG VIÊN LONG

 

VÀI SUY NGHĨ VỀ MỘT CÂU KINH PHÁP CÚ

 

Bài Viết :  MANG VIÊN LONG 

 

     Trong kinh Pháp Cú có đến hàng nghìn lời dạy thiết thực cốt lõi về đạo pháp của đức Thế Tôn muốn giáo hóa chúng sanh xa lìa tham đắm sân si lòng ái thủ chấp ngã; để đoạn diệt khổ đau vượt khỏi bể khổ trầm luân vòng sanh tử luân hồi; để được sự An Lạc đi tới con đường Giải Thoát và tri kiến Giải thoát.

      Riêng trong phạm vi nhỏ của bài này chúng tôi muốn nói thêm cho rõ đôi điều về một lời dạy của đức Thế Tôn :

      “Những người hay khuyên răn dạy dỗ can ngăn tội lỗi kẻ khác; được người lành kính yêu bao nhiêu thì bị kẻ dữ ghét bỏ bấy nhiêu”.

      Chúng ta đều nhận rõ được điều này: Trong cuộc sống điều ác bao giờ cũng dễ làm ; còn điều thiện thì khó thực hiện. Cũng như loài cỏ dại mọc hoang cùng khắp; mà cây lúa cây đậu thì phải luôn chăm sóc bón phân đôi lúc cũng chưa được tươi tốt như ý. Phải nhổ cỏ dại sạch lúa đậu… mới phát triển; cũng như phải can ngăn tội lỗi thì điều thiện mới trưởng thành.

      Do vậy kẻ theo đường dữ xấu ác thì nhiều; mà người làm việc thiện tạo phước huệ thì ít. Một định luật thông thường của đời sống mà chúng ta phải sáng suốt thức tỉnh : Điều ác không bao giờ muốn cho điều thiện phát sinh”.

      Ngay sau khi đức Thế Tôn chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác dưới cội cây Bồ đề ở Ưu Lâu Tần Loa (Uruvelà) nước Ma Kiệt Đà (Magadha) trong lúc Ngài còn đang phân vân trước con đường giáo hóa thì bọn Ma Vương đã đến cầu xin Ngài hãy nhập diệt: bọn chúng sợ hãi những gì Ngài thuyết dạy chúng sanh sẽ làm diệt vong cho tà đạo không có lợi cho việc thao túng của chúng sau này. Nhưng cuối cùng lòng Đại Từ Đại Bi đã thắng; Ngài bèn nói : Chân lý sẽ mở rộng cho mọi người. Kẻ nào có tai để nghe thì nghe”.

      Cũng thế ngày nay tuy người tu người làm điều thiện sống và hành theo chánh pháp đang bị kẻ xấu ác ghét bỏ bị xuyên tạc ngăn trở; nhưng noi gương đức Thế Tôn chúng ta hãy vững bước trên con đường Thiện gắng công tu tập theo chánh pháp lấy pháp làm nơi nương tựa kiên cố để đem lại nhiều lợi lạc cho chính bản thân và cho tất cả mọi người.

Huệ Thành

MANG VIÊN LONG

                                            (Giác ngộ số 122 tháng 1-1996)

 

More...

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT TRONG ĐỜI SỐNG & TÁC PHẨM CỦA ĐÀO TẤN / Mang Viên Long

By MANG VIÊN LONG

Đào Tấn ( 1845-1909)

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT

TRONG ĐỜI SỐNG & TÁC PHẨM

CỦA NHÀ VIẾT TUỒNG ĐÀO TẤN

 

Nhà thờ Đào Tấn ( Vinh Thạnh/ Tuy Phước )

 TIỂU LUẬN :

MANG VIÊN LONG

 

          Đào Tấn là một nhà thơ lỗi lạc nhà viết tuồng xuất sắc một đạo diễn tuồng tài hoa và cũng là một nghệ sĩ tuồng tiên phong trong cách tân phát triển nghệ thuật tuồng (hát bội) của miền Trung và cả nước vào hậu bán thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20. Ông đã được tôn xưng là hậu Tổ của ngành sân khấu hát bội có đền thờ ở Gia Hội Thừa Thiên – Huế.

     Đào Tấn tự là Chỉ Thúc biệt hiệu Mộng Mai – khi lên tu ở chùa Linh Phong (tục gọi là chùa Ông Núi) có thêm đạo hiệu là Mai Tăng; sinh ngày 27/2 Ất Tỵ (Thiệu Trị thứ 2- 1845) chánh quán thôn Vinh Thạnh xã Phước Vân- huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định. Sinh quán thôn Tùng Giản – xã Phước Hòa -  huyện Tuy Phước – Bình Định. Ông thi đỗ Cử Nhân năm Tự Đức 20 (1867) trải qua hơn ba mươi năm nhậm chức dưới các triều vua nhà Nguyễn đã từng là Tham Tri Phủ Doãn Tổng Đốc Thượng Thợ (cả bốn bộ) Hiệp Tá Đại học sĩ (1898). Cơ Mật Viện đại thần… Đào Tấn đã viết (và nhuận sắc) hơn 20 vở tuồng ; sáng tác gần 1000 bài thơ từ tản văn liễn đối trong các tập: “Mộng Mai Ngâm Thảo” “Mộng Mai Thi Tồn” “Mộng Mai Từ Lục” và “Mộng Mai Văn Sao”… Ông mất vào ngày rằm tháng 7 năm 1907 phần mộ được an táng tại núi Hoàng Mai gần quê nhà- đúng theo sở nguyện của ông đã định trước ; hưởng thọ 63 tuổi (1).

     Cuộc đời đa tài và đa truân của ông trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động: Quân Pháp từng bước xâm lăng đặt nền đô hộ; triều đình rối ren tha hóa ; xã hội giao thời đảo lộn thiện – ác bất phân; nhân tâm ly tán ; thì có rất nhiều lĩnh vực để tìm hiểu để đào sâu nghiên cứu để tiếp thu ngưỡng mộ ; nhưng với bài ghi nhận ngắn về Đào Tấn hôm nay chúng tôi chỉ xin được đề cập bàn bạc tới một khía cạnh khá tế nhị thường ẩn khuất bàng bạc; đã là động cơ quan trọng tác động tới cuộc đời và tác phẩm của ông – nhất là những năm tháng cuối đời - đó là : “Tầm ảnh hưởng của Đạo Phật trong cuộc đời và sáng tác của Đào Tấn”.

     Khi đang làm quan ở Huế Đào Tấn có lập nhà hát riêng ông viết hai câu đối ở cửa rạp:

 

              “Thiên bất dữ nhàn thả hướng mang trung tầm tiểu hạ

              Sự đô như hý hà tu giả xứ tiếu phi chơn”.

     (Thời chẳng cho nhàn tìm chút thảnh thơi trong bận rộn.Việc như đùa cợt lọ cười chỗ giả chẳng là chơn).

     Ngoại trừ một vài bản tuồng khởi đầu viết theo các quan niệm “Trung quân” “đạo hiếu” trong tầm ảnh hưởng của Nho giáo ; Đào Tấn đã sớm thấy các học thuyết xưa cũ của nhà Nho không còn phù hợp với những biến chuyển đổi thay của thời thế – nhất là không giúp ông giải thoát các bế tắc trong cuộc sống cũng như sáng tác ; Đào Tấn đã bắt đầu chuyển hướng đến một mục đích thiết thực hơn chọn “Văn dĩ tải đạo” để ca ngợi xiễn dương mẫu người cao thượng anh hùng ; đồng thời lên án nghiêm khắc đả kích bọn gian ác bạc tình bạc nghĩa trong hầu hết các kịch bản tuồng của ông. Hai câu đối ở rạp hát “Như Thị Quan” đã ngầm nói lên ý hướng của ông trong việc dùng nghệ thuật để cải hóa làm đổi thay thực trạng xã hội suy thoái đương thời. Quan niệm về “Giả và chơn” rất gần với ý niệm “Hữu vi và vô vi” của pháp không – “thực tướng” của Đạo Phật.

     Ngày còn sống Đào Tấn đã đi chọn sẵn cho mình một cuộc đất để làm mộ ; nhân đó ông  có viết một bài thơ :   

              “Nhàn hướng Mai Phong bốc thị viên

              Thạch đầu cao cứ tiếu vô ngôn

              Mai sơn tha nhật tàn mai cốt

             Ứng hữu mai hoa tác mộng hồn”.

                                           (Ngâm Thảo)

     Bản dịch của Mịch Quang :

              Lên đỉnh núi Mai tìm đất thọ

              Đúng trên mỏm đá lặng yên cười

              Núi mai rồi gửi xương mai đấy

              Ước mộng hồn ta hóa đóa Mai.

     Chỉ  có những người xem thường sự sinh tử xa lìa mọi quyến rũ của trần thế có tâm hồn trong sáng và an tịnh mới có thể viết nên bốn câu thơ tứ tuyệt thanh thoát nhi nhiên vừa nêu trên. Đào Tấn đã ý thức sâu sắc về các tư tưởng cốt lõi của Đạo Phật : Khổ Sinh – Diệt Luân Hồi Nhân quả- Duyên khởi vô thường; nên đã có lần thốt lên: “Viên thiểu phiên đa khuyết; Thượng huyền sơ đáo hạ huyền thời” (Trăng tròn ít khuyết lại nhiều mới thượng huyền đấy đã hạ huyền rồi!) – (Ngu Mỹ Nhân).

     Năm Thành Thái thứ 15 – đang ở vào tuổi 59 ông đã tự đề thơ lên bức chân dung của mình như sau :

              “ Vi tiếu lậu thiên ky

              Phong trần không mãn y

              Linh Phong tam thập tải

              Vị kiến thử tăng quy

              (Cười mỉm lộ máy đạo

              Bụi đời bám đầy áo

              Xa chùa ba chục năm

              Sao chưa về – Sãi lão?)

Lần thứ nhất năm 1884 Đào Tấn xin cáo về quê lấy cớ là cư tang cha và phụng dưỡng mẹ già – Đào Tấn đã lên ẩn tu ở chùa Linh Phong (chùa Ông Núi) ; ngày đêm tham cứu kinh sách và học Thiền; qua bài “Mai Tăng tiểu chiếu” vừa nêu người đọc đã thấy rất rõ “chân dung” của ông: Một lão tăng an nhiên chờ “đủ duyên” để trở về với chốn thiền môn như xưa an lạc và thoát tục.

     Trong thời gian tu học ở chùa Linh Phong không dài (chỉ có ba năm)- nhưng với thời gian ấy một con người có trí tuệ đã kinh qua bao thời kỳ thịnh suy có tâm hồn trong sáng đầy nhân ái như Đào Tấn; chắc chắn những tư tưởng siêu tuyệt của Đạo Phật đã đi vào máu thịt và hơi thở của ông – bởi vì đó cũng là con đường giải thoát tất yếu chân thật nhất mà ông đã khổ công mới tìm thấy được.

     Ông đã viết bài “Đường Luật ngôn chí” ; tỏ bày ý hướng.

              “Thập niên hồ hải quy lai mộng

              Nhất cảnh yên hà tự tại thiên

              Giai sĩ từ bi ninh thị Phật

              Sơn ông danh tự bán nghi tiên”.

     (Mười năm vùng vẫy chỉ là giấc mộng.

     Một cảnh mây ráng là tự tại

     Kẻ sĩ mà từ bi đã là Phật

     Chùa Ông Núi – nửa ngờ ông là Tiên.

8

     Lần thứ hai năm 1904 được về nghỉ hưu vĩnh viễn ; Đào Tấn cũng đã lui tới an nghỉ nơi chốn chùa xưa với một tâm hồn giải thoát an lạc trọn vẹn của một người được dứt lìa hẳn quan trường cuộc thế áo cơm để vui cùng với pháp vị; để “ngửi được mùi hương trong khóm lau” ; để sống an hòa với thiên nhiên cây cỏ sông núi mà tìm lại chính mình.

     Có sự đồng cảm nào tuyệt vời hơn với vạn pháp qua hai câu :

              “Mạc  tương thanh lệ khấp hoa chi

              Khủng hoa dã như nhân sấu!”.

     Bản dịch của Mịch Quang :

              Lệ trong đừng rưới hoa tươi

              Sợ hoa rồi cũng như người héo hon

              Thấm đượm sâu sắc thiền vị:

              “Xuân vân sơn ngoại sơn

              Lê hoa tân nguyệt hạ”.

     (Mây xuân trên đỉnh núi vẫn lơ lửng bay hoa lê nở trắng dưới ánh trăng non).

     Trong bài “Tiểu xuân” ông viết :

              “Niên niên bạch phong xuân quy khứ

              Vô đoạn hưu thi phong hòa vũ”

     (Hết năm này đến năm khác buông trôi cho mùa xuân đi qua ; vô tình lại là mưa và gió). Khắc họa sâu đậm rõ nét hơn trong bài “Lưu xuân” :

              “Thiếc mạc oán đông phong

              Đông phong chánh oán mùng”.

     (Chớ nên oán gió xuân. Gió xuân đang oán ta).

     Tại sao gió xuân lại oán ta? Có ai đã đặt ra câu hỏi và đã trả lời trọn vẹn chưa?

     -Có lẽ chỉ có những tâm hồn thâm thúy đồng điệu hòa nhập được với bao la vũ trụ mới có thể cảm và hiểu hết chăng? Cũng như ông đã nhìn muôn hạt mưa bay mà kêu lên : “Hoa như mang mang; Vạn điểm sầu nhân tự” (Tống Xuân) – (Ngoài trời muôn sợi tơ vương; Giống như ngàn vạn nỗi buồn nhân gian).

     Trong bài “Như Mộng Lệnh” một lần nữa nỗi buồn và cô độc của kiếp nhân sinh trong cõi trầm luân đã bắt đầu cho sự quay lại trở về ; sự giác ngộ mở ra trong ông:

              “Xuân dạ tiểu lâu hàn trọng

              Hoa sáp đảm bình hương đống

              Chúc lụy quán hồng châu

              Thấu nhập nguyệt ngấn song phùng

Như mộng

Như mộng

Hà xứ hiểu chung xuy tống”.

     (Đêm xuân lầu nhỏ lạnh nhiều

     Hoa trong bình mùi thơm đóng băng

     Cây đèn nến khóc rơi những giọt nước mắt hồng vết sáng trăng xuyên vào khe cửa sổ.

     Như chiêm bao

     Như chiêm bao

2

     Tiếng chuông sớm từ đâu theo gió đến)

     “Tiếng chuông sớm” trong “Như mộng lệnh” (1) phải chăng là pháp hỷ tối hậu mà Đào Tấn đã cảm được qua nhiều phen tận mắt thấy “Đa sự xuân phong xung mộng tản” (Lắm chuyện đời gió xuân thường thổi tan giấc mộng)? Trong bài “Tử dạ ca nhi thủ” Đào Tấn cũng đã nghe được pháp âm “Tiếng vọng của non cao” bất khả tư nghì :

              “Triêu tư xuất tiền môn

              Một tư hoàn hậu chữ

              Ngữ tiếu hướng thùy đạo ?

              Phúc trung âm ức nhữ

              Dạ trường bất đắc miên

              Minh nguyệt hà chước chước

              Tưởng văn tán hoán thanh

              Hư ứng không sơn nặc”

     Bản dịch của Vũ Ngọc Liễn :

              (Sớm tinh ra cổng trước

              Chiều toan về bến sau

              Nói cười cùng ai nhỉ?

              Thầm nghĩ nhớ thương nhau

Đêm dài không ngủ được

              Trăng lấp lánh chi nào

              Nghe như xa vang gọi

              Tiếng vọng của non cao).

     Nếu trong thơ Đào Tấn bày tỏ tâm nguyện cảm xúc một cách bóng bẩy ẩn dụ sâu kín; thì ngược lại trong tuồng Đào Tấn lại dàn trải chi tiết cụ thể giản dị để dễ tạo ấn tượng sâu đậm cho người thưởng ngoạn mà phần đông là giới bình dân. Như đã đề cập sơ quát phần trước mẫu nhân vật tiêu biểu trong tác phẩm Đào Tấn là người anh hùng người “hành thiện diệt ác” – người cứu nạn cho muôn người – đó cũng là biểu tượng cho tinh thần “Bi – Trí – Dũng” của Đạo Phật. Hầu như trong tất cả các vở tuồng mà ông đã sáng tác (hay nhuận sắc sửa chữa) cũng đều thể hiện rất rõ lời Chư Phật dạy :

 ( Xem Tiếp Trang Sau )

More...

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT TRONG ĐỜI SỐNG & TÁC PHẨM CỦA ĐÀO TẤN / Mang Viên Long

By MANG VIÊN LONG

 

alt

 (Ngôi Mộ của Cụ Đào Tấn )

ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT

TRONG ĐỜI SỐNG & TÁC PHẨM

CỦA NHÀ VIẾT TUỒNG ĐÀO TẤN

( Xem Tiếp)

Tiểu Luận MANG VIÊN LONG

 

Cửa Lý Môn/ Vinh Thạnh - dẫn vào nhà cụ Đào Tấn

            “Không làm các điều ác

              Siêng làm các hạnh lành

              Giữ tâm luôn trong sáng

                                  (Kinh pháp cú)

     Để làm sáng rõ biểu dương điều thiện Đào Tấn luôn có những nhân vật phản diện – đó là bọn gian ác bất nhân bất nghĩa luôn chạy theo danh lợi để cho ba độc “tham sân si” lôi cuốn xô đẩy vào chốn tội lỗi đọa đày ; kết quả là đã “gieo nhân nào gặt quả ấy” – phù hợp với thuyết “nhân quả- luân hồi” như một định luật tất yếu không thể  đổi thay.

12

     Trong tuồng “Trầm Hương Các” Đào Tấn cũng đã tiến xa hơn trong việc “Văn dĩ tải đạo” đưa ra hai hình tượng Đát Kỷ. Đát Kỷ – cô gái ngây thơ trong trắng và Đát Kỷ – khi bị hồ ly nhập hồn : Đó là ý nghĩa của lời Lục Tổ Huệ Năng đã dạy : “Tâm chánh là Phật tâm tà là ma”. Lớp tuồng Địa Tạng Vương Bồ Tát tiếp dẫn hương hồn Đát Kỷ thật (đầy đủ phật tánh) đưa về cõi Phật. Hồn Đát Kỷ thật (Tâm Chánh ) hát :

 

              “Thỉnh Phật ngôn hương hồn siêu thoát

              Đoán nhân hoàn một bước một xa

              Ngậm ngùi nhớ mẹ thương cha

              Biết đâu căn kiếp con ra nỗi nầy

              Bồi hồi lướt gió xông mây

              Nam Mô A Di Đà Phật !

              Từ bi xin chứng lòng này đắng cay”

     Trong “Hộ Sinh Đàn” khi Dương Tú Hà tự vẫn nàng đi vào cầu nguyện ở miếu Quan Âm cũng đã được Phật Quan Âm thấu cảm tiếp độ rước hồn về Tây phương ; Phật Quan Âm đã nói :

              “Chi vị tôn giả

              Kim Tú Hà tiết liệt bất di

              Tùng Phật địa thung dung tự tại

              Bất phụ ân vi nghĩa

              Thủ toàn tiết vì trinh

              Dĩ mạo đạt thiên đình

              Đắc siêu sinh  tịnh độ

     Còn với nàng Lan Anh – một hình tượng khác của tấm lòng trong sạch cao thượng nghĩa khí khi lưu lạc gặp hoạn nạn ; phải sinh nở giữa rừng – Đào Tấn cũng đã cho “Thần phái Hộ thai sứ giả” đến cứu giúp chúng ta có thể suy biết vị “thần Hộ thai” ấy chẳng phải là ai khác mà chính là hóa thân của Bồ Tát cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm :

              “Hộ thai sứ giả !

              Truyền sứ giả đăng đàng

              Cấp thích ngô thần mạng

              Vả Trần thị một người hiếu hạnh

              Cùng Tiết gia giữa cuộc gian nan

              Thai sản rày đương lúc lỡ làng

              Anh linh phải hết lòng giúp đỡ…”.

     Tương tự như đã dẫn lớp “Hoàng Phi Hổ nằm miễu” thấy hồn Giả Thị hiện về báo tin nguy bảo chàng lánh nạn tránh được cơn nguy biến; chúng ta càng thấy rõ hơn một quan niệm đạo đức phổ biến là “ở hiền gặp lành” hay “người ngay luôn có kẻ giúp” – đó là bước khởi đầu của thuyết “nhân quả” và “duyên khởi” trùng điệp nhiệm mầu. Chỉ có người có tâm thành trong sáng hành thiện mới có sự thông đạt vi diệu với cõi khác như Hoàng Phi Hổ…

     Ở một lớp tuồng khác mẹ của Đổng Kim Lân đã nói với con lời nói thấm đượm nghĩa tình chứa chan tình Đạo :

 

              “… Mẹ đã dạy con hoài con không nhớ sao?

              Tử sinh hà túc toàn

              Tu tri tử nhật thị sinh niên…”

     (Tử sinh đừng tính toán con nên nhớ ngày mẹ chết tức năm sinh) – (Sơn Hậu).

     Ý thức cao cả của hàng Bồ Tát hàng Chư Thánh “Nguyện sát thân ngõ đặng thành nhân” (Nguyện xả thân để được làm Người) (Khuê Các Anh Hùng) ; cũng đã được Đào Tấn ca ngợi soi sáng cho những tâm hồn còn u tối mê lầm ; trong nhiều tác phẩm tuồng của ông. Trong các tác phẩm do ông sáng tác có thể kể đến các tuồng đã thấm đượm sâu sắc nhất tư tưởng Đạo Phật – và cũng là những vở tuồng hay nhất ; đó là : Diễn Võ Đình Trầm Hương Các Quan Công Hồi Cổ Thành Hoàng Phi Hổ Quá Giới Bài Quan Hộ Sinh Đàn. Đào Tấn đã cải biên nhiều tuồng tuy nhiên chỉ còn lưu lại bốn vở tuuồng được coi là tiêu biểu : Sơn Hậu Khuê Các Anh Hùng Đào Phi Phụng và Ngũ Hổ Bình Liêu.

     Trong một bài tham luận về Đào Tấn nhan đề “Đào Tấn qua Thơ từ và Kịch bản tuồng(1). Ông Hồ Đắc Bích đã xác nhận : “Văn thơ và tuồng của Đào Tấn chưa tìm được hết công tác dịch thuật tác phẩm của Đào Tấn cũng chưa làm được bao nhiêu ; vì vậy mà sự phân  tích đánh giá Đào Tấn ở  đây chỉ  là bước ban đầu”. Cũng trong bài viết này ông đã khẳng định : “Đào Tấn là một nghệ sĩ yêu nước là một nhà soạn tuồng xuất sắc đã dựng nên những tác phẩm đầy tính nhân đạo góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa dân tộc…”.

     Ở bài viết về Đào Tấn hôm nay chúng tôi chỉ muốn khơi dậy mở ra một hướng nhìn mới chân xác và đầy đủ hơn để lịch sử văn học mai hậu có thể tiếp cận và đánh giá một cách công bình trung thực về một con người đã gần như cống hiến trọn đời cho thơ ca và tuồng cổ Việt Nam… Với hơn 20 kịch bản tuồng và hơn 1000 bài thơ từ tản văn liễn đối trong gần 40 năm sáng tác việc nêu lên tầm ảnh hưởng của Đạo Phật với Đào Tấn cũng chỉ là bước đầu. Công việc nghiên cứu về ông cần phải được tiếp tục một cách trân trọng và chân xác – mới có thể hy vọng hiểu rõ được tâm nguyện tài năng và công lao đóng góp của ông cho văn học cho Đạo pháp …

                (Kỷ niệm 94 năm ngày mất của Đào Tấn

              -Rằm tháng 7/1907 – 7/2004)

 MANG VIÊN LONG

 

More...

CHUYỆN " BỎ QUA " XEM RA ... CÒN KHÓ ! Tạp Bút MANG VIÊN LONG

By MANG VIÊN LONG


CHUYỆN " BỎ QUA "

X e m  R a  C ò n ... K h ó !

Tạp Bút : MANG VIÊN LONG


Mang Viên Long rót rượu mừng thân hữu...
( Ảnh : Nhà thơ-NS nhiếp ảnh Trần Hoa Khá )

             

             Một hôm tôi có dịp đi vào mấy sạp hàng bán áo quần may sẵn  của khu chợ thị trấn để mua vài chiếc áo thun  bỗng nghe tiếng hai người đàn bà cải nhau người đi chợ bu quanh khá đông-Tôi tò mò dừng lại nghe. Chị áo xanh mua của bà áo tím một bộ đồ trẻ em cỡ 6 tuổi cho đứa con trai măc đi dự lễ phát thưởng cuối năm vào buổi sáng. Chiều mang ra đổi lại vì hơi chật so với con của chị nhưng đã lỡ cho con " mặc tạm" ttrong buổi sáng  - chiều mới đem ra đổi được! Bà áo tím dứt khoát không chịu to tiếng sỉ nhục chị áo xanh. Chị áo xanh nổi giận nguyền rủa bà áo tím. Cả hai không ai chịu thua ai! Bà con  góp ý hòa giải để tránh một cuộc ấu đả có thể xảy ra . Chị áo xanh xếp bộ áo quần bỏ vào xách tay - vừa đi vừa hét to vào hàng bà áo tím: " Tôi  " nhịn " bà vì bà lớn tuổi bà là quân ăn cướp ...". Bà áo tím trợn mắt  : " Tao " tha " cho mày- tao " bỏ qua " cho mày- đồ mạt rệp! " - Trong một quán café tôi cũng đã nghe hai chàng trai choai choai gây gỗ suýt choảng nhau ví vài câu nói đùa nhưng nhờ có người chủ quán" anh chị" can ngăn. Cậu tóc dài chỉ vào mặt cậu tóc ngắn: " Tao " bỏ qua " cho mày nếu không tao cho mày một trận" . Cậu tóc ngắn  hằn học " Tao cũng " bỏ qua " cho mày/ tao " tha thứ " cho mày / tao sẽ " tính sổ " với mày sau! " Mới đây thôi  một người bạn xóm giềng của tôi cũng vừa đến thăm- hơn một giờ ông ta đã than thở kể lễ tỏ ra giận dữ về  câu nói thái độ mà ông cho là vô lễ bất hiếu của  cậu con trai ( và vợ của cậu ta) với ông  trong thời gian qua. Nét mặt ông  hầm hầm/giọng nói còn đặc sệt sự oán hận : " Tôi đã " bỏ qua " cho chúng/ tôi  " tha thứ " chúng/Tôi " xả " hết  mọi chuyện để cho chúng tự suy nghĩ ...".  

        Chị áo xanh đã biết " nhịn" rồi. còn nói thêm " quân ăn cướp" . Bà áo tím đã biết  " tha/bỏ qua " rồi còn bồi thêm " quân mạt rệp" ! Cậu tóc dài đã sớm " bỏ qua "nhưng còn đèo theo lời hăm dọa sẽ " cho mày một trận ". Cậu tóc ngắn  cũng đã biết " tha thứ " tuy vậy vẫn còn   hy vọng " tính sổ " trong tương lai....Và người đàn ông xóm giềng của tôi - tuy nghe ông nói sẽ  " bỏ qua/ tha thứ/ xả "-nhưng nhìn dáng vẻ ấm ức giọng nói chưa nguôi cơn giận - tôi khó lòng tin được ông sẽ " bỏ qua " những lỗi lầm của cậu con trai một cách thật lòng.


         Trong cuộc sống thường nhật chúng ta chắc cũng đã nghe nhiều hơn thế hai chữ " bỏ qua/tha thứ/ buông xả" - nhưng sau giây phút " bỏ qua " ngắn ngủi ấy - là một chỗi dài của sự giận dỗi thù ghét ray rức dai dẳng.


          Hai người đàn bà ở sạp hàng bán áo quần chưa thật tình hiểu nhau - trong lòng cả hai chưa nẩy sinh chút  cảm thông chút tình thương yêu chia sẻ nào. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi /chấp vào định kiến của riêng mình mà thôi. Nếu bà áo tím chịu tưởng nghĩ đến cảnh đúa con trai nhỏ  thiếu thốn áo quần đi học vì cha mẹ không  dư dã gì phải tằn tiện  mua cho con một bộ đồ mới để đi lãnh thưởng  vui vẻ với bạn bè ( và sau này măc đi học nữa) - thì đã vui vẻ cho chị áo xanh đổi lại với một sự " thương lượng " hợp tình Chị áo xanh nếu biết minh có lỗi ( dù chỉ cho con " mặc tạm"một buổi/ trả chậm).- nghĩ bà áo tím đã luống tuổi ( đáng tuổi mẹ cô dì của mình) còn " cong lưng" ra làm hằng ngày ở chợ để kiếm sống -mà dùng lời thân tình bày tỏ hoàn cảnh - thì chắc rằng cả hai  sẽ không " tốn nhiều hơi sức" và thời gian để nguyền rũa nhau! ( Và sau đó đều  sẽ được vui vẻ/ thoải mái...).Hai cậu con trai trong quán café đều có chung bản tính dễ nóng giận - háo thắng học đòi thiếu kinh nghiệm sống  của những gia đình chưa làm gương tốt trong việc giáo dục con cháu ( vì nhiều nguyên nhân). Đây là một sự " bỏ qua/ tha thứ" như một ngòi nổ chậm rất nguy hiễm cho bản thân cả hai cho gia đình và cá cho  xã hội nữa! Những vụ thanh toán chém giết nhau vì một " bất hòa nhỏ" trước đó được tạm " bỏ qua"- đã bùng nổ còn nguy hiễm gấp bội - nếu cả hai không có ý thức tự rèn luyện bên cạnh sự giám sát khuyến dạy thường xuyên của các bậc phụ hiynh! Còn " ông bạn xóm gièng" của tôi đây. tuy đã luống tuổi nhưng lòng "chấp" vẫn còn lớn - chỉ vì một lời nói sơ ý. bất cẩn của con mà khổ đau tức giận lâu dài! Nên tuy đã nghĩ đến " bỏ qua/ tha thứ/ xả"-mà vẫn không " xả" được.- tạo thêm sự khổ tâm cho bản thẩn  mình và cho con mình!


               Người dân mình có từ " bỏ qua" rất hay - thể hiện rõ phẫm chất  bao dung độ lượng  rất cần thiết cho mọi người trong mọi hoàn cảnh - nhưng bên cạnh sự " bỏ qua " tốt đẹp ấy - cần có các điều kiện cần và đủ mới tạo được sự an vui cho mình cho người!-Trong Đạo Phật luôn đề cao " Bốn Tâm Lớn" ( Tứ Vô Lượng Tâm) cho người con Phật  tự rèn luyên tu dưỡng trước khi bước vào Đạo để cầu giải thoát an lạc miên viễn : Đó là  Tâm  Từ/ Bi / Hỷ / Xả.. Đoạn đường tiến đến " Xả " cần thiết phải qua  " Tâm Từ" - Có được Tỉnh Thương Yêu trong sáng hồn nhiên chân chính rồi thì mới qua được " Tâm Bi " một cách trung thực đúng nghĩa đúng pháp . Tâm Từ Bi thường  " đi chung" vì khi trong lòng phát sinh tình yêu thương rộng lớn vô chấp vô phân biệt rồi - thì " thương người/ vì người" là hệ quả tất yếu phải đến! Tâm Từ Bi còn cho thấy một nỗi cảm thông  sâu sắc - của người trên với người dưới của người đã " giác" với kẻ còn  mê muội cần được chở che đùm bọc thương yêu....


                Vui mừng với người ( tùy hỷ ) vui vì cảm thông được người- chia sẻ cùng người mọi nỗi khổ đau- giúp  ngừơi được an vui -là " Tâm Hỷ " cao quí của người con Phật có được qua chặng đường  trưởng dưỡng hai tâm " Từ/ Bi " một cách lâu dài...


                 Khi đã có đủ" Ba Tâm Lớn " ( Từ/ Bi/ Hỷ)-thì việc " Bỏ Qua " ( Xả ) mới thành tựu đúng nghĩa! Mới xóa sạch hẳn được  sự giận hờn trách móc thù ghét( vvv) trong lòng mình ( và trong lòng người).. Mới chấm dứt tận gốc mọi  nỗi ray rức khổ tâm sẽ là mầm mống của bao thảm cảnh sau này! " Bỏ Qua " từ sự xúc cảm thương xót chân thành; từ sự vô tư hồn nhiên trong sáng - như nụ cười vô ngại của Đức Di Lặc-không cầu sự đáp trả không điều kiện kèm theo - thành tâm mong muốn cho người trở nên tốt đẹp an vui - thì lúc ấy-sự " Bỏ Qua " mới là " Tâm Xả " đích thực mà Đức Từ Phụ  hằng mong đợi...Mới đem lại lợi lạc cho mình/cho người! Nếu ngược lai thì mọi sự " Bỏ Qua" kia chỉ là lời nói suông cần phải được  tỉnh giác tu sửa ...Nghĩ cho cùng cuộc đời có dài bao lăm - mà oán giận/thù ghét/tranh giành(vv) cho khổ mình/khổ người-triền miên trong nỗi lo toan phiền muộn?

                  Như vậy xem ra chuyện " Bỏ Qua" cũng không dễ- vẫn còn ...khó nhỉ!


MANG VIÊN LONG

More...

NĂM NAY ĐÀO LẠI NỞ Đọc " ÔNG ĐỒ " Của VŨ ĐÌNH LIÊN Tiểu Luiận MANG VIÊN LONG

By MANG VIÊN LONG

 



N Ă M  N A Y  Đ À O  L Ạ I   N Ở...



Tiểu Luận

Mang Viên Long



           Bài thơ " Ông Đồ" được Vũ Đình Liên sáng tác vào khoảng năm 1936 - cách nay đã hơn 70 năm! Đã bảy mươi năm qua - đọc lại " Ông Đồ" chúng ta vẫn còn ngậm ngùi thương cảm cho một thời vang bóng của lớp người cựu học mà bóng dáng "ông đồ" luôn nhắc nhớ để tất cả  phải trài lòng thương yêu kính mến hơn là chế giễu chê bai! Hình ảnh " tiều tụy của một thời tàn" ( Thi Nhân VN-HT/HC) đã được Vũ Đình Liên ghi lại bằng trái tim yêu thương và một tấm lòng hoài cổ sâu sắc của một nhà thơ tài hoa! Đó là một " cái nhìn"-một thái độ rất nhân bản đúng đắn mà cùng thời với Nhà thơ ít ai để ý đến. "Cái nhìn" sâu thẳm  từ tấm chân tình thiết tha rộng mở ấy của Tác giả vẫn còn theo mãi với người đọc cho đến hôm nay...

      Hình ảnh " ông đồ" là hình ảnh của cái cũ cái đang tàn phai đang giẫy chết trước sự đổi thay của cái mới- của thế sự của thời cuộc! Lớp người Nho học đang lui dần vào quá khứ - đã làm xong sứ mạng của mình -  đang dần nhường bước cho phái tân học - cái mới. Nhớ một thời "ông đồ" là hình ảnh luôn được tôn quý là bậc thầy - người hiền trí đã khổ công hướng dẫn dìu dắt bao thế hệ tiến về phía trước - sống chan hòa  trong tình người lẽ đạo- góp phần rất lớn cho những giá trị văn hoc cũng như đạo lý của  dân tộc.

        Đó là thời kỳ " vàng son" của ông đồ có thể nhận thấy rất rõ nơi phố thị mọi miền mỗi dịp xuân về:

       " Mỗi năm hoa đào nở

          Lại thấy ông đồ già

          Bày mực tàu giấy đỏ

          Bên phố đông người qua ..."

        Và mọi người đều đã tỏ lòng ái mộ kính mến ông - nhờ ông viết những câu thơ lời thánh hiền câu đối Tết - để chưng bày trong nhà - xem đó là niềm vui niềm hãnh diện  của phong tục nghinh Xuân đón Tết đã trở thành truyền thống từ bao đời:

        " Bao nhiêu người thuê viết

          Tấm tắc ngợi khen tài

           Hoa tay thảo những nét

           Như phượng múa rồng bay "

         Cái thời "lẫm liệt" xa xưa ấy nay còn đâu? Hình bóng " ông đồ" tuy vẫn còn lây lất đây đó để níu kéo lại thời khắc êm đềm tươi đẹp của quá khứ - nhưng tủi thay! - chỉ còn đó để chừng kiến " Giấy đỏ buồn không thắm/Mực đọng trong nghiên sầu!" - Chỉ với 4 câu ngũ ngôn tứ tuyệt Nhà thơ đã dựng lên một bức toàn cảnh  sự " tiều tụy của một thời tàn"! Bức tranh ấy dầu đậm nét buồn - nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó cái đẹp - cái êm đềm của một thời không thể nào quên!

          " Nhưng mỗi năm một vắng

             Người thuê viết nay đâu?

             Giấy đỏ buồn không thắm

             Mực đọng trong nghiên sầu! "

          Để nói lên nỗi lòng của " ông đồ" - cũng là  của lớp nhà Nho thời ấy - Nhà thơ đã rất tài hoa mượn " Giáy đỏ/ nghiên mực"để gởi gắm! Giấy còn buồn không thắm tươi nữa/ nghiên mực khô đọng im vắng nỗi sầu - thì hỏi lòng người làm sao không sầu thương  luyến tiếc?

           Ông đồ vẫn còn ngồi đây - nơi góc phố chợ nhộn nhịp - nhưng nào có ai hay? Không có đôi mắt nào nhìn ông biết có ông - sự thờ ơ dửng dưng của người người qua lại - đã cho thấy sự bạc bẽo vô tâm của người đời đối với những giá trị xưa cũ đã từng gắn bó thiết tha trong nhiều thé hệ! Đây cũng là một lời trách cứ rất êm nhẹ rất sâu sắc dành cho những ai đang vội vã chạy theo cáí mới như một cái ‘ mốt" cái nhãn hiệu thời trang?

          " Ông đồ vẫn ngồi đây

             Qua đường không ai hay

             Lá vàng rơi trên giấy

             Ngoài trời mưa bụi bay "

       Hình ảnh chiếc lá vàng rơi rụng nằm im lìm trên mặt tờ giấy đỏ không buồn nhặt/ và cơn mưa lất phất đầu xuân ngoài trời lạnh lẽo kia - tô đậm thêm hình dáng " ông đồ" đáng thương nỗi buồn kia đáng chia sẻ. ! Đây là một hình ảnh tượng trưng đẹp  rất hiếm thấy trong thơ thời bấy giờ!

         Xuân lại vế - hoa đào lại nở - nhưng " không thấy ông đồ già" ? Ông đồ ở đâu?- Ông đồ đã chết cùng với sự suy tàn của Nho học! Một thời kỳ đã sang trang mới. Nhưng với Nhà thơ thì không thể đơn giàn như thế : " Những người muôn năm cũ/Hồn ở đâu bây giờ? ". Câu hỏi cho chính mình mà cũng là cho thế hệ kế tiếp ...

         " Năm nay đào lại nở

            Không thấy ông đồ già

            Những người muôn năm cũ

            Hồn ở đâu bây giờ? "

        Không lý giải không tranh luân - qua bài thơ " Ông Đồ" - Vũ Đình Liên đã trải lòng đã bày tỏ những ưu tư tình cảm và thái độ của mình đối với một " vấn đề lớn" thời ấy: Phài sống như thế nào cư xử thế nào với "  cái cũ" - với các bậc tiền bối của mình?. Nhà văn Hoài Thanh-Hoài Chân đã không cường điệu khi nói "...Vũ Đình Liên đã để lại cho chúng ta một bài thơ kiệt tác!(...) Theo đuổi nghè văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ.Nghía là đủ để lưu danh đủ với đời" ( Thi Nhân VN-tr 78/ HT-HC)

Những ngày đón Tết Tân Mão

2011

MANG VIÊN LONG 

     

     Ô N G  Đ Ồ

V ũ  Đ ì n h  L I ê n


Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài

Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa rồng bay

Nhưng mỗi năm một vắng

Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm

Mực đọng trong nghiên sầu

Ông đồ vẫn ngồi đấy

Qua đường không ai hay

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài trời mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở

Không tháy ông đồ già

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

VĐL

L Ã O  T Ú  T À I

V i n h  B a  dịch



Niên niên đào hoa khai

Hựu kiến lão tú tài

Lộ biên trình mặc chỉ

Nghinh xuân nhân vãn lai

Đa khách mãi tha tự

Vô biên thán hảo tai!

Phi long dữ vũ phụng

Nhất bút trung thượng đài

Ai giả tòng niên thiểu

Hà phương tự an bài

Hồng chỉ giảm quang sắc

Hàn mặc nghiễn trung ai

Lào nhân thượng thử địa

Hành nhân bất tri thủy

Lạc diệp hòang hồng chỉ

Thiên không khinh vũ phi

Kim niên đào mãn khai

Một kiến lão tú tài

Thiên cổ nhân hà tại

Hồn hề bất quy lai?

VB

More...

TRANG THƠ HỒ CHÍ BỬU ...NGUYỄN NAM SƠN Giới Thiệu

By MANG VIÊN LONG


 



Thơ Hồ Chí Bửu

ĐỘC ẨM CHIỀU CUỐI NĂM


Ta dụ ta chiều nay ngồi uống rượu

Vì ngày qua đã xỉn tới mây xanh

Ta hư đốn chiều nay còn uống rượu

Bởi vì ngồi mông đít đã tê xanh.

Em có biết mấy đại gia làm toán

Cộng tới cộng lui lòi một villa

Ta dốt nát nên không thèm làm toán

Cứ yêu đời và yêu hết người ta

Em thấy không? Chiều cuối năm độc ẩm

Cũng quẩn quanh một gác nhỏ quạnh hiu

Cũng nhớ em cũng thèm vòng tay ấm

Cũng lẽ loi và buồn hết buổi chiều

Nếu giả sử tình yêu là ly rượu

Tay cầm ly - chưa uống đã say rồi

Bởi tình yêu thì đâu cần giá thú

Vừa chạm vào đã cay xé bờ môi

Và cứ thế trượt dài theo số phận

Ta nhủ thầm lần cuối nữa rồi thôi

Vì bất tài hay vì lưng quá cứng

Nên con đường hoạn lộ ngắm mà chơi

Chiều cuối năm ừ thì sắp qua năm mới

Tống cựu nghênh tân say hoắc cần câu

Thiên hạ hả hê chờ giờ đại lợi

Ta chỉ nhớ em uống rượu quên sầu

Chiều cuối năm và sắp qua năm mới

Tự dỗ mình còn dài lắm cuộc chơi

Tự dặn mình thôi đừng đùa với lửa

Một chút thôi - rượu lạt cũng quên đời..

ĐẦU HÀNG ..



Em trung kỳ trọ trẹ hoài giọng nẫu

Mới quen nhau ta chịu khó lắng nghe

Lúc em giận nói nhanh như chim hót

Nghe kỹ rồi ta cũng phải im re..

"Mẹ tổ choa coái lưu đoài tình oái"

Vậy mà thương đứt ruột cái điệu nầy

Vậy mà vài hôm em không gọi lại

Lòng ta buồn như rừng lá thu phai..

Ta yêu chi cái người trung xứ nẫu

Mê làm chi mà khổ dữ vậy trời ?

Chắc là si nên mình hay lú lẩn

Dính chông rồi nên lòng nhớ không nguôi..

Ai bảo ta không phải là cao thủ

Nên bị liền mấy nhát kiếm em đâm

Ai bảo ta cứ suốt đời với rượu

Trong say sưa hứng nhát kiếm đâm nhầm

Ta không tỉnh vì là tên hiếu động

Hay say tình khi ánh mắt em trao

Chạy không khỏi dù trời cao lồng lộng

Thuyền chông chênh trong sóng mắt ba đào

Tội làm tướng mà giữ thành không chặt

Treo miễn chiến bài gió thổi lung lay

Em hiếu sát quyết bắt ta làm giặc

Ta mở cỗng thành- quỳ xuống- bó tay..

NỖI BUỒN PHƯƠNG CHÂU



Ta buồn như một cành cây chết

Rụng lá rụng hoa rụng cả cành

Sao như ta thấy mình hấp hối

Nỗi buồn bốc khói tận trời xanh

Bỗng dưng ta nhớ mình không khóc

Lâu quá hình như nước mắt khô

Bỗng dưng ta thấy mình cô độc

Nước mắt chiều nay sắp vỡ bờ

Em biết ta buồn như chó cắn

Mà sao đùa giỡn với thương đau

Ừ ta là gã nhiều may mắn

Cách biệt quan hà để nhớ nhau

Có thấy ta buồn như chó chết

Vờ thôi e hãy nói yêu ta

Vờ thôi để thấy tình chưa hết

Ta đứng phương nầy rưng tiếng ca

Em biết ta buồn như thế đó

Mà sao cứ lẳng lặng đứng nhìn

Mà sao có một điều chưa rõ

Em biết nhưng mà e nín thinh

BUỒN THEO MÙA ĐÔNG




Ta lạc lõng bơ vơ ngày chúa nhật

Em đâu rồi

Phố thị cũng buồn theo

Ta ngơ ngẩn

Ngẩn ngơ chiều chúa nhật

Em chưa về

Ta chờ một email

Sao thế em

Nàng Ch thời xưa ấy

Đã xa rời

Bỏ quạnh một dòng sông

Em mất biệt ngoài trùng dương sóng vỗ

Thành phố nào ôm ấp bóng hình em

Cứ bỏ mặc ta với mùa thu lá đổ

Rồi tàn thu bên phố nhỏ không đèn

Mùa đông

Heo may

Mõi mòn nhân đôi chờ đợi

Ta với ta

Thoi thóp tháng ngày

Ta biết em cũng đơn côi lẽ bóng

Cũng mơ màng cái nắng ấm phương nam

Cũng nhớ nhung với trái tim đồng vọng

Chiều quê hương rợp bóng lúa vàng

Chiều nay gió lạnh

Se se mùi heo may

Lại mùa Noel đến

Lá me buồn bay bay

Ta lầm lủi bước theo chiếc bóng

Chiếc bóng ân tình chiếc bóng thủy chung

Suốt một đời lặng thinh đơn độc

Sẽ cùng ta đến chốn vô cùng

Ta thèm khát bờ vai ai trắng mịn

Của những lần hai đứa ở bên nhau

Áo bỏ lại với một vài toan tính

Cho ta mơ nhớ lại mới hôm nào..

Thêm một mùa đông cô quạnh

Lạnh đất trời

Lạnh luôn trái tim côi

Hãy trở lại

Cho tim ta lửa ấm

Trái tim nồng

Giọt máu chảy làm đôi..

VÔ NGÔN



Ta chôn kinh giấu mõ bỏ ẩn cư

Đốt bí kíp hạ đài tịch lạc

Đã là không có gì mà mất mát

Đã là hư thiên hạ vốn mang mang

Huyền thư nào chim báo bão mang sang

Bỏ thọ giới bần tăng đành xuống núi

Hằng hà tội với em là tội cuối

Bởi chân như ai biết được trầm luân

Mỗi con người chỉ một chặng đường xuân

Không tự ngã sao tìm ra giác ngộ

Không thể yêu sao biết tình là khổ

Không an nhiên sao biết được vô ân

Không vị tha sao thấy được huệ nhân

Ai phổ độ cho ai mà chánh quả

Cứ yêu đi và không sao cả

Mở lòng ra trăng gió vẫn hữu tình

Có thiên đàng địa ngục lẫn u minh

Có chan chứa mặn nồng và cay đắng

Có bất biến hữu hình và không tánh

Hãy từ bi hỉ xả ngay kẻ thù

Đời vô thường vô ngã phù du

Quá cảnh giới vô ngôn đại ngã

Từ từ thôi em yêu đừng vội vã

Đường chân không tiểu ngã tịch lương.

GỞI NGƯỜI GIÁP NGỌ



Mười năm đâu đã muộn màng

Mười năm chờ khảy tiếng đàn vô âm

Mười năm một mối tình câm

Mười năm ta nhặt thăng trầm bể dâu

Dẫu sao nàng đã qua cầu

Để ta ôm mối tình đầu thiên thu

                                

Hồ Chí Bửu

More...

ĐÔI ĐIỀU CẢM NHÂN VỀ " HẠT BỤI & HOA QUỲNH" Tập Thơ VÕ NGỌC THỌ

By MANG VIÊN LONG


 

         ĐÔI ĐIỀU CẢM NHẬN VỀ :

        " H ạ t  B ụ i  & HOA QUỲNH"


       B%25C3%258CA+VO+NGOC+THO+CHINH+THUC.jpg

       
       
Tập Thơ Thứ 3

         Của VÕ NGỌC THỌ

         Bài Viết  Mang Viên Long



         

" Hạt Bui & Hoa Quỳnh "  là tập thơ thứ ba của Võ Ngọc Thọ vừa dược nhà xuất bản Thanh Niên ấn hành vào tháng 12 năm 2010. Tập thơ dày 88 trang gồm 52 bài thơ- nhiều thể loại trong đó-thơ tư do chiếm số lượng lớn.Nhà giáo Trần Hà Nam đã viết lời bạt cho " Hạt Bụi & Hoa Quỳnh" và nhạc sĩ Thùy Linh đã phổ thành ca khúc  hai bài thơ " Tiếng Chuông" &  " Vắng "...

          Tôi đã được đọc Thơ  Võ Ngọc Thơ qua hai tập thơ anh gởi tặng ( Tập " Sợi Tóc Và Vầng Trăng" -2002 / " Ươm Mầm Trến Sóng"/2005)-trong tám năm qua ba tập thơ được giới thiệu của Võ Ngọc Thọ - đã cho tôi có được cảm nhận đầu tiên là anh đã có một bước tiến vững chắc nhất quán-trong phong cách riêng của mình.

           Thơ Võ Ngọc Thọ chân phác gần gũi mà thắm đượm tính nhân văn tính giáo dục cao. Làm thơ với VNT như một nhu cầu của tự thân như hơi thở-như hoa đúng mùa phải nở! Do vậy-thơ anh không trau chuốt không đỏm dáng-mà giản dị chân thành. Theo thiển ý-đây là một ưu điểm  của thơ VNT...

           Trong thơ VNT-bên cạnh những cảm xúc sâu lắng bắt nguồn từ tình yêu   gia đình bằng hữu quê nhà (...)-còn có nỗi " phản kháng " khá mạnh của người nghệ sĩ trước cuộc sống. Một phần ba các bài thơ trong HB&HQ được VNT viết thuộc phạm trù biện chứng-lý luận nên chuyên chở được ý tuởng mà hạn chế về cảm xúc! Tôi nghĩ đây là "sở trường" của VNT nhưng nếu lạm dung cái sở trường ấy-thì rất dễ trở thành sở doản!

          Nhà phê bình người Áo-S.Svai-dơ đã có lần phát biểu về thơ như sau: " Cái công thức cao quý nhất của mọi nhà thơ là: Hãy lấy Tình Yêu vô cùng rộng lớn đánh quỵ nỗi đau thương.Và hãy lấy chất nhạc muôn đời khoát lên trên tiếng khóc than của niềm Thống Khổ ". VNT đã và đang nổ lực làm điều ấy!

           " Hạt Bụi & Hoa Quỳnh" là những khúc ca bi tráng là nỗi ưu tư muộn phiền là ước mơ vời xa (...)-nhưng đó là những nỗi sầu sẽ rụng xuống thành Hoa-một ngày nào...!


Tháng 01/2011

MANG VIÊN LONG

More...

HOA TÂM TRONG VƯỜN ĐẠO Nhiều Tác Giả Bài Viết MANG VIÊN LONG

By MANG VIÊN LONG


 

    M Ù A  X U Â N

      

    Á N H  Đ Ạ O  V À N G

     V À T H Ơ...

    NhiềuTác Giả

Bài viết : Mang ViênLong


Lễ Kỷ Niệm Ngày Đức Phật Thành Đạo tại chùa Phi Lai
Hòa Thịnh - Tây Hòa/ Phú Yên


Trước lễ đài Ngày Đức Phật Thành Đạo ( chùa Phi Lai)

         MÙA XUÂN ÁNH ĐẠO VÀNG & THƠ-là chủ đề Trang Thơ của Vuờn Hoa Tâm nhân số đặc biệt kỷ niệm ngày Đức Phật Thành Đạo và đón Xuân Tân Mão-2011.

         Trong những ngày gần cuối năm với bộn bề công việc riêng và chung-nhưng nhà thơ Hạnh Phương đã dành cho VHT  bài thơ " vừa mới viết ráo mực là gởi ngay cho anh"-đã là một khích lệ và đóng góp rất đáng trân trọng của anh  dành cho Vô Ưu. Bài " Đức Phật Thành Đạo" gồm 8 đoạn thơ bốn chữ-VHT xin được trích giới thiệu cùng quý bạn 2 đoạn tiêu biểu nhân ngày vui trọng đại hôm nay:

                  " Sớm nay thức dậy

                     Trong trẻo vầng dương

                     Sáng ánh diệu thường

                     Đất trời rạn rỡ

               (...)Đức Phật thành đạo

                      Cho ta thành ta

                      Bặt tăm sanh tử

                      Trí tuệ thăng hoa! " (...)


          
Cùng với niềm hỷ lạc vô biên ngày Đức Thế Tôn thành đạo và mùa Xuân miên viễn cho đời người đang đến-Trần Minh Nguyệt đã cảm khái Xuân trong niềm vui của chánh pháp bằng bài lục bát " Mai Vàng Vẫy Gọi "

                  " Cuối đông trời chuyễn tiết Xuân

                     Hoa lòng sao mãi trầm luân cõi người?

                     Mai vàng lấp lánh gọi mời

                     Thinh không vang vọng đất tròi lời ru

                     Bụi trần giũ sạch thiên thu

                     Thân tâm một cõi-Chân Như rỡ ràng.."

     

                                                                                                    

      Cành  " Mai vàng lấp lánh gọi mời" gợi nhớ bài tụng của Ngài Hoàng Bá Hy Vân đã đọc trong một buổi thượng đường " (...) bất thị nhất phiên hàn triệt cốt/ tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương"  ( Chẳng phải một phen xương buốt lạnh/ hoa mai đâu dễ ngát mùi hương )-Xuân đến hoa Tâm cũng bừng nở cùng với lời vang vọng của hư không biến pháp giới của chư Phật-thì chỉ trong sát na ấy " bụi trần giũ sạch thiên thu/ thân tâm một cõi-Chân  Như rỡ ràng" là cõi Niết Bàn có thật của đời sống.

            Nhà văn Lam Khê-TN Hạnh Tâm cũng đã ưu ái dành cho trang thơ Vô Ưu " Giấc Mơ Xuân" -một giấc mơ của kiếp nhân sinh hư ảo của vạn pháp vô thường-nhắc nhớ một mùa Xuân miên viễn đang mong chờ tất cả trên con đường thắm ánh đạo vàng phía trước:

                  " Chuyện cũ theo vào trong giấc mơ

                     Buồn vui còn đó-một đời thơ

                     Hoa xuân gối mộng chờ tan dấu

                     Danh lợi phù vân bóng nguyệt mờ!"

           " Khúc Hát Sang Xuân " của nhà thơ Phạm Văn Phương là tiếng lòng thẳm sâu của một tâm hồn  thuần hậu thương dời yêu người-được vang lên cùng mùa Xuân trong ngày vui trọng đại của nhân loại-ngày Đức Phật thành đạo:

                  " Nỗi buồn thì lặn vào trong

                     Niềm vui xin được chia cùng nhân gian

                     Gửi em ánh mắt nồng nàn

                     Gửi đời tiếng hát qua ngàn bể dâu

                     Gửi người thơm thảo đôi câu

                     Trời xanh mây trắng bờ ngâu hoa vàng "

             Hai bài thơ Haiku của nhà thơ Hồng Thị Vinh  chỉ là đôi nét phác họa về " Rừng Xuân" và " Hương Sen" nhưng đã tràn ngập một trời xuân phơi phới của một tâm hồn an lạc và ngào ngạt hương giải thoát :

                     " Bừng đón xuân

                        Rừng hoa dại

                        Đôi bướm vàng "

                                  &

                      " An nhàn phút giây

                         Hoa sen hàm tiếu

                         Dâng đời huơng thơm "

              Nhà thơ Chúc Mai với bài ngũ ngôn tứ tuyệt thật cô dọng thắm đượm đạo vị của một tâm hồn luôn giữ được sự tỉnh giác và yên tịnh trong cuộc sống rẫy đầy khổ đau- và phiền não:

                   " Chuông ngân vang cổ tự

                                                                                         

                       Tỉnh mộng bước qua cầu

                        Nắng phai thành quách cũ

                        Mây trắng trôi về đâu? "

                                ( Tỉnh Mộng )

            Cảm nhân về Xuân của nhà thơ Phan Thành Minh qua " Xuân Nhân Thế"   sự " chia sẻ ấm nồng/ san sớt khổ đau"-đó cũng chính là mùa xuân của ánh đạo vàng :

                   (...) " Xuân tinh khiết vành môi mười sáu

                             nằng thơ ngây ửng nụ anh đào

                             xuân thiện chí gieo mầm kết cội

                             chia sẻ ấm nồng

                             san sớt nỗi đau    " (...)

             Nhà thơ Ngàn Thương với " Tứ Tuyệt Gởi Tây Nguyên " là tấm chân tình hướng về Vô Ưu-đóa hoa Tây Nguyên đang tỏa nồng hương sắc qua bao mùa Xuân :

                      " Hồn Ban Mê dạt dào biết mấy

                         Cả đất trời như cõi sắc không

                         Nghe kinh kệ thấm sâu từ độ ấy

                         Cho mùa xuân cảnh giới thêm nồng "

              " Xuân Tuệ Tâm " của  nhà thơ Tâm Nhiên là nguồn xúc cảm trĩu nặng  triết lý luận giải-nhưng đó cũng là một phong cách của riêng anh- VHT xin giới thiệu một đoạn ( ít luận giải nhất) :

                      
" Cúi hồn dâng tặng bài thơ

                          Là xin trao hết bây giờ trái tim

                          Niềm vui đâu có đi tìm

                          Khi không bỗng nhận từ em mang về (..)"

              Cảm nhận đằm thắm  ân sâu  nặng của " đất Mẹ"-cũng là ân nghĩa của đời sống qua mỗi mùa xuân nhà thơ Lê Bá Duy đã giải bày chân tình nỗi lòng qua " Hoa Tháng Năm"  rất sâu sắc:

                   
"  Năm tháng xanh trong mỗi kiếp người

                       Vườn thơ hoa nở thắm tình tôi

                      Tạ ơn Đất Mẹ nguồn sinh dưỡng

                     Lặng lẽ dâng đời hương sắc tươi "

              Hai bạn Trịnh Thị Vui và  Tình Ngàn Phương (?) thân mến! Bài " Tội Và Phước" của bạn V. dù có tư tưởng lạ-nhưng còn cần phải " xét lại "cho chính xác và phù hợp với chánh pháp -bạn cũng nên giải bày bằng ngôn ngữ thơ. Ba bài thơ của bạn P. thì chỉ đọc được cái tựa đề còn phần nội dung " không đọc được" ( ! ). Bạn viết tay thảo quá-không đủ nét rõ mà

                                                                                                                                                             

thơ thì không thể...mò đóan ý của tác giả được! Nhân đây xin quý bạn gởi bài cho Vô Ưu nên viết tay thật rõ dễ đọc-hay đánh vi tính-nếu viết "  nghệ sĩ" quá chúng tôi không thể biên tập. sử dụng được! Tiếc thay!

             Trong những ngày xuân đầu năm-người Phật tử luôn dành khoảng thời gian quý báu để viếng chùa lễ Phật-nghe kinh. Đây là một nếp sống đạo lý tốt đẹp-Diệu Âm Đức Thọ-đã ghi lại một lần như thế với lời thơ  giản dị chân thành:

             " Hôm qua theo mẹ về chùa

                Áo lam lễ Phật cũng vừa may xong

                                                                                                 

               Kinh " Vô Lượng Thọ " nằm lòng

               Thiền sư thuyết giảng-sáng trong nghĩa mầu!"

           
Và cũng trong những ngày xuân-ngày vui đón chào năm mới mọi người vẫn dành thời gian thăm viếng nhau-nhất là những người thân yêu đã xa cách bấy lâu. Bùi Văn Thọ- với bài " Về Thăm Quê Mẹ" đã ghi lại cảm nhận:

            " (...) Xuân đã về mẹ tôi thêm một tuổi

                       Mùa xuân sang thấy mẹ dáng gầy thêm

                       Con lưu lạc-mắt mẹ thêm mòn mỏi

                       Xin nguyện cầu cho mẹ-mãi hằng đêm..."

           Triệu Nguyên Phong đã nghĩ về người mẹ quê thương yêu qua bài " Lời Gió" - rất xúc cảm:

            " (...) Gian nan cũng một kiếp người

                       Mẹ ơi! Như thấy nụ cười me xưa

                       Búng cơm mẹ mớm sớm trưa

                       Lời ca dao vọng- giấc trưa chớm buồn! "

            Ngày xuân-cũng là ngày gởi tới nhau lời chúc mừng an vui cho một năm mới-bạn Đức Anh đã chân thành tâm sự:

                " (..) Ly trà chung rượu-tình hòa hợp

                        Nét bút vần thơ-nghĩa chứa chan

                        Năm mới chúc nhau lời tốt đẹp

                        Gia đình hạnh phúc-được an khang! "

            Nhà thơ Nguyễn Miên Thượng đã nhìn dòng sông xuân/ là " dòng xuân" đang trôi chảy với lời thơ muợt mà cố hữu của anh:

                 " Bên cầu ngó suốt dòng sông

                    Bóng soi đáy nước mênh mông ráng chiều

                    Gió mùa xuân thổi hiu hiu

                    Vuốt ve cánh én-nâng niu hoa vàng

                    Gói sầu ủ giấc lang thang

                                                                                                           

                  Dòng xuân vẫn chảy mênh mang tháng ngày! "

                                                                                                       

    " Xuân Về Nhớ Mẹ " là nỗi lòng da diết nhớ thuơng của người con lưu lạc tha phương khi mùa xuân dang đến mà bóng mẹ  và quê xưa vẫn còn xa mờ!

Lời thơ là tiếng kêu bi tráng-là tiếng vọng thiết tha tràn đầy xúc cảm mà nhà thơ Kiều Trung Phương lắng lòng ghi lại :

                 " Mẹ ạ! Quê người con đâu biết

                    Xuân về Tết đến-cũng như không

                    Trắng trời đất khách mùa đông tuyết

                    Chùng xuống đời con đến quặn lòng

                                                                                             

                    Hoa cũng vàng-nhưng chẳng là mai

                    Nhớ nhà quay quắt có ai hay?

                    Không người thân thích không bè bạn

                    Rượu đắng chai lòng con-Mẹ ơi! " (...)

              Mùa Xuân-còn có ý nghĩa của sự đoàn tụ sum vầy-hạnh phúc-nhưng với những cảnh đời tha hương thì đó là mùa của thương nhớ xa xót. Bạn Đinh Công Châu đã " Nhớ Quê" với một tâm sự như vậy:

                " Ra đi anh nhớ quê nhà

                   Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

                   Anh đi-nhớ mãi mái trường

                   Nhớ đàn em nhỏ tình vương sớm chiều

                   Nhớ ngày thơ-nhớ quê yêu

                   Nhớ thương dáng mẹ liêu xiêu tháng ngày (...) "

             Để tạm khép lại trang thơ  Xuân hôm nay-Vườn Hoa Tâm xin giới thiệu 2 đoạn thơ trong bài " Hoàng Yến Sắc Trời Xuân Quê Nhà" của nhà thơ Nguyễn Như Tuấn với lời thơ diệu vợi mà cũng rất nặng lòng:

                     " Nhớ thuở bậu trăng mười ba mười bốn

                        Vành vạnh tròn đẫm ướt cả trời xuân

                        Thơ viết nguyên bài sao cứ bâng khuâng

                        Nửa thế kỷ chưa trao tay người nhận?

                                        

                         Dâu hỏi nặng lưng còng nương mái rạ

                         Xuân quê nhà bối rối giọt sương trong

                         Chờ đợi mãi bậu già đi trước tuổi

                         Chống gậy thầm ra cửa đón tin vui..(..)"

            Nhân ngày vui chung của Nhân loại-ngày Đức Phật  Thành Đạo và niềm vui riêng của quê hương khi mùa Xuân đang đến-chúng tôi chân thành gởi đến Quý Nhà Thơ Đạo Hữu Bạn Đọc cùng Gia quyến lời cầu chúc :  THÂN TÂM THỪƠNG LAC & VẠN SỰ KIẾT TƯỜNG NHƯ Ý!

( Tc Vô Ưu số 43/ Xuân Tân Mão-2011)

Lập Tâm tịnh thất

Những ngày vào Xuân Tân Mão/2011

MANG VIÊN LONG

More...

TRANG THƠ KỶ NIỆM NGÀY VÍA BỒ TÂT QUAN THẾ ÂM / Nhiều Tác Giả- Bài Viét MANG VIÊN LONG

By MANG VIÊN LONG



 

V Ừ Ơ N  H O A  T Â M


            TỪ SUỐI NGUỒN YÊU THƯƠNG CỦA

             M Ẹ  K Í N H  Y Ê U...



                           

         Là người con Phật không có một ai là không hướng lòng ngưỡng vọng kính tin vào tấm lòng Đại Từ-Đại Bi của Mẹ Hiền Quán Thế Âm Bồ Tát...Có lẽ đã có nhiều lần trong đời Mẹ Hiền Quan Âm cũng đã dang rộng đôi cánh tay mầu nhiệm yêu thương để chở che cho đời mình vượt qua khỏi những tai ương khổ đau phiền muộn như đôi tay trìu mến của người Mẹ Hiền ruột thịt?

           Cảm nhận được ân sâu nghĩa nặng ấy-người làm thơ đã dành những dòng xúc cảm chân thành nhất dể bày tỏ lòng tri ân nguyện noi theo 12 hạnh nguyện của Mẹ Quan Âm để được sống trong niềm An Lạc và tri kiến Giải Thoát.

           Trần Đình Thân ( Pd Thị Cận) đã tâm sự qua bài thơ "" Mẹ Hiền Quan Thế Âm"-tuy lời thơ chưa sâu sắc mới lạ-nhưng cũng đã nói lên được tấm lòng  thành kính nhớ ơn hướng về Mẹ Quan Âm-rất đáng được trân trọng:

            
               " Quán Thế Âm Quan Thế Âm

                 Mẹ hiền-Bồ Tát muôn phần yêu thương

                 Chúng sanh còn lắm buồn vương

                 Cam lồ Mẹ tưới-mười phương an lành

                 Mẹ hiền là đấng sanh thành

                 Nguyện lòng giữ đạo tu thân trọn đời "


            Bài thơ có tựa đề dài nhất " Con Nghe Tiếng Mẹ Qua Biển Đời Phiền Não" của Tố Mỹ cũng đã bắt nguồn từ xúc cảm vô biên về Mẹ Quan Âm-nhưng đã cho thấy người thơ có một cách diễn tả rất riêng:

              " (..) Thương con muôn nẽo nổi trôi

                    Lạc trong bể khổ luân hồi tử sinh

                     Bổn tâm mờ lưới vô minh

                     Sóng cao phiền não-thất tình phủ che

                     Hải Triều âm tỉnh cơn mê

                     Phổ Đà Sơn Mẹ cận kề bên con "

            Hình ảnh Mẹ Hiền Quan Âm đã thị hiện giữa đời thường-Phạm Phú Công tìm thấy sự " chuyễn hóa thị hiện" ấy qua hình ảnh vị Sư Bà từ bi :

               "   Ánh mắt trẻ thơ chưa tròn một tuổi

                    Ngước hồn nhiên khẩn thiết vị Sư bà

                     Mớm miếng ăn ngọt ngào như thể

                     Mẹ hiền-hay Bồ tát nuôi ta? "

            Bùi Công Toa liên tưởng hỉnh ảnh Mẹ Hiền Quan Âm là người Mẹ hiền máu thịt nhân ngày Vu Lan để tỏ lòng ngưỡng vọng tri ân của một người con Phật:      

                                        

                 " Cam lồ

                    tưới xuống khổ đau

                    Mẹ Quan Âm

                    chợt quyện vào hồng danh

                    Chắp tay con nguyện sống lành

                    Vu lan thắng hội

                     nở cành Vô Ưu "

           Qua bài thơ " Nẽo Về"-Ngô Quang Thi đã thi vị hóa hình ảnh Mẹ Hiền với những vần thơ gợi cảm :

               " (...) Tàn khuya

                       lả bóng trăng quê

                       Chuông hồi thức tỉnh

                       nẻo về là đâu?

                       Trời làm rớt hạt mưa ngâu

                        Lòng thương nhớ Mẹ

                        bạc mầu thời gian (..) "

          Nhà thơ Chúc Mai viết bài thơ " Mẹ Hiền" để dâng tặng cho Sư Bà Diệu Liên-cũng là người Mẹ ruột thit của nhà thơ bằng 4 đoạn thơ thất ngôn tứ tuyệt thật đằm thắm tha thiết. Nhà Thơ đã nhìn "Mẹ" bằng ánh nhìn và tâm hồn của người con Phật hướng vọng về Mẹ Quan Âm :

                " (..)   Mẹ ơi! Mẹ đẹp chi đẹp lạ

                          Vàng y sa vàng cả dáng chiều

                           Tay búp sen tỏa ngát hương yêu

                           Lời dịu ngọt mềm lòng gỗ đá (...) ".

          Với cách nhìn sâu và mới -nhà thơ Hồng Vinh đã nói về tình Mẹ hiện hữu trong tâm hồn mình thật son sắc bằng bài tứ tuyệt bốn chữ thật cô đọng :

                 "    Cho dù vật đổi

                       Dẫu có sao dời

                       Khơi xao biển nổi

                       Thuyền Từ không nghiêng! ".

          Hướng lòng về Mẹ là hướng lòng đến tình thương yêu an lạc-trong ánh đạo vàng mầu nhiệm bao la của chư Phật. Kính tin Mẹ Quan Âm là kính ngưỡng chư Phật mười phương-Trần Minh Nguyệt với bài tứ tuyệt " Ngày Xuân Lễ Phật" đã bày tỏ được niềm hy vọng tin yêu vào cuộc sống bên sự chở che yêu thương vô bờ của Mẹ:

              "  Sáng nay Xuân mở trang năm mới

                  Khoảnh khắc giao thời của núi sông

                  Ước hẹn cùng nhau vào lễ Phật

                  Tình thơm hương khói níu bâng khuâng"

         

                                     

  Hoàng Chinh Nhân trong bài " Ơn Người" đã  nhận được Lòng Từ của Mẹ Quan Âm  để tưởng nhớ đến song thân đang cô độc quạnh quẽ ở quê nhà với tấm chân tình rộng mở:

                " (...)  Nửa đời lo cơm áo

                          Trăng quê lúc khuyết tàn

                           Mẹ cha chừ bạc tóc

                           Nỗi buồn dài héo hon(...)"

          Bày tỏ lòng ước ao được đoàn tụ ở quê huơng Mẹ Hiền Quan Âm để được chiêm bái tu học-Hải Điền đã viết:

               " (...) Giọt trăng rơi trên lá

                          Óng ánh hạt mưa sương

                          Lặng nhìn phương trời lạ

                          Mơ về cõi Tây Phương (..) "

           Võ Bá đã cảm nhận về tiếng "Chuông Vọng" thật êm và sâu:

                " (..) Rằm quê cháu dắt tay bà

                         Lên chùa lễ Phật

                         một tòa khói hương

                         Tiếng chuông qua cửa vô thường

                         Mẹ Quan Âm hiện

                         Mười phương an lành "

            Hướng lòng và tri ân Mẹ Hiền Quan Âm không có gì hoàn hảo ( và cần thiết) hơn là làm theo những hạnh nguyện của Bồ Tát-sống theo lời Phật dạy Có như vậy-người con Phật mới cảm nhận được sự mầu nhiệm của pháp an lạc và giải thoát. Nhà thơ Ngô Cang-đã nhận ra điều ấy trong  " Bài Thơ Tặng Vợ" :

               " Anh cuốc đất

                  cảm thấy mình an lạc

                  Cứ lung tung nghĩ ngợi chỉ thêm buồn

                  Trồng lúa trồng khoai trong ngoài êm ấm

                  Tâm nhẹ nhàng đảnh lễ một hồi chuông(...)"

            Nguyễn Nam trong " Chợ Chiều" cảm nhận về Mẹ thật tự nhiên thắm đượm bao tình :

                " Chợ chiều nắng nhuộm tóc ai?

                   Mẹ còn quảy gánh oằn vai chưa về

                   Thu vàng loáng thoáng bờ tre

                   Lòng con chợt thấy nhớ quê-Mẹ hiền..."

            Chữ "Tu" phải đi đôi với chữ " hành"-tu mà không hành-chỉ là " kẻ đếm bạc thuê " mà thôi! ( vì không đem lại mảy may lợi lạc gì cho mình/ cho đời)-người thơ Đỗ Trong Chí ( 87 tuổi)-đã " Tri Kiến Giải Thóat" :

                 " Nhiếp tâm niệm Phật-nguỵện Từ Bi

                    Sự nghiệp tiền tài chẳng tiếc gì

                                

                   Sanh ký tử quy-đời vốn vậy

                   Tham thì thọ nghiệp chịu sầu bi! "

            Hình ảnh ngôi chùa quê luôn luôn khắc ghi bao tâm tình gắn bó của người con Phật trong suốt quảng đời học Phật-tu hành. Đó là nơi hội tụ -kết tinh tình thương yêu để nuôi lớn con người trong ánh sáng nhiệm mầu của Đạo pháp.. Nhà thơ Hạnh Phương đã có lần tưởng nhớ về ngôi chùa quê làng mình-" Tiên Độ Tự" ( Gia độ/ Triệu độ/ Triệu phong- Quảng trị) bằng nỗi niềm chứa chan-thành kính qua bài thất ngôn bát cú  hoàn chỉnh:

                "  Gấm hoa đất nước buổi thanh bình

                    Chùa cổ trùng tu lại đẹp xinh

                   Triều uốn mái cong long hí nguyệt

                    Sen thơm bảo điên nến soi kinh

                    Ngàn xưa tiên tổ lưu nền móng

                    Hiện thế đàn na tiếp diễn trình

                    Tiên độ quần sanh-Tiên Độ Tự

                     Chùa linh non nước lại thêm linh! "

            Phan Thiếu Anh cảm nhận " Chiều" bằng bài ngũ ngôn tứ tuyệt thấm đượm thiền vị của pháp vô thường - rất sâu sắc:

                 " Trên đê chiều lặng gió

                    Thoảng đưa tiếng chuông xa

                     Lỡ bước chân vướng cỏ

                     Giật mình tháng ngày qua! "

           Hoài Thu với " Giọt Sữa Đời Thường"  từ những cảm nhận hướng lòng về Mẹ thật chân thành :

                  "  (...) Xưa cha bận tảo tần cơm áo

                      Mẹ ru con sữa ngọt quê nghèo

                      Cơm pha sắn-lưng tròng bát cháo

                      Mồ hôi chan cảnh sống gieo neo (...)"

           " Bóng U " ( Bóng Mẹ) và Bóng Quê không thể tách rời nhau trong ký ức kỷ niệm của người thơ Nông Quy Quy. Do vậy/ cả hai  " hình bóng" thân yêu ấy đã quyện vào nhau-để thành bài thơ thương nhớ rất gợi cảm:

                  "  (..)Khói rơm vờn ấm bờ đê

                          Chạm hoa cau trắng-say mê tiếng chiều

                          Cánh cò bạt gió liêu xiêu

                          Bóng U biêng biếc trăm miền quê yêu! "

             Bắt nguồn từ " Tâm Hiếu" ( là Tâm Phật) dành cho những đấng sanh thành-nhà thơ Lê Bá Duy đã kết nên " Hoa Hiếu Hạnh" để được " kính dâng cha mẹ" -bày tỏ nỗi cảm thông sâu sắc và lòng tri ân :

                   " Xưa Nội đau gìa lẫn

                      Mẹ chăm sóc âm thầm

                                  Trang 5

                     Nay Mẹ tai biến liệt

                     Cha phục vụ tận tâm "

             Quy y Tam Bảo-là nương tựa vào ba ngôi cao quý Phật Pháp Tăng để hướng dời mình đến chốn an lành miên viễn-người thơ Huyền Tùng  đã cảm nhận được hình ảnh cao quý của " Nhà Sư" qua vần thơ rất tha thiết:

                    " Sư ngồi

                       gõ mõ tụng kinh

                       mờ trong sương khói lung linh nến đèn

                       Cả đời

                       chẳng biết bon chen

                       Lời kinh vọng cõi thiêng liêng

                       vĩnh hằng »

            Lý Thị Minh Châu với « Còn Lời Nhớ Thương » thật xúc động :

                 «  (..) Bát rau muống

                           Dĩa cà dầm

                 Đậu khuôn kho lạt thành mâm cổ rồi

                        Chén ân chén nghĩa-đầy vơi

                        Nuôi con khôn lớn nên người mai sau (...) «
 

            Bạn Nguyễn Văn Hợp thân quý ! Tòa soan đã nhận đủ thư và 4 bài thơ Bạn gởi. Rất xúc động với tầm lòng chân thành của Bạn dành cho Vô Ưu-và nhất là biết dược Bạn là một Phật tử thuần thành. VHT xin sử dụng 1 đoạn tiêu biểu trong bài «  Ngộ »/ và mong nhận được những bài thơ  viết ngắn gọn hơn/ mới lạ-và không phải là « lời giáo lý lập lại « / mà đã chuyễn hóa qua thực nghiệm đời sống qua trái tim cảm nhận giữa đời thường. Mong được đón nhận sự cọng tác nhiệt tình của Ban nhé ?

               « (..)  Chỉ đến khi ta chợt tỉnh giấc nồng

                   Ta mới hiểu một điều dù giản dị

                    Mọi phiền não bắt nguồn từ ý nghĩ

                     Ý tại Tâm-Tâm tịnh muộn phiền qua (..) »

            VHT xin được tạm khép lại trang thơ-với lời Cầu Chúc nhân kỷ niệm ngày vía  Quan Thế Âm Bồ Tát : «  Nguyện cầu Mẹ Hiền Quán Âm đại từ-đại bi hộ trì che chở cho tất cả được An Lành & Hạnh Phúc trong tình thương yêu vô bờ của Mẹ ! »

Lập Tâm tịnh thất

PL 2554.

Mang Viên Long.
( Ns Vô Ưu số 42/ tháng 10-2010)

  

                    

               

      

              

           

          

  

   

 

               

         

     

              

                        

      

  

      

  

                 

More...