YÊN LAN, CỐT CÁCH MỘT ĐỜI THƠ ( Hồi Ký Kỳ 63-Kỳ Cuối Cùng) Lâm Bích Thủy

Friday, 5th February 2010



ĐÔI LỜI BÀY TỎ:

      Sau gần một năm đăng tải tập Hồi  Ký " VỀ NGƯỜI CHA LÀ THI SĨ"
của Lâm Bích Thủy-Trưởng Nữ của Nhà Thơ Yến Lan hiện đang sống
 và làm việc tại Tp Hồ Chí Minh-đến nay/  Kỳ thứ 63 là kỳ cuối cùng!
      Theo lời của LBT/ Cô sẽ chỉnh sửa sắp xếp lại-để Tập Hồi ký viết về
người Cha thân yêu được hoàn thiện hơn. Theo LBT-điều mãn nguyện
nhất là Cô đã " nói được khá nhiều điều " về" Người Cha Là Thi Sĩ"của
mình-để chia sẻ cùng Bạn Đọc...
       Nguyện vọng sau cùng là mong muốn Tập Hồi Ký sẽ được ấn hành
trong một ngày gần nhất! Cô mong mỏi những Tập Thể, Nhà XB hay cá
nhân " tiếp tay" cùng Cô để ước nguyện  của Cô và Gia đình sớm thành 
sớm thành hiện thực!
        Xin liên hệ số Điên Thoại: LBT : 0835566477 hay 0932735373
        Riêng cá nhân tôi-đã hoàn tất lởi hứa với LBT trước giờ " Ông
Táo Vê Trời" !

MVL


 

 Y Ế N  L A N ,  C ỐT  C  Á C H   M Ộ T  Đ Ờ I   T H Ơ   


   Cả cuộc đời Yến Lan đi nhiều, những chuyến đi hành trang nhẹ tênh, chỉ có tâm lòng sâu nặng với cuộc sống. Những năm cuối đời, không gian của nhà thơ thu hẹp trong căn nhà nhỏ bên cổng chợ thị trấn Bình Định. Nhìn ông thiêm thiếp trên giường bệnh với tấm chăn mỏng, ít ai nghĩ ông đang làm thơ. Đôi tay run rẩy vì chứng bệnh liệt rung, hằng ngày, ông đọc cho người bạn đời, bà Lan những bài thơ tứ tuyệt xinh xẻo như những bông hoa chợt nở ra trong những giấc mơ. Hơn 400 bài thơ tứ tuyệt được ông sáng tác phần lớn vào cuối đời, trên giường bệnh. Bao cảnh đời, tình đời được ông trân trọng, tinh lọc để hiện ra với vẻ đẹp của thứ ngôn ngữ cô đọng, trau chuốt giống như những bức phù điêu được chạm khắc bởi bàn tay của nghệ sĩ bậc thầy. Thơ tứ tuyệt của ông mang đậm phong vị Đường thi song vẫn phảng phất cái không khí mơ hồ bảng lảng những bài kệ của các bậc thiền sư. Ông viết về mẹ trong cái không gian ảo như còn "vang vong tiếng mẹ hò trăng tự thuở nào", những lá trầu chập chờn trong ngọn gió nam nom như những "Thếp ca dao". Ông viết về sự "vô thường" luôn dẫn dắt những người yêu nhau đến trước cảnh chia phôi. Ông viết về niềm vui sống bình dị, nhưng đằng sau cái vẻ rất đời thường ấy ẩn chứa cả một cuộc tự thanh lọc để giữ chất người của chính mình:


                                   
Trưa đọc Nam Hoa Kinh

                                    Tối nằm không hóa bướm

                                    Mừng mình chủ được mình


Bài tứ tuyệt cuối cùng bà Lan chép lại không lâu trước ngày ông đi vào cõi vĩnh hằng được ông đặt tên
 
                                Thơ không cùng:

                                    Ngày tháng soi chung gương chẳng mờ

                                    Bút xoay vần nối rộng hồn thơ

                                    Chỉ thương mái tóc dài vô vọng

                                    Vén mãi chưa thành chuyện ước mơ.

"Chuyện ước mơ của mái tóc dài là chuyện gì vậy? Chỉ có bà Lan biết rõ. Sau ngày nhà thơ Yến Lan qua đời, trong câu chuyện thân tình, môt lần bà Lan nói đến cảnh nghèo cơ cực đeo đẳng suốt cuộc đời vợ chồng nhà thơ. Vào những ngày trọng bệnh, một hôm, nhà thơ Yến Lan nhận được thông báo tài trợ sáng tác của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhà đang túng, có được hai triệu đồng để thuốc thang, ông mừng lắm. Rồi một ngày ông tươi tỉnh nói với vợ. Bà xem tôi làm được 200 bài tứ tuyệt rồi đây. Đủ bản thảo tập thơ rồi! Bà báo cho Hội Nhà văn để các anh em yên tâm về khoản tài trợ. 

    Yến Lan từ nhỏ đã nổi tiếng hoc giỏi. Quan đốc học một hôm đến nhà "xem mặt" cậu học trò nhỏ. Mãi không thấy cậu ra trình quan. Sau mới biết cậu xấu hổ vì không có chiếc quần "tử tế" để ra mắt. Lớn lên nổi tiếng thơ văn, nhưng đành nhìn người yêu đi lấy chồng, vì nhà gái chê "cái thằng ở trong nhà chùa" không môn đăng hậu đối. Rồi nhà thơ gặp người bạn đời, bà Lan bây giờ. Tình yêu của họ trải qua bao thác ghềnh, cũng chỉ vì nhà gái chê chàng thi sĩ ...nghèo. Nếu không có sự dũng cảm của bà Lan, chuyện trăm năm chắc đã không thành. Trong những năm tập kế ra Hà Nội, con đông, lương thấp, không đủ tiền mua sắm giường, nhà thơ bèn mua những thùng gỗ cũ vốn đựng hàng hóa ghép lại thành "giường hộp" Bà Lan nhiều năm là quần áo cho chồng bằng một cốc nước nóng. Sau nhà thơ tự tạo ra chiếc bàn là dùng than làm bằng một mảnh bom bi cưa phẳng, Quai làm bằng đoạn tre. Vẻ ngoài phong lưu cùng vẻ đẹp của những bài thơ tinh tế, ngôn ngữ được mài giũa trau chuốt...làm người đời dể quên đi cái gian truân đời thường mà nhà thơ phải tự vượt qua. Nhà tuy nghèo túng nhưng tấm lòng nhà thơ luôn rộng mở với bầu bạn. Trong những năm gạo thịt còn "tem phiếu" nhà thơ Quang Dũng thỉnh thoảng vẫn nhận được từ tay bà Lan vài ký gạo "nhín". Ngày nhà thơ Chế Lan Viên cưới vợ - người vợ trước-mặt dù bản thân lận đận chuyện vợ con chỉ vì.. nghèo, nhà thơ Yến Lan vẫn "chạy" cho bạn 100đồng Đông Dương để lo việc hôn lễ. Những ngày đầu CM Tháng Tám, người bạn thơ gặp rắc rối, nhà thơ Yến Lan với tư cách Ủy viên văn hóa huyên An Nhơn biết rõ bản chất sự việc đã đứng ra bảo lãnh, tránh cho bạn một sự hiểu lầm ...

Những chuyện như vậy có lẽ ít người biết đến.

   Dường như ý thức về sự vô thường của đời sống đã làm cho nhịp thơ ông chùng lại, dùng dằng, khắc khoải ..để có thể cảm hết được mọi lẽ sâu xa của cuộc đời này. Binh Định 1935 được nhà thơ viết vào năm 20 tuổi. Bài thơ còn ít người được biết đến, mà lẽ ra nó phải có mặt trong những tuyển thơ lớn của Việt Nam. Cho đến nay, Binh Định 1935 mới chỉ được biết đến qua một vài câu trích để minh chứng cho sự ra đời "cách tân" của thơ Việt Nam



            -Thuyền bồ câu nghiêng buồm trắng trôi ven

-Trên đài trán thơ hằng lên vọng nguyệt

-Trăng còn nương thuyền nhạc khuất trong sương

-Lan can đỏ xuống dần từng bật bật

-Hồn cuộn dần bật bật khói hương xây

-Hoa tư tưởng phân thân chiều gió trải

-Hồn tôi loãng trên bệ vàng thếp chảy


Bình Định mà nhà thơ yêu mến là một Bình Đinh đa tầng, đa hương sắc, hướng vào đâu ta cũng bắt gặp ánh lấp lánh của vẻ đẹp được tinh lọc qua nhà thơ.

   Trong cuộc đời sáng tác của mình, nếu Bến My Lăng là cái bến trong tâm tưởng của nhà thơ, là nơi khai mở những con đường mới "miền đất hứa" (dù chỉ trong mơ), Binh Định 1935  là ngọn cổ tháp sừng sững lưu giữ những vẻ đẹp của non nước, thì thơ tứ tuyệt giống như những tác phẩm nghệ thuật, những bức tượng, những phù điêu được chạm khắc điêu luyện, tinh xảo đặt bên cạnh ngọn cổ tháp tạo nên "một bảo tàng văn hóa" mang phong cách rất riêng của Yến Lan.

   Dường như nhà thơ đã tiên cảm một ngày nào đó cảnh chia lìa cũng sẽ đến khi ông thốt lên trong bài Binh Định 1935: "Không được sống xin cho cùng được thở/Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi..Trời Binh Định có thương em lẻ chiếc?" Khi biết cuộc chia lìa sắp tới, lần đầu tiên tiên trong cuộc đời ông hỏi vợ:  "Tôi đi rồi bà sống ra sao?"                                                                 

Bà Lan trả lời:  "Tôi hưởng lương trăm mốt một tháng. Ông đi rồi...

Ông nằm lặng đi, lần đầu tiên chạm vào cái nghèo cái khó của người bạn đời khi không có mình chia sớt. Và song nước Bến My Lăng dường như cũng run rẩy trào lên theo.                                   

 Từ Quốc Hoài

 

                                Lời tựa thơ Yến Lan  

     

" Cảm ơn các anh ở nhà xuất bản Văn học đã cho tôi viết mấy lời giới thiệu. Sách ra trong loại văn học hiện đại này thường không có tựa bạt. Ngoại lệ tôi được hưởng này không phải vì anh Yến Lan nguyên là biên tập viên đắc lực của nhà xuất bản hay là vì tôi là cộng tác viên lâu năm. Nhưng mà Yến Lan năm nay lên lão. Bảy mươi tuổi rồi nhà thơ có cái tên thanh xuân ấy. Tuổi nào chả tuổi thế mà cái tuổi bảy mươi lại có tên là cổ lai hy. Dữ dội lắm, Xuân Diệu gắng thế cũng chỉ 69 thôi! Cho nên phải cổ vũ nhau nhiều. Biết bao nhà văn lớn trên thế giới lại nở rộ vào lúc 70, 80. Chớ nhìn mái tóc nhau để kết luận là bộ não của người này hay người khác đã làm xong sứ mạng của nó. Cái tuổi trong văn học tính theo một cách khác. Làm sao tôi không giới thiệu Yến Lan hoặc làm sao giới thiệu Yến Lan lại không phải là tôi nhỉ. Hai chúng tôi lớn lên giữa thành Bình Định, dắt dìu nhau đi những bước đầu trong văn học đúng hơn là Lan dắt dìu tôi, vì tôi thua Lan 4 tuổi, học dưới Lan 3 lớp, khi Lan đọc cho tôi Gió mùa thu lá vàng rụng bay của Tản Đà thì tôi chưa biết Tản ai . Lan ngâm các câu ca dao: Chiều chiều mây kéo về kinh/ếch kêu giếng loạn thẳm tình đôi ta" Tôi thích say mê nhưng chưa hiểu về kinh là về đâu, giếng loạn là cái giếng gì mà đã có một tập thơ tên là "Giếng Loạn" Nhớ cái đêm nhà tôi trong thành đã sập rèm, tắt đèn đi ngủ, thì Lan ngoài phố chạy vào gọi dậy, dúi cho tôi một quyển sách, bảo:"đọc đi rạng sáng mình vào lấy. Số là xe hàng hay đậu ngủ trước chùa Ông nhà Lan, Lan mượn đọc, đọc xong nghĩ ngay đến việc truyền giáo cho bạn mình. Không những tôi mà hai chị tôi cũng chong đèn ngốn quyển sách ấy trong đêm. Gà gáy lần đầu đã thấy Lan vào lấy sách cho kịp khách lên đường . Chị Ba, chị Tư không làm thơ nhưng nhờ thường đọc sách kiểu ấy  cùng em nên dù nghèo thì nghèo nhưng hai chị cũng thắc lưng buộc bụng cho em 5 đồng 1/10 trong số tiền 50 chục tôi cần có để in cuốn "Điêu tàn" À tập tiểu thuyết đêm ấy Lan đem vào là "Hồn bướm mơ tiên" Bây giờ đọc lại không biết có còn chịu được qua thời gian hơn các sách lãng mạn), nhưng nhờ tình bạn của Lan, nhờ những quyển sách ấy, nhờ hồn, nhờ tiên, nhờ mơ, nhờ bướm      ấy mà tôi đi trót lọt các bước đầu của tôi vao thơ. Đời văn của tôi găp nhiều may mắn hơn các bạn bè . Hàn Mặc Tử chết sớm quá."Đ! Đi! Đi mãi nơi vô định.Tìm cái phi thường cái ước mơ", anh có thể gần với cách mạng. Ở Sài Gòn anh dịch thơ tình của Mác

1936 về Qui Nhơn anh là bạn của anh Nguyễn Minh Vĩ . đảng viên cộng sản. Chính anh Vĩ giới thiệu cho tôi quen Hàn Mặc Tử "cái cậu làm báo ở Sài Gòn mới về, ở cạnh nhà mình"Giá Bích Khê sống giữa ngày nay, thì có đáng gì cái bệnh lao,giờ ta chữa lao như chữa ghẻ. Trong nhóm thơ Bình Định còn nhiều anh em, nếu sinh vào bây giờ, chắc được sinh hoạt trong Hội văn nghệ địa phương, được đi trại sáng tác, được bồi dưỡng chiếu cố rồi cũng thành nhà văn chứ sao! Thế mà còn lại chỉ vài người! Nguyễn Viết Lãm, Phú Sơn, Yến Lan và tôi.Yến Lan có tài, có tài đặt biệt và rất  sớm . Nhưng Lan đâu có gặp nhiều ngẫu nhiên may mắn như tôi, Lan đã phải đương đầu với nhiều khó khăn ở trong cuộc sống. Năm 1937 tôi mới có Điêu tàn. Nhưng năm 1935, khi nền thơ mới còn chập chững Lan đã có nhiều tìm tòi táo bạo. Tả một cánh buồm cô đơn, tìm về nghĩ ngơi trên sóng đảo dịu dàng, Lan viết,   .
 
                        Sầu tam giác buồm cô về lặng nghỉ

Nhịp hoãn hòa đến vỗ đảo xa khơi.

    Tả nắng chiều trải ra như cánh chim trên các trang viên ở Sầm sơn có hòn trống mái Lan viết


            Trống xa mái ngẩn ngơ thơ đá chạm

Chiều bồ câu cánh ủ khắp viên trang

Cánh ủ viên trang, chiều bồ câu, thơ đá chạm biết bao nhóm chữ phối hợp cấu trúc trong cái tương quan kỳ lạ, ngỡ như mới được viết hôm qua, giữa năm 86 này...Hiện đại mà Việt Nam, mà dân tộc  Một nhà thơ có tài là có thể sử dụng thập bát ban võ nghệ, là như cây xương rồng có hai cực đối lập, gai rất gai mà hoa rất dịu dàng. Lan không phải chỉ có loại thơ điêu khắc kỵ khu vào đá ấy, mà lại có nước chảy đưa ru như nhạc. Gần nửa thế kỷ rồi mà tôi vẫn thuộc các câu này mà có lúc Lan quên:


              
Năm nay cũng có tiếng xe đi

                           Đường cũ cong cong ngõ ý gì

                           Chỉ thấy bàn tay người khớp ngựa

   Ngừng roi chậm séo cánh hoa si

   Và liễu bên đường sống phút mơ

   Xếp hàng nhau như vạn trang thơ

   Chờ bàn tay lạ, bàn tay gió

   Lật rải tung ra tờ lại tờ


   
  Lan sống trong chùa Ông "Đây tôi sống trong xanh nghiêm thánh thất" nhưng ngay từ đầu đã viết được cảnh chào đón Cách mạng trong các gia đình nghèo khổ:


                          
Ôi Bình Định hôm nay chào Cách mạng

                           Lầu cửa Đông có nghe em tâm sự

               Em đi trong tình sử của Lầu thơ

                           Hai chúng ta bước qua đêm quá khứ

               Ngẩng đôi đầu không còn thấy bơ vơ


  
Tôi cũng quên hỏi lại, hai chúng ta đó là ai, Lan và bóng mình, Lan cùng độc giả tri âm, Lan và một mùi hương hay lai Lan và tôi Hai thằng thơ ở cái thành Bình Định nhỏ. Chúng tôi bước khỏi đêm quá khứ, bước được nhờ Cách mạng. NHà anh Nguyễn Minh Vĩ lúc ấy ở dưới chân lầu, anh vừa ở tù ra. Cách mạng đổi đòi cho chúng ta, nhưng phải đâu Cách mạng có phép thần, chỉ đá hóa ngọc, chỉ chì hóa vàng cho mọi người làm văn học...Lan là người, sau Cách mạng, nhờ Cách mạng đã viết không những khác đi mà lại hay hơn. Xưa kia anh chỉ có Bến My Lăng, giờ anh qua bao bờ bến mới, đến tận Công Hòa Dân Chủ Đức. Tầm mắt, đề tài không chỉ quanh quẩn ở thành Bình Định và nỗi cô đơn như cái bóng mình:

Mình đi chỉ bóng cùng theo với mình

  Ngoài cái bóng của anh giờ còn nhiều bóng khác, ngoài anh

Bóng ta cùng bóng núi đồi

Bóng núi nằm im bóng ta day động

 Bóng của anh cũng không còn bị động theo, mà chủ động

Những bài thơ như "Bài ca hợp tác thôn tôi, Mùa xuân lên cao, Lại về tỉnh nhỏ" là các bài thơ hay của Văn học Việt Nam. Phải có con mắt kỳ ảo như Yến Lan, voyant như chữ Pháp nói, mới thấy , mới nhìn được sự vật như vậy. Con mắt của Lan không chỉ có khả năng hư ảo hóa sự vật làm cho nó lung linh, lấp lánh, mơ hồ. Mà lại còn có khả năng tả sự vật cụ thể trong từng chi tiết

Giặc về xác giặc đã vùi

Dây dù đã tết làm nôi trẻ nằm...

      Hơn 40 năm trước đây, tôi đã đề tựa cho Bến My Lăng của Lan. Tập thơ chưa kịp in nhưng bài tựa đã đăng trên Tiểu thuyết thứ Năm. Bây giờ về cuối đời mình tôi lại được cái may đề tựa lại cho bạn. Thực ra Lan xứng đáng nằm trong loại tuyển chính thống cùng với Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, Nguyễn Bính kia. Ôi ở đời có nhiều may rủi lắm chứ. Có những câu thơ như nói chuyện bình thường, lại nổi tiếng:

 Đau đớn thay phận đàn bà

Anh đi đường anh, tôi đường tôi.

Nhưng có những câu nhỏ máu ra mà ít người hay.

Có nhiều lý do...

     Nguyễn Nhược Pháp chỉ với chùa Hương và Sơn Tinh Thủy tinh đã không uổng công đi vào bể ấy. Lan à mình bảo Lan rủi! Không, Lan thế mà lại may lắm. Mình thèm viết được một bài "Lại Về Tỉnh Nhỏ", một bài Mùa xuân lên cao, một bài Uống rượu với bạn đồng hương như Lan. Rất đổi thèm.

                                                                               Hà Nội-Hắc Hải , 8-1985

  

                                  
                                                   Chế Lan Viên                                                      

   */  Bến My Lăng tập thơ lừng danh và lận đận

Yến Lan là một trong những nhà thơ đặc sắc của phong trào thơ mới (1932->1945) Tác phẩm mà bạn đọc văn học Viet Nam đặc biệt yêu mến là Bến My Lăng. Bài thơ Bến My Lăng của Yến Lan được Hoài Thanh, Hoài Chân đưa vào tác phẩm Thi Nhân Việt Nam đã chiếm được một vị trí danh dự trong thơ ca Việt Nam, rất nhiều thế hệ bạn đọc say mê, yêu quí và không ít người thuộc lòng cả bài thơ hoặc từng đoạn thơ hợp tâm trạng mình.Và, Bến My Lăng cũng là tập thơ

của Yến Lan thời kỳ tiền chiến. Đương thời tập thơ Bến My Lăng đã được nhiều nhà thơ, nhà phê bình văn học xuất sắc như Lê Tràng Kiều, Chế Lan Viên, Phạm Huy Thái viết bài giới thiệu đánh giá rất cao. Ttrong số đó, bài Bến My Lăng, tập thơ đầu tay của Yến Lan, của Chế Lan Viên in trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm ra ngày 11 tháng 5 năm 1939 đã tạo nên một ấn tượng lớn. Và từ đó, hể nhắc tới Bến My Lăng là người ta nhắc tới bài viết của Chế Lan Viên hoặc nhắc đến tiểu luận văn chương của Chế Lan Viên thì phải nhắc bài Bến My Lăng. Chúng tôi là chỗ quen biết với Lâm Huy Nhuận, con trai nhà thơ Yến Lan, không ít lần trò chuyện, gợi lại kỷ niệm thơ ca trong gia đình, anh đều nói tới ấn tượng bài viết của Chế Lan Viên hằn sâu trong cuộc đời nhà thơ Yến Lan. Sinh thời, nhà thơ Yến Lan coi bài giới thiệu tập thơ Bến My

Lăng là một dấu mốc quan trong trong cuộc đời thơ ca của mình. Và cũng phải nói rõ hơn rằng nhà thơ Yến Lan không còn trong tay văn bản bài viết của nhà thơ Chế Lan Viên. Đối với nhà thơ Yến Lan thì như vậy. Còn đối với nền văn học Việt Nam, bởi một số bài viết ca ngợi tập thơ Bến My Lăng, đặt biệt là bài của Chế Lan Viên rất nhiều người đọc coi như đã có một tập thơ Bến My Lăng của Yến Lan. Thực ra tập thơ Bến My Lăng chưa từng được xuất bản.

    Thời đó, nhóm các nhà thơ Bình Định có một uy tín rất lớn trong đời sống thơ ca Việt Nam.với các nhà thơ tiêu biểu như Hàn Mạc Tử, Quách Tấn, Chế Lan Viên, Bích Khê, Lê Mộng Thu  và cả Yến Lan...Ngoài tập thơ Bến My Lăng dù chưa từng xuất bản mà đã rất nổi tiếng từ năm 1939, Yến Lan còn viết vở kịch thơ "Bóng Giai Nhân" và "Gái Trữ La vào1941. Hai vở kịch thơ này đều khai thác những sự tích giả sử được công diễn nhiều lần và công chúng đương thời rất tán thưởng. Vậy mà cả hai vở kich thơ này đều chưa in thành sách. Ban đọc suốt hơn nữa thế kỷ qua rất mến chuộng tài thơ của Yến Lan, hầu như không còn cơ hội đọc.các tác phẩm giai đoạn tiền chiến của Yến Lan, đặc biệt là tập thơ Bến My Lăng. Chúng tôi, do duyên may, năm 1974, có điều kiện chuyện trò lâu với ông nhân dịp ông vào dự dại hội thành lập Hội Văn nghệ Thanh Hóa. Đó là buổi tối mùa hè, có trăng sáng, ngồi ở sân xi măng nhà riêng chúng tôi, không khí tạo cho người ta nhớ nhiều về quá khứ. Chúng tôi đã hỏi ông rằng: Ngoài bài Bến My Lăng ông còn bài thơ đáng kể nào nữa không? Ông có phần buồn bã tiếc nuối: "Nói là còn nhiều thì các cậu có tin không?-ngưng giây lát, ông thả giọng buồn buồn-Minh đã không còn giữ được những  cái đã viết trước năm 1945..." Chính trong dịp trò chuyện đó chúng tôi được nghe ông kể lại chuyện soạn và diễn vở kịch thơ "Bóng Giai Nhân" với Vũ Trọng Can và Nguyễn Bính. Năm 1941; và mới được nghe ông nói rằng tập thơ Bến My Lăng chính ông cũng không còn giữ được bản thảo, mà tập thơ đó cũng  không dày dặn gì đâu, chỉ hơn hai mươi bài thôi.!..

   Và một phần tư thế kỷ sau kể từ năm 1974 đó, chúng tôi đã có cơ hội tìm được gần 60 số báo Tiểu thuyết thứ Năm (Báo này không thể tìm thấy ở trong nước, kể cả các thư viện và sưu tập cá nhân, chúng tôi có được do một số Việt Kiều ở Pháp tìm giúp) Thật đặc biệt, trên những số báo này, chúng tôi đã thấy một số bài viết giới thiệu tập thơ Bến My Lăng, trong đó có cả bài nhà thơ Chế Lan Viên . Cũng đặt biệt lạ lùng là, chúng tôi có tập thơ Bến My Lăng. Hơn hai mươi bài chúng tôi đọc thấy, liệu đã bằng cái "chỉ hơn hai mươi bài thôi" theo cách nói của nhà thơ Yến Lan chưa? Chúng tôi không giám chắc!Chỉ dám chắc rằng, những bài thơ chúng tôi tìm thấy  là cùng một hơi thơ, một điệu thơ, một ngôn ngữ thơ, một hồn vía thơ với bài Bến My Lăng. Và chúng tôi dám manh dạn nói rằng đã tìm được cơ bản tập thơ Bến My Lăng của nhà thơ Yến Lan

   Đọc những bài thơ in trên báo 60 năm trước, chúng tôi mạnh dạn đánh giá rằng Yến Lan là một nhà thơ tiền chiến đặc sắc, ngay từ khi mới xuất hiện trên thi đàn đã bộc lộ một cá tính độc đáo và một bút pháp dồi dào. Hơi thơ của ông mạnh và sâu lạ lùng. Đương thời Chế Lan Viên đã viết về thơ Yến Lan: "...Người ta thấy sự giản dị của những câu ca dao, vẻ hiền hòa bao nhiêu khúc hát cổ..." Và ông viết về thi sĩ Yến Lan: "Hình như mặt trời sắp mọc-không, hình dung như mặt trăng thì đúng hơn.." Còn Hoài Thanh và Hoài Chân: "Xem thơ Yến Lan tôi mơ màng như đi trong mây mù...dần lâu cơ hồ ngạt thở! Vậy đấy, thơ Yến Lan tiền chiến là một ám ảnh lớn lạ kỳ đến thế Người đọc bị bút lực của ông mạnh mẽ cuốn đi đến mức hòa ngợp vào thơ ông.

    Qua thơ Yến Lan tiền chiến, thấy một tâm hồn da diết yêu cuộc sống. Bởi một tâm hồn mạnh mẽ, thơ ông không mấy khi rơi vào bi lụy như phần lớn thơ ca đương thời. Và tất yếu một tâm hồn như vậy sẽ đón chào Cách mạng tháng Tám một cách hòa hứng, mê say. Ông đã kịp thời tham gia khởi nghĩa cướp chinh quyền ở Huyện An Nhơn rồi trở thành người làm công tác tuyên truyền từ tháng 8-1945. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Yến Lan tham gia công tác văn nghệ kháng chiến ở Bình Định và Liên Khu Năm. Đầu năm 1955 ông tập kết ra Bắc, Thời kỳ này Yến Lan có bước chuyển mạnh về chất, cốt cách thơ khỏe khoắn, ngôn ngữ thơ sắc nét. Những năm trên đất Bắc có khoảng 13 tác phẩm chính của ông đã xuất bản. Ngoài tám mươi  tuổi, năm 1997 ông còn cho xuất bản tập Thơ tứ tuyệt. Đến 5 tháng 10 nhà thơ qua đời tại quê nhà, còn để lại nhiều bài thơ viết những năm cuối đời.

      Di cảo của nhà thơ Yến Lan chắc sẽ được thân nhân của ông cho xuất bản. Rồi độc giả sẽ có nhiều điều kiện hiểu sâu hơn về ông, một nhà thơ sáng tác suốt sáu mươi lăm năm trời. Trên chặn dài 65 năm đó, có chưa đầy 10 năm, kể từ 1945 về trước theo chúng tôi là quan trong bậc nhất.Và đặc sắc nhất của thời kỳ này là tác phẩm Bến My Lăng. Tập thơ mà dường như đi vào lịch sử văn học Việt Nam rồi, dù chưa từng được xuất bản. May thay, như chúng tôi vừa trình bày ở trên cơ hội để tập thơ Bến My Lăng ra đời, hoặc nói chi li hơn là một tập Bến My Lăng gần đủ đã có.Trong  tháng 4-2002 chúng tôi trao đổi với gia đình cố nhà thơ Yến Lan, trao đổi với bạn bè văn chương quan tâm để tiến hành xuất bản tập thơ. Chợt nhớ lại thuở xưa, 1939, có lẽ tập thơ Bến My Lăng chuẩn bị ra đời nên thi sĩ kiệt xuất Chế Lan Viên mới viết:" Hình như mặt trời sắp mọc-không, hình dung như mặt trăng thì đúng hơn. Lại càng thương sao một số phận thơ ca và càng quí yêu hơn một hồn thơ ca Yến Lan tiền chiến!.

             Thúy Vi

LÂM BÍCH THỦY       .